VI | EN
36. Xung quanh tấm bia trong khu mộ dòng họ Vi Văn Định ở Lạng Sơn
tb07

XUNG QUANH TẤM BIA TRONG KHU MỘ DÒNG HỌ VI VĂN ĐỊNH Ở LẠNG SƠN

BÙI QUỐC HÙNG

Hà Nội

NGUYỄN XUÂN DIỆN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

 

Họ Vi ở Lạng Sơn là một dòng họ lớn mà người tiêu biểu nhất là Vi Văn Định - một quan đại thần được triều đình Huế phong tới Hiệp tá Đại học sỹ, thay Hoàng Trọng Phu làm Tổng đốc tỉnh Hà Đông. Xung quanh ngôi mộ tổ của dòng họ Vi đã làm nảy sinh rất nhiều giai thoại mà dân chúng sở tại vẫn truyền tụng những lời đồng dao về kiểu đất quý báu, hiếm lạ này: Lưỡng ngưu ẩm thủy/Bột phát công khanh/Huynh đệ hiển danh/Anh hùng nhất khoảnh. Nếu đây là chính huyệt, thì ngôi mộ này trông thẳng ra Cao Sơn, một hòn núi cao ngất trời mà thiên hạ đồn đại là có một làng Mèo sống biệt lập ở trên núi cao ấy từ đời nhà Trần, khi Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đem quân triều đình đến điều phạt mấy động chúa ở vùng Lĩnh Nam. Ngôi mộ tổ của họ Vi trông thẳng ra ngọn núi Cao Sơn, tựa lưng vào dãy Trường Sơn, tay long, tay hổ là hai dãy đồi thoai thoải chạy dài theo dòng sông Cả, tạo thành một kiểu đất vô cùng quý báu, mà theo lời thuật lại của các bô lão sở tại thì hình như "Bà chúa rừng" đã cố ý để dành riêng cho dòng họ Vi vậy.

1. Thế phả họ Vi do Vi Văn Định chấp bút, lai lịch họ Vi như sau:

“Theo lời truyền lại, họ Vi ta là dòng dõi của Hoài Âm Hầu Hàn Tín đời nhà Hán. Khi Hoài Âm Hầu đã bị Lã Hậu diệt cả họ, thì người vợ lẽ đương có thai. Thừa tướng là Tiêu Hà ngầm đem gửi ở Quan Lệnh Long xuyên là Triệu Đà, và dặn trông nom cho cẩn thận. Sau sinh ra con trai, Triệu Đà nhận làm con nuôi, đặt tên là Nhân, đổi họ Vi, tức là nửa chữ HÀN. Về sau con cháu kế tiếp, làm Tù trưởng ở đất Lĩnh Nam, nhưng đã lâu đời không có phả ký, nên đã thất truyền.

Đến đời nhà Trần, ông Vi Kim Thăng, tự Đình Mật, quán xã Vạn Phần, tổng Vạn Phần, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An, dời đến ở Tây núi Huyền Đinh (thuộc Lục Ngạn, tỉnh Nghệ An). Ông làm quan ở triều Trần, gặp khi Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, ông bỏ quan về nhà. Đến khi người Minh sang chiếm cứ nước ta, Ông cùng con là ông Phúc Hân đem quân theo Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở Lam Sơn, đánh đuổi quân Minh, diệt được Liễu Thăng (ở Chi Lăng, xứ Lạng). Sau khi nước nhà đã được bình định, ông được phong làm Thảo Lộ Tướng quân Tả Đô đốc, Mật Quận công, còn được phong là Đô đốc đồng tri, Hoàn Quận công. Ông cùng với Huyện Quận công là Nguyễn Đức Minh, và các người bộ thuộc họ Hoàng Đức, Nguyễn Công, Nguyễn Khắc, Hà Văn, Nông Ngọc... chia ra ở các xứ Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, đời đời làm Thổ ty, tập phong tước hầu.

