38. Chuông chùa Bàn Long
CHUÔNG CHÙA BÀN LONG
THÍCH MINH HUYỀN
Chùa Bàn Long huyện Mỹ Đức Hà Nội
Bàn Long là ngôi chùa cổ nằm trên núi Phổ Đà xã Hồng Sơn huyện Mỹ Đức Tp. Hà Nội. Các cụ trong ban quản lý di tích ở đây cho biết, chùa được xây dựng từ thời Lê. Sư tổ mở ra chùa Hương Tích cũng chính là sư tổ khai sơn xây dựng chùa Bàn Long, hàng năm đến kỳ hội xuân thì nhân dân địa phương cũng mở hội trùng ngày với hội chùa Hương. Trước đây quy mô của chùa cũng trang nghiêm lộng lẫy nổi tiếng trong vùng, đến kỳ mở hội khách thập phương nô nức kéo về lễ Phật vãn cảnh. Thế nhưng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp chùa đã bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại một ngôi tháp cổ ẩn mình dưới vòm cây tán lá. Tháp cao ba tầng chung quanh đều có đắp chữ Hán, song đã sứt sẹo đổ nát, chỉ đọc được lờ mờ mấy chữ. Năm 1994 dân làng đã trợ duyên cùng sư thày trụ trì ở đây xây dựng được ngôi Tam bảo tương đối trang nghiêm, bên ngoài còn đặt pho tượng Quan Âm bằng thạch cao khá lớn, người đứng xa hàng mấy kilômét cũng có thể nhìn thấy. Sau đó ít lâu sư thày đã được nhân dân địa phương giúp đỡ tìm thấy chiếc chuông cũ của chùa đem về treo lên trong khu Tam bảo.
Đây là quả chuông tương đối lớn, trong lòng văn của chuông gọi là “hồng chung”. Chuông cao chừng 98cm, đường kính rộng 81cm nặng khoảng 300kg. Bốn mặt chuông đều khắc chữ Hán dày đặc. Mặt 1 ghi bài ký văn thuật lại và viết giới thiệu lịch sử xây dựng chùa và quá trình đúc chuông chùa. Mặt 2 và mặt 3 ghi tên các hội chủ hưng công đóng góp công sức đúc chuông. Mặt 4 ghi lại bài ký văn gồm 12 câu thơ tứ ngôn. Chuông được đúc lại vào ngày tốt tháng 4 năm Quý Mão (1843) niên hiệu Thiệu Trị thứ 3 đời Nguyễn, hội chủ là ông họ Nguyễn người làng Đoan Nữ tổng Bột Xuyên huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên trấn Sơn Nam, nay thuộc xã Kênh Đào huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Tây. Văn chuông không thấy ghi tên soạn giả, chỉ thấy ghi tên người đúc chuông và khắc chữ là ông Nguyễn Văn Nga ở thôn Thượng xã Đề Cầu trấn Kinh Bắc. Trong kháng chiến chống Pháp, chuông chùa Bàn Long đã được dân địa phương dùng làm khí cụ để báo động khi cần thiết. Các cụ ở địa phương cho biết chuông đã dính một quả đạn pháo của bọn giặc Pháp, nên bị sứt một lỗ to gần bằng nắm tay người lớn. Rất may là vết đạn pháo chỉ làm thủng phần ghi tên người đóng góp, còn bài ký văn và bài minh chuông vẫn được giữ nguyên. Đặc biệt là bài ký đã miêu tả vị trí của chùa rất chuẩn mực, ngày nay đến thăm chùa, khách thập phương vẫn có thể hình dùng được quang cảnh của chùa từ trước. Phía đông của chùa là tòa động nằm sâu trong hang núi, phong cảnh rất u huyền. Phía tây của chùa là cột đá để treo cờ. Cột đá cũng thấy khắc chữ Hán, cho biết là cột cờ được dân làng thuê thợ khắc đá về làm, bên cạnh có ghi rõ là cột cờ bằng đá được xây dựng vào đời vua Minh Mệnh (1820-1841) nhà Nguyễn. Bài minh chuông cũng cho biết phía trước chùa là muôn dòng nước hướng về, đó là các dòng khe suối sông ngòi này làm tăng thêm vẻ đẹp của vùng non xanh nước biếc, giúp cho cảnh chùa thêm trang nghiêm. Có thể nói chuông chùa Bàn Long là chứng nhân quan trọng giúp chúng ta tìm hiểu cảnh chùa. Khu đúc quả chuông này thì đất xã Hồng Sơn huyện Mỹ Đức này thuộc vào huyện Chương Đức phủ Ứng Hòa Tp. Hà Nội, do vậy có thể xem đây là tư liệu quý để chúng ta nghiên cứu tìm hiểu vùng đất Thăng Long Hà Nội. Do vậy chúng tôi xin phiên âm dịch nghĩa và chú giải tường tận để giới thiệu trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm năm 2007 này.
