37. Bước đầu tìm hiểu một số nét tục lệ Bắc Giang trong thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn trong kho tư liệu của thư viện tỉnh (TBHNH 2011)
ĐÔI NÉT VỀ TỤC LỆ BẮC GIANG QUA TƯ LIỆU
CỦA THƯ VIỆN TỈNH BẮC GIANG
BÙI NGỌC LÂN
Ban Quản lý di tích và danh thắng Bắc Giang
Hiện nay trong kho lưu trữ của Thư viện tỉnh Bắc Giang còn lưu giữ được khối lượng tài liệu chữ Hán, Nôm khá đồ sộ và phong phú như các thể loại: thần tích, thần sắc, địa bạ, hương ước, khoán lệ, tục lệ…. trong đó sách tục lệ chiếm số lượng không nhỏ. Những sách tục lệ này cơ bản nằm trong giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn, với tổng số gần 1300 trang. Số sách tục lệ được phân bố chủ yếu ở các huyện như: Hiệp Hòa, Lạng Giang, Việt Yên, Yên Dũng, Lục Nam và Tp Bắc Giang.
Việc xem xét tổng thể số sách tục lệ giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn trong kho Thư viện tỉnh cho thấy có nhiều điểm cần quan tâm, chú ý. Bởi lẽ, đây chính là nguồn tư liệu lịch sử quan trọng giúp các nhà nghiên cứu, tìm hiểu sâu sắc về những phong tục, tập quán của người dân Bắc Giang trong giai đoạn xã hội phong kiến Lê- Nguyễn.
Số sách tục lệ này có niên đại cũng thật khác nhau nhưng phần lớn được lập vào thời Nguyễn, một số ít được lập vào thời Lê Trung hưng. Sách tục lệ có niên đại sớm nhất là “tục lệ xã HàVị, tổng Thọ Xương, huyện Phất Lộc, tỉnh Bắc Giang”. Sách được lập vào ngày 27 tháng giêng năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751). Sách tục lệ này gồm có 138 điều, nội dung ghi việc toàn dân xã Hà Vị, huyện Bảo Lộc, phủ Lạng Giang cùng hội họp tại đình để sáng lập các điều lệ lưu truyền lại.
Sách tục lệ có niên đại muộn nhất là tục lệ xã Đương Mại, tổng Tư Mại, huyện Yên Dũng. Tục lệ được lập vào ngày tháng 9 năm Khải Định thứ 5 (1920) với 31 điều. Nội dung tục lệ ghi lại việc toàn dân xã Đương Mại, tổng Tư Mại, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang cùng hội họp tại đình để tu sửa lệ bạ.
Do đặc điểm của sách tục lệ ghi lại những quy định, luật tục của riêng từng địa phương, từng làng nên về nội dung của các sách tục lệ Bắc Giang thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn cũng thật phong phú: Từ việc tế lễ thờ cúng cho đến việc khuyến học, khuyến nông, ma chay, hiếu hỷ, việc khao vọng, sử phạt… điều được nói đến. Trong số đó, đa phần là những sách tục lệ đều ghi lại những phong tục, tập quán thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam xưa
Các văn bản tục lệ được lập ra hầu hết do những người cao tuổi, người được kính trọng trong làng xã cùng nhau bàn bạc để thống nhất các điều khoản. Những quy định đã được ghi trong tục lệ, nhất nhất mọi người trong làng ai cũng phải tuân thủ. Nếu như người nào làm trái thì sẽ bị phạt theo quy định.
* Điểm quan tâm nhiều trong các sách tục lệ:
Trong các bản tục lệ ghi về lệ nhập tịch, kỳ phúc và lệ tế thần hàng năm đều rất quan tâm, chú ý đến trang phục, ngôn ngữ nói năng của người tham gia hành lễ. Từ những người trưởng thôn trở lên, phải tề chỉnh mũ áo. Người nào say rượu, nói năng bừa bãi thì bị phạt bằng tiền cổ. Việc viết văn tế phải chọn người đỗ cao nhất, tinh thông chữ nghĩa. Nếu không chọn được người như vậy thì Lý trưởng phải đảm đương việc này. (Ví như: Tục lệ xã Tiên La, tổng Cổ Dũng, huyện Yên Dũng. Tục lệ xã Mai Thanh, tổng Đa Mai, phủ Lạng Giang….)
Cũng trong các bản tục lệ, việc quy định thưởng phạt người có công, kẻ có tội được thể hiện rõ ràng trong nội dung từng điều. Người nào có công với làng nước với gia đình và cha mẹ thì được thưởng, nêu danh để người trong làng, ngoài xóm cùng noi theo. Kẻ có tội, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm nặng nhẹ mà phạt bằng quan tiền, hoặc bị đánh, truất ngôi thứ trong làng. Phạt nặng nhất là những kẻ ăn trộm của chùa, của công (ví như tục lệ xã Hà Vị, tổng Thọ Xương, huyện Phất lộc…). Lệ phạt kẻ không khai báo và chứa chấp kẻ gian, lệ thưởng người bắt được kẻ trộm và mức độ phạt kẻ lấy trộm của công, của tư cũng được ghi cụ thể rõ ràng.
Lệ khuyến khích học hành, thi đỗ tú tài, cử nhân, quy định của bản xã sẽ cho con cháu họ được hưởng hương ấm một đời, được cày ruộng học điền, do làng xã cấp (tục lệ xã Cảnh Thuỵ, tổng Tư Mại, huyện Yên Dũng; tục lệ xã Đông Lỗ, tổng Đông Lỗ, huyện Hiệp Hoà).
Truyền thống kính trọng người già, được thể hiện ở lệ lên lão (50 tuổi). Những người đến tuổi này sẽ được miễn việc phu phen, tạp dịch (tục lệ xã Mỹ Phúc, tổng Đào Quán, huyện Phất Lộc). Lệ làm lễ đăng thượng thọ cho người được 80 tuổi trở lên. Trong lễ này, người tuổi 80 sẽ được biếu lụa, vàng (tục lệ xã Vân Xuyên, tổng Hoàng Vân, huyện Hiệp Hoà).
Truyền thống tình làng nghĩa xóm, thương người như thể thương thân, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, giúp người phúc ta được thể hiện nhiều trong các điều lệ như: lệ cứu hoả khi có tai biến, lệ giúp người mất tài sản, lệ cưới hỏi, lệ có việc hiếu…
Ngay từ thời kỳ này, việc vệ sinh làng xã cũng rất được chú ý quan tâm. Nhà nào nuôi trâu bò, lợn gà, chuồng phải làm cao ráo, nếu có mùi hôi thối, tuần phiên kiểm soát thì sẽ bị phạt tiền. Nhà nào vật nuôi bị bệnh phải nhốt riêng để chữa, tránh để truyền nhiễm (tục lệ xã Cẩm Hoàng, tổng Cẩm Bào, huyện Hiệp Hoà). Các Chánh phó lý không làm tròn bổn phận, thì cũng chiếu theo đúng lệ làng mà tróc phạt.
Thông qua việc tìm hiểu xem xét hệ thống sách Tục lệ giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn lưu giữ tại kho Thư viện tỉnh cho thấy, đây chính là nguồn tư liệu lịch sử quý giá. Qua nguồn tư liệu ấy giúp các nhà khoa học, người làm công tác quản lý và đông đảo nhân dân trong và ngoài tỉnh tìm hiểu về những phong tục, tập quán, nếp sống sinh hoạt của những người dân nông thôn Bắc Giang trong những năm cuối Lê đầu Nguyễn. Đồng thời, nó góp thêm những tư liệu quan trọng vào kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.752-755)