Hoàn Quận công sinh được 5 con trai: con trưởng là Thế Nhân, con thứ hai là Thế Huệ, đều ở châu Lộc Bình; thứ ba là Thế Kỳ, ở châu Yên Bảo; thứ tư là Thế Tàng ở châu Ôn; thứ năm là Thế Trạch, ở Bình Tây (nay thuộc Cao Lộc). Năm người đều được phong làm Kinh lược sứ, tước hầu.

Sau chúa Mạc Đăng Dung là Mạc Phúc Hải chiếm cứ đất Cao Bằng, chống nhà Lê, con trưởng ông Thế Nhân là Cân Đường hầu, húy Phúc Đường, cùng với con là Nhữ Dực hầu, cháu là Trúc Khê hầu không chịu theo, cứ tìm con cháu nhà họ Lê để lo việc khôi phục .

Khi đã diệt được nhà Mạc, Cân Đường hầu được phong là Bắc phương Kinh lược Đô chỉ huy sứ, và được lập ấp tại thôn Lộc Mã, xã Khuất Xá, châu Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Vì thế nên họ Vi ta mới đến ở đây.

Xét họ Vi ta từ đời ông Vi Nhân đến nay đã hơn hai nghìn năm, những sự tích trong thời gian đó, chỉ nghe truyền lại trong câu tục ngữ vạn phần hoặc trong lời dã đàm Chiêu nghi, không lấy gì làm xác thực. Nay chỉ bằng cứ vào gia phả cũ mà ghi chép thế thứ từ cụ tổ 13 đời là Cân Đường Hầu trở xuống mà thôi”.

Gia phả còn ghi về ngôi mộ tổ ở núi Đinh Đầu ở Nghệ An như sau:

Long mạch của núi Đinh Đầu, ở Đô Lương (thuộc phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) đi xuống, nguyên bắt đầu từ châu Lang Chánh (thuộc tỉnh Thanh Hóa). Đi đến Thiên Uy, mạch bằng phẳng và thấp, đến dãy núi bên kênh Thiên Uy (tức là Kênh Sắt, do Cao Biền đời Đường khơi ra, nối liền sông Bùng ở phủ Diễn Châu với sông Cấm ở huyện Nghi Lộc). Qua kênh Thiên Uy, mạch lại phẳng và thấp, rồi nổi lên ở núi Đinh. Long mạch nổi cao lên, hình như bầy ngựa đua chạy. Trong đó có một hòn núi tròn như bát úp. Đấy là huyệt. […] Long, Hổ phía trong, vòng bọc lại, phía ngoài dần dần đi thẳng mà chia ra. Cửa bể [...] là ngoại long thủy, Cửa Hiền là ngoại Hổ thủy, cũng đều chạy thẳng mà không hợp lại với nhau. Trước mặt là bể cả, nên ngoại đường rất thoáng đãng. Ngoài Hổ thủy còn có điện Hồng Đức và núi Thiên Nguyệt (tục gọi là núi Mật). Ngoài Long Thủy còn có núi Đại Độc và núi Tiểu Độc (tục gọi là núi Mê), hai bên chầu lại trông rất đẹp.

Đẹp nhất là trước mặt có bể rộng mông mênh, sóng cồn dào dạt; còn phía sau, long mạch qua kênh, đến nơi bằng phẳng và thấp xuống, lại có cầu Bùng và đường cái quan chắn ngang, nên chưa được toàn mỹ.

2. Để có thể kiểm chứng lại những gì đã đồn đại và lưu truyền trong dân gian về mộ tổ dòng họ Vi, chúng tôi đã nhiều lần lên Bản Chu là biệt phủ của Vi Văn Định ngày xưa để tìm hiểu sự thực.