Toàn văn phiên âm như sau:
LINH SƠN HỘI THƯỢNG BÀN LONG TỰ CHUNG
Cái văn, lễ phi khí bất hình, chung vi nhạc chi thư, chung vân hồ tai? Sở dĩ hài thần minh hưởng vu thiên nhưỡng giả. Chung do tự khởi, tự bản sơn sinh. Hữu tự hữu chung, lưỡng tương phù ứng. Đệ tự tinh di vật hoán, hàn tịch chung thanh. Ư Nhâm Ngọ niên Chương Đoan tính Nguyễn tạo trú hồng chung, tài thập dư niên ngẫu tao phong họa. Kim hữu Bùi tính tố tập thiện duyên. Viên thuật tiền trình dĩ chương cựu tích.
"Hựu tòng nhi minh chi viết:
Linh Sơn hội thượng,
Tự cảnh Bàn Long.
Tiên kỳ tại tả,
Phật động tư đông.
Triều tiền vạn phái,
Ủng hậu thiên phong.
Kỳ sơn thác ngoại,
Bảo tọa cư trung.
Chương Đoan lưỡng hội,
Tạo chú hồng chung.
Khánh lưu miêu duệ,
Vĩnh vĩnh vô cùng".
Hoàng triều Thiệu Trị tam niên tuế thứ Quý Mão tứ nguyệt cát nhật lương thời.
Siêu Loại huyện Đề Cầu xã Thượng thôn Nguyễn Văn Nga trú khắc.
Dịch nghĩa:
CHUÔNG CHÙA BÀN LONG TRÊN NÚI LINH SƠN(1)
Thường nghe, tế lễ mà không dùng pháp khí thì không thể biểu hiện ra được, chuông là loại nhạc cụ hàng đầu trong số các nhạc khí dùng để tế lễ, vậy thì chuông dùng để làm gì? Chuông là để hài hòa cùng các đấng thần minh vang động khắp trên trời dưới đất vậy. Chuông được đúc ra là bởi có chùa, chùa được dựng lên là dựa vào núi. Hễ có chùa là phải có chuông, hai thứ ấy thực khéo phù hợp với nhau. Chùa ta vốn có chuông từ xưa, song do vật đổi sao dời, nên tiếng chuông từ lâu đã thấy vắng vẻ. Vào năm Nhâm Ngọ (1832) có người họ Nguyễn ở làng Đoan Nữ(2) huyện Chương Đức đã đứng ra lo liệu đúc một quả chuông lớn. Tế nhưng chỉ được hơn mười năm, bỗng nhiên gặp trận bão táp khiến cho chuông bị hủy hoại. Nay lại có người họ Bùi(3) hội đủ thiện duyên đúc một quả chuông khác. Nhân đó bèn thuật lại quá trình đúc chuông để làm sáng tỏ sự tích cũ. Nhân đó lại làm thêm bài minh.
Lời minh rằng:
Trên hội lớn ở Linh Sơn,
Có ngôi chùa là Bàn Long.
Bàn cờ tiên ở bên trái,
Động thờ Phật ở bên đông.
Phía trước muôn dòng hướng về,
Đằng sau có ngàn núi bao bọc.
Núi non kỳ lạ chắn ngoài,
Ngôi Tam bảo đặt bên trong.
Đoan Nữ hai lần mở hội,
Đúc được quả chuông chùa lớn.
Phúc đức để lại cho con,
Lưu truyền mãi mãi vô cùng.
Ngày tốt tháng 4 năm Quý Mão niên hiệu Thiệu Trị thứ 3 (1843).
Nguyễn Văn Nga người thôn Thượng xã Đề Cầu huyện Siêu Loại đúc chuông và khắc chữ.
Chú thích:
(1) Linh Sơn: tên núi ở Bắc Ấn Độ, tức núi Linh Thứu, nơi đức Phật mở hội thuyết giảng kinh Pháp Hoa.
(2) Đoan Nữ: tên xã thuộc tổng Bột Xuyên huyện Chương Đức trấn Sơn Nam. Đến giữa thế kỷ XIX, huyện Chương Đức tách làm ba, một phần nhập với huyện Mỹ Lương phủ Quốc Oai thành ra huyện Chương Mỹ, một phần nhập vào huyện Sơn Lãng (nay thuộc Ứng Hòa, Hà Nội, một phần nhập vào huyện Hoài An thành huyện Mỹ Đức. Nay làng Đoan Nữ thuộng xã Kênh Đào huyện Mỹ Đức, cách chùa Bàn Long của xã Hồng Sơn chừng 3km.
(3) Họ Bùi: tức người họ Bùi ở xã Đoan Nữ. Trong phần ký văn không thấy ghi người họ Bùi ở đâu, song ở bài minh thấy có câu viết “Chương Đoan lưỡng hội”, nghĩa là Đoan Nữ huyện Chương Đức hai lần mở hội đúc chuông cho chùa Bàn Long, do vậy chúng tôi đoán định người họ Bùi này cũng là người làng Đoan Nữ.
Tài liệu tham khảo
1. Văn bia Hà Tây, Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây, năm 1993.
2. Di tích lịch sử Hà Tây, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, 2001.
3. Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra), Nxb. KHXH, H. 1981.
4. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, năm 1998.
5. Từ điển Phật học Hán Việt, Nxb. KHXH, H. 1992./.