Từ thành phố Lạng Sơn đi men theo sông Kỳ Cùng về phía thượng nguồn (sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ Trung Quốc đổ vào Việt Nam tại Bắc Xá, huyện Đình Lập, thành phố Lạng Sơn, chảy “vòng vo tam quốc” trong thành phố Lạng Sơn rồi lại chảy về Trung Quốc tại Đào Viên, huyện Tràng Định, thành phố Lạng Sơn). Theo một con đường nhựa đã hư hỏng rất nhiều, chúng tôi đến xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình. Nơi đây có Bản Chu, là thủ phủ của quan Tổng đốc Vi Văn Định uy danh lừng lẫy một thời của xứ Lạng. Nơi đây cách trung tâm thành phố Lạng Sơn khoảng gần 50 km.

Bản Chu là môt ngôi làng khá cổ kính, đã là nơi mà nhiều người ở xứ Lạng và trong nước biết tới. Nơi đây không chỉ là thủ phủ một thời của xứ Lạng mà còn là một bản của dân tộc Tày, có những kiến trúc cổ độc đáo là những ngôi nhà hai tầng làm bằng gạch không nung, hoặc vách đất trình tường, có mái lợp bằng ngói máng kiểu rất xưa. Nhờ kiến trúc như vậy mà những căn nhà đó, mùa hè rất mát, mùa đông lại rất ấm. Nhìn toàn cảnh Bản Chu thật là đẹp, bốn xung quanh có những rặng núi cao bao bọc nhiều lớp. Bản làng nằm men theo con sông Kỳ Cùng lững thững nước chảy, hai bên bờ cây cối xanh um. Một đặc trưng nữa của Bản Chu là hầu hết các ngôi nhà, xung quanh có những lớp tường bằng đất nện trên có trồng xương rồng, vây bọc lấy căn nhà, giống như một lớp thành trì bảo vệ ở cái xứ mà ngày xưa vô số thổ phỉ, giặc cướp tàu, ta. Nhìn toàn cảnh Bản Chu như một pháo đài bất khả xâm phạm vừa là nhà ở, vừa là thành trì. Nét nhấn về kiến trúc của bản Chu chính là những gì còn sót lại của 3 cái cổng làng xây bằng gạch và cổng vào dinh của Tổng đốc Vi Văn Định. Cổng được xây dựng bằng gạch nung rất kiên cố, còn dấu vết của những cánh cổng bằng sắt dày. Kiến trúc của cổng rất đẹp, vừa cổ kính vừa mang sắc thái tín ngưỡng, những mái vòm cong có những nét điểm là hình rồng bay lên. Hiện nay gần như toàn bộ dinh đã bị phá hủy, lớp thì do thời gian, lớp thì do pháo kích của chiến tranh biên giới ngày trước, lớp thì bị con người tại chỗ phá hủy.

Chúng tôi ghé thăm mộ của cụ Vi Văn Lý (1830 - 1905, là cha của Vi Văn Định), nằm cạnh còn có mộ bà Hà Thị Bạch (là chính thất của cụ Định). Hai ngôi mộ này nằm theo hướng tọa Thân hướng Dần tại khu vực Nà Khưa, xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình. Đây là hai ngôi mộ có kết cấu kiểu Pháp có pha thêm bản sắc miền sơn cước rất đẹp. Đầu hai ngôi mộ đều xây thành những vòm cuốn cao, bên trong có chứa bia mộ. Đằng sau là thân mộ, xung quanh từng mộ có hàng tường gạch xây bao bọc cuốn theo kiểu túi đựng tiền. Hướng mộ trước kia khi chưa có con đường chạy qua trước mặt, nhìn xuống một bãi trống, có con sông Kỳ Cùng uốn lượn qua. Đằng sau mộ phía xa xa là một dãy núi cao vút, mây vắt ngang triền núi. Nếu không có con đường và cây cầu gần đó án hướng mộ thì đây cũng là một kiểu đặt mộ điển hình của người Hoa ngày trước.

Tuy nhiên, mộ của dòng họ Vi lại không nằm tập trung ở khu vực này, mà là ở trên một gò đất không cao lắm ở phía sau Bản Chu. Tại khu vực này có hai gò đất khá lớn, một là nghĩa trang của họ Vi, một là nghĩa trang của họ Lường (hay Lương). Nếu xét về mặt hình thể thì mộ của họ Lường có hình thế đẹp hơn, gò đất tròn trịa, cây cối xanh rờn, gò đất còn gần như nguyên sơ, ít bị tác động của con người. Ngược lại, gò đất của dòng họ Vi thì thấp hơn, nơi đây cũng rất đẹp, nhưng vì bàn tay của con người tác động quá nhiều nên mất đi vẻ hoang sơ ban đầu.

Khu vực mộ dòng họ Vi được gọi theo tiếng dân tộc Tày là Mả Phiêng Phai. Cả hai khu mộ của họ Vi và họ Lường đều có long tay hổ cân phân, được cấu tạo bởi dãy Khao Láng. Tận lưng chừng của dãy núi Khau Loáng, điểm giữa của tay long tay hổ là mộ ông nội cụ Vi Văn Định. Từ Bản Chu lên Khau Loáng không dốc lắm như các dãy núi đá ở Tây Bắc Việt Nam mà thường dọc theo các triền núi có lớp đất vỏ rất dày (có lẽ là đặc trưng của các ngọn núi vùng Lạng Sơn). Hai bên đường lên là những rừng thông cổ thụ ngút ngàn tầm mắt, cái hơi se lạnh cuối thu làm cho những người lữ hành càng thêm phấn chấn bước tới. Vượt qua khoảng ba ngọn núi thật cao, chúng tôi xuống tới một thung lũng nhỏ và ngẩng lên, trong những bụi cây rậm rì, xanh biếc, mộ ông nội cụ Vi Văn Định hiện ra trắng xóa.

Trên lưng chừng đỉnh Khau Loáng, từ hơn 100 năm nay đã tồn tại một cái mộ có hình dáng khá kỳ lạ. Đây chính là mộ của ông nội cụ Vi Văn Định. Mộ có hình mộ con rùa nằm theo hướng tọa Thìn hướng Tuất. Trên đỉnh mộ là mộ khối đá hình nửa quả trứng trông khá kỳ lạ.

3. Tại khu mộ tổ dòng họ Vi trên đỉnh Khau Loáng, chúng tôi đã xem tấm bia được dựng trước mộ.

Nguyên văn chữ Hán:

諒 山 省 祿 平 州 屈 舍 總 馬 祿 村 韋 家 誌 墓

先 封 公太 夫人 卜吉 于 丘 浪 山前 後 四 十 六 年 始 非 敢 也 蓋 有 待 也 我 家 本 歡 州 自 始 祖 都 督 桓 郡 公 奉平吳 創 業 舉準往諒 山 處 為 國平 食 祿于本 州 遂 館 焉. 先 封 公 的 派 也

公 以嘉 隆朝 乙 卯 年 九 月 二 十 三 日 辰 時 生 ,明 命 十 二 年 承 鎮 官 保 公 為 本 州 知 州 十 四 ... 進 為 省 城 於 時 七 州 惟 公 前 來 保 護 身 手 轉 輪 射 宛 匯 將 名 中 ... 皆 無 解 以 公 知 府 衙 仍 嶺 嗣 德 七 年 致 士, 八 年 七 月十 二 日 酉 時 終 于 嘉 壽 六 十 一 歲 . 先 太 夫 人 姓 何 翻 臣 一 貴 族 也 ... ...以 乙 丑 年 四月十 二 日 丑 時 生 , 以 癸 亥 年 二月 十 九 日 戊 辰 壽 終享 年五 十 有 九 癸 日. 先 封 公 太 夫 人 在 于 仕 歷 蒞 州 縣 垂 三十 年 自 升 翻 羽 加 督 府 金 御 昭 列 始 蒙 封 贈 先 公 太夫 人 以 不 及 見 矣 .

同 慶 三 年 二 月 日 太 夫 人 為 五 品 宜 人 . 金 上 臨 御 之 五 年 三月日 慶 太 夫 人 從 三 品 淑 人 ,十 一 年 十 一 月 日 累 贈 公 加 寺 卿 , 太 夫 人 正 三 品 淑 人 . 於 是 理 拜 ... ... 事 親 而 言 曰 忠 孝 矣. 先 封 公 精 忠 一 片 日月 爭 光 . 歷 朝 命先 蔭 之 福 , 生 有 機 足 以 表 後 世 而 庇 賴 ...子 孫 矣 ... ... 先 封 太 夫 人 之 隆 並 壽 于 碑 而 能 全 大 節 無 所 生 其 來 有 ....

諒 平 等 處 地 方 提 督 軍 務 場 派南 小 子

Phiên âm:

Lạng Sơn tỉnh, Lộc Bình châu, Khuất Xá tổng Mã Lộc thôn Vi gia chí mộ

Tiên Phong công, Tiên thái phu nhân bốc cát vu Khâu Lãng sơn, tiền hậu tứ thập lục niên thủy phi cảm dã, cái hữu đãi dã. Ngã gia bản Hoan Châu, tự thủy tổ Đô đốc Hoàn Quận công phụng bình Ngô sáng nghiệp cử [..] chuẩn vãng Lạng Sơn xứ, vi quốc [..] bình thực lộc vu bản châu toại quán yên. Tiên Phong công đích phái dã.

Công dĩ Hoàng triều Gia Long, Ất Mão niên cửu nguyệt, nhị thập tam nhật, Thìn thời sinh. Minh Mệnh thập nhị niên thừa trấn quan bảo công vi bản châu Tri châu. Thập tứ niên [..] vân tiến vi tỉnh thành ư thời thất châu.

Duy công tiền lai bảo hộ thân thủ chuyển luân xạ Uyển Hối tướng danh Trung Hối [...] tùy giai vô giải dĩ công. Tri phủ nha nhưng lĩnh Tự Đức thất niên chí sĩ; bát niên thất nguyệt, thập nhị nhật, Dậu thời chung vu gia, thọ lục thập nhất tuế.

Tiên thái phu nhân tính Hà, phiên thần trung nhất quý tộc dã [..], dĩ Ất Sửu niên, tứ nguyệt, thập nhị nhật, Sửu thời sinh; dĩ Quý Hợi niên, nhị nguyệt, thập cửu nhật, Mậu Thìn thọ chung. Hưởng niên ngũ thập hữu cửu quý nhật.

Tiên Phong công thái phu nhân tại vu sĩ lịch lỵ châu huyện thùy tam thập niên tự thăng phiên vũ gia đốc phủ kim ngự chiêu liệt thủy mông phong tặng Tiên công thái phu nhân dĩ bất cập kiến hĩ. Đồng Khánh tam niên, nhị nguyệt nhật, thái phu nhân vi ngũ phẩm Nghi nhân. Kim Thượng lâm ngự chi ngũ niên, tam nguyệt nhật khánh thái phu nhân Tòng tam phẩm Thục nhân; Thập nhất niên, thập nhất nguyệt nhật lũy tặng [..] công gia [..] Tự khanh, Thái phu nhân Chánh tam phẩm Thục nhân. Ư thị lý bái [..] sự thân nhi ngôn viết Trung Hiếu hĩ.

Tiên Phong công tinh trung nhất phiến, nhật nguyệt tranh quang. Lịch triều [..] [..] mệnh tiên ấm chi phúc. Sinh hữu cơ túc dĩ biểu [..][..] hậu thế nhi tý lại [..] tử tôn hĩ [..] liệt [..] [..]. Tiên Phong thái phu nhân chi long [..] tịnh thọ vu bi […] tử [...] chi […] nhi năng toàn đại tiết vô [..] sở sinh ký lai hữu [..].

Lạng - Bình đẳng xứ địa phương Đề đốc quân vụ

Tràng Phái nam tiểu tử.

Dịch nghĩa:

Ghi chép về phần mộ họ Vi tại thôn Mã Lộc, tổng Khuất Xá,

châu Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn

Cụ Tiên Phong cùng cụ bà bói được đất tốt ở núi Khâu Lãng, sớm kết phát trong khoảng trên dưới 46 năm cũng có ý ngầm đợi.

Họ nhà ta vốn ở Hoan Châu(1), từ cụ Thủy tổ Đô đốc Hoàn Quận công vâng mệnh đi bình dẹp giặc Ngô, dựng nghiệp nhà Lê, được cho đến hưởng lộc ở châu này mà ở lại đó. Cụ Tiên Phong là con cháu dòng đích.

Cụ Tiên Phong công sinh giờ Thìn, ngày 23 tháng 9 năm Ất Mão, niên hiệu Gia Long (?)(2). Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) cụ vâng mệnh làm Tri châu châu Lộc Bình. Đến năm thứ 14 (1833) vây tỉnh thành và thất châu. Cụ trước đây đã có công bảo vệ thân hữu tay chân của tướng Trung Hối, đã giải vây được, nên rất có công. Năm Tự Đức thứ 7 (1854) về nghỉ hưu. Năm Tự Đức thứ 8 (1855) tháng Bảy, ngày 12, giờ Dậu, cụ mất tại nhà, thọ 61 tuổi.

Cụ bà người họ Hà, là dòng họ phiên thần quý tộc danh giá. Cụ sinh giờ Sửu, ngày 12 tháng 4 năm Ất Sửu (1805). Mất giờ Mậu Thìn, ngày 19 tháng Hai năm Quý Hợi (1863) hưởng thọ 59 tuổi. Cụ theo cụ ông tại các nơi cụ ông làm quan ở các châu huyện có đến 30 năm, nhưng những vinh dự mà nhà vua phong tặng cho cụ thì cụ đều không kịp thấy.

Năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), tháng Hai, cụ được ban Ngũ phẩm Nghi nhân. Đến năm Thành Thái thứ 5 (1893), tháng Ba, cụ được ban Tam phẩm Thục nhân; năm thứ 11 (1899) tháng 11 cụ ông được liên tiếp (truy) tặng là [..], lại thêm […] Tự khanh, nên cụ bà lại được ban Tam phẩm Thục nhân. Bấy giờ […] gọi là Trung hiếu vậy!

Cụ Tiên Phong là một bậc trung nghĩa ở đời, lòng trung sáng cùng nhật nguyệt. Trải các triều đều […], lại cho con cháu được hưởng ấm. Khi cụ còn sống thì chí khí sắt son làm gương cho hậu thế; khi cụ mất đi thì phúc lớn để lại cho cháu con mãi muôn sau. Vì thế xin được kể ra đây công đức của cụ Tiên Phong và cụ bà, khắc lên bia đá, truyền mãi muôn đời, để cho hậu thế giữ trọn danh tiết.

Đề đốc quân vụ các địa phương Lạng - Bình - con trai Tràng Phái nam kính đề(3).

Chú thích:

(1) Hoan Châu: Nghệ An ngày nay.

(2) Thực ra bia viết nhầm. Trong niên hiệu Gia Long không có năm Ất Mão. Năm Ất Mão gần nhất trước đó là 1795.

(3) Căn cứ theo niên đại nêu trong bia và gia phả họ Vi, thì bài văn bia này được cụ Tràng Phái nam viết trong khoảng từ năm 1899 đến năm 1905./.

Bùi Quốc Hùng -Nguyễn Xuân Diện
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm