VI | EN
38. Tìm thấy một cuốn sách địa chí cổ có giá trị ở huyện Định Hóa, Thái Nguyên (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

TÌM THẤY MỘT CUỐN SÁCH ĐỊA CHÍ CỔ

CÓ GIÁ TRỊ Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA (THÁI NGUYÊN)

NGUYỄN ĐÌNH HƯNG

Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Thái Nguyên

Trong những cuốn sách cổ mới phát hiện gần đây ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên(1), ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phát hiện một số sách cổ, trong đó có một cuốn sách cổ viết về địa chí của nước ta. Đó là cuốn sách của gia đình cụ Hoàng Văn Thượng, dân tộc Kinh ở xóm Bản Cái, xã Thanh Định.

Cuốn sách có kích thước 30x15cm, ngoài bọc bìa đỏ, trong có 75 tờ (a và b) tương đương với 150 trang giấy dó cổ. Mỗi trang được trình bày 10 dòng chữ Hán Nôm, chữ viết đẹp. Nhan đề sách ghi ở bìa là Cao Biền phụng thư (sách ghi chép địa lý theo cách của Cao Biền), trang đầu lại ghi Cao Biền phụng thư quyển chi nhất.

Qua nghiên cứu, kết quả cho thấy: đây là một cuốn sách chữ Hán Nôm hiện trạng sách còn khá tốt, chữ viết đẹp, trình bày rõ ràng, nội dung cuốn sách ghi chép địa chí của 4 xứ (có chỗ gọi là đạo) nước ta thuộc khu vực quanh kinh thành Thăng Long xưa là: Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương và Sơn Nam. Có thể nói, cuốn sách được chia ra làm 4 phần: phần 1 giới thiệu về đặc điểm, dựng đặt và diên cách của các đơn vị hành chính, phần 2 là phần đề vịnh phong cảnh, nhân vật, phong tục của địa phương, phần 3 là bản đồ và các chú giải, phần 4 ghi lời bàn của tác giả và niên đại của cuốn sách là: “Lê triều Bảo Thái vạn vạn niên Tân Sửu lương nguyệt cốc nhật” - sách chép vào đời vua Lê Bảo Thái năm Tân Sửu (1721).

Mở đầu cuốn sách tác giả (khuyết danh) viết:

Đường Ý Tông chi thời, tính hữu An Nam chi địa, trực vi quận, huyện đế tư cập Triệu Đà bổ đế nãi mệnh thái sử Cao Biền vi An Nam đô hộ. Biền vãng An Nam đế triệu nhập sứ điện vị viết: “Công dữ địa lý tối đắc tinh thiểu, trẫm khai An Nam đa hữu thiên tử quý địa công đương dụng lực yếm chi tam chân ngôn hình mạo trẫm thường đắc sứ quản hiền”. Biền chí An Nam sở át đa sơn, đại xuyên thư giai yếm chi Biền tác phụng thư truyền duy Tản Viên sơn tối linh Biền yếm bất đắc cố bất đắc trợ sở hữu phụng thư gian liệt vu hữu Giao Châu đô hộ thần Biền ký”.

Vi bản châu địa hình nhập thục sự thần hạnh hạnh dĩ dư sinh thao ty... y ngưỡng quan phủ tế vị... thiên giới nhiên ký thao thừa. Thiên chiếu cảm bất... sở kiến khai đàm ca truyền phụng vị hoà thị...

(kế) Kinh Bắc xứ

Hỷ Lâm huyện

Đệ tam cổ dương hàng - chính nhị bàng ngũ

Cổ dương quý địa âm chân nhũng ký... tòng thiên đức khí kết long trì thượng long sức trực trực thư khúc tùy trực cảm kỳ khúc... cảm kỳ bào hạ âm sức khúc khúc thư trực quy khúc cảm kỳ trực bàng thủy giả y thử vi quái nhũng cực bảo vô... nam hữu... sỹ nữ xuất cung hôn ngoại gia tộc tính phúc lộc vĩnh tuy triều... đa hiển quý diệc hựu chi

Đệ tứ cổ đạo hàng - chính nhất bàng nhị

Cổ đạo chân hình tối vi ký... xứ thuỷ... lai âm... cao thời xứ... âm... sơn... thủy bình xứ cao tàng trường trung... thị phan thất dữ lang đại... phú quý... đắc kỳ dư danh khôi đa sỹ long thuỷ ba tha sỹ trung hữu chỉ

Đệ ngũ đình luận giáng chính nhất bàng nhị

Gia Lâm huyện đình luận sức chính hình trực sơn nhạc thái thất thuỷ... nguyên thìn... sơn hội diện vạn... thân nội... tàng khí ngoại... triều... hữu nội hữu ngoại hữu quân hữu thần dư trung cảm hốt thế xuất tướng quân hậu... chí thủy kết kỷ vô nhân

Đệ lục cổ tế mệnh - Chỉ nhất bàng nhị

Gia Lâm cổ tế hình sức thậm trụ tả giang long hiện hữu sơn đầu bài ấm hiển ngoại... tâm nội... chí thử... khí chí thử chiêu... đặc... xứ vị tắc thai...

Do trong văn bản có nhiều chữ Nôm, khả năng của người viết có hạn nên chưa phiên âm được hết, tuy nhiên cũng có vài nhận xét và mô tả về cuốn sách để bạn đọc tham khảo:

Cuốn sách chữ Hán Nôm cổ Cao Biền phụng thư này là một tài liệu viết về địa chí nước ta. Tuy ở bên ngoài tác giả có đặt cho nó cái tên Cao Biền phụng thư nhưng thực chất nội dung của cuốn sách là ghi chép về địa chí nhân văn nước ta để chống lại phép yểm bùa mê tín của Cao Biền(2). Bởi xung quanh chuyện “lẩy bẩy như Cao Biền dậy non” (ý nói chỉ những người chân tay yếu mềm, run rẩy) đã có nhiều người bàn, chúng ta có thể tham khảo sách Đại Việt sử ký toàn thư (tập I), Việt sử lược và một loạt các chuyện dân gian trong Nam ngoài Bắc nước ta nói chuyện Cao Biền dùng phép thuật trấn, yểm diệt long mạch các vùng đất nước ta. Trong cuốn sách tác giả dân gian đã liệt kê ra từng xứ tiêu biểu trong nước, ở mỗi xứ có thế đất địa linh sinh nhân kiệt, có danh lam thắng cảnh, có nhiều núi cao, sông lớn (đa sơn, đại xuyên), trong từng vùng đất ấy có nhiều bậc tài danh: “một thuyền bảng nhãn, một bị trạng nguyên” và con người ấy như con o­ng làm mật yêu hoa, đem tài trí cống hiến cho đời.

Tại phần 1 và 2 của cuốn sách tác giả đã chọn xứ Kinh Bắc (tục gọi là xứ Bắc) để chép đầu tiên, gồm có 19 huyện là: Hỷ Lâm, Gia Lâm, Lương Tài, Siêu Loại, Văn Giang, Gia Định, Quế Dương, Đông Ngàn, Tiên Du, Yên Phong, Vũ Giang, Tân Phúc (nay một phần thuộc huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên), huyện Kim Hoa, Hiệp Hòa, Yên Việt, Phượng Nhỡn, Hữu Lũng, Yên Dũng, Yên Thế. Cuốn sách chép những thông tin có ý nghĩa đối chiếu, so sánh, ví dụ ngoài phần đã chép xứ Kinh Bắc, lại chép thêm phần đạo Kinh Bắc. Trong đó, tác giả mô tả hình sông, thế núi của từng địa phương, lại đề vịnh dưới dạng văn thơ về phong cảnh, danh lam, nhân vật, có giá trị nghiên cứu về địa chí và văn học. Ví dụ như phần chép đạo Kinh Bắc có phủ Thuận An có huyện Gia Lâm có sông Thiên Đức (tức sông Đuống), vùng đất có nhiều người đỗ đạt, tác giả lại vịnh 8 câu văn vần; huyện Lương Tài tác giả đề vịnh 10 câu, huyện Siêu Loại vịnh 4 câu; Văn Giang vịnh 12 câu, huyện Gia Định vịnh 6 câu, phủ Từ Sơn có huyện Quế Dương vịnh 6 câu, huyện Đông Ngàn vịnh 8 câu, huyện Tiên Du vịnh 4 câu, huyện Yên Phong vịnh 8 câu, huyện Vũ Ninh vịnh 6 câu, phủ Bắc Hà có huyện Tiên Phúc (trong đó 1 phần huyện Phổ Yên ngày nay) vịnh 6 câu như sau:

“Thanh Thủy chi vĩnh bình độ,

Lương Phúc chi bát cao ngưỡng

Thân diệc ninh liệt bát quý huyệt câu

Thanh dã bình cơ vĩnh như......

Vị đống đống lưu trực tài sĩ tử thiện thâu

Đan đống chi lộ trực diện sinh nhân tự giám”.

Huyện Kim Hoa vịnh 4 câu, huyện Hiệp Hoà vịnh 6 câu, huyện Yên Việt vịnh 2 câu, phủ Lạng Giang, huyện Phượng Nhỡn vịnh 6 câu, huyện Hữu Lũng vịnh 4 câu, huyện Yên Dũng vịnh 4 câu, huyện Yên Thế vịnh 4 câu, huyện Lục Ngạn vịnh 4 câu. Xứ Sơn Tây chép gồm có 5 huyện là: Từ Liêm, Yên Lãng, An Lạc, Bạch Hạc, Lập Thạch, xứ Hải Dương (tục gọi là xứ Đông) chép 15 huyện là: Đường Hào, Đường An, Cẩm Giang, Gia Phúc, Vĩnh Lại, Thanh Lâm, Chí Linh, Thanh Hà, Tân Minh, Hạp Sơn, Đông Triều, An Lão, Thủy Đường, Nghi Dương, An Dương.

Xứ Sơn Nam chép 8 huyện là: Thanh Trì, Thượng Phúc, Thanh Oai, Càn Đức, Thanh Liêm, Thiên Bản, (Dục) Thủy, Đông Viện. Cũng tương tự như ở phần đạo Kinh Bắc, ở mỗi địa phương, tác giả vừa ghi chép bằng lời văn, sau đó lại có đề vịnh phong cảnh hình sông, thế núi, phong tục, nhân vật của từng huyện.

Việc chép địa chí từ xưa chúng ta đã thấy có nhiều sách nổi tiếng như sách An Nam chí lược của Trần Ích Tắc (thế kỷ XIV), Dư địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (thế kỷ XVIII), Đại Nam nhất thống chí, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu dư địa chí (thế kỷ XIX)... đều có về vị trí, địa lý, hình sông, thế núi, cương vực, diên cách, dựng đặt của từng xứ, từ xưa đến thời tác giả đương đại nhưng chép địa chí mà có cả lời vịnh cảnh quan, danh thắng, nhân vật của từng địa phương thì cũng ít người để lại trước tác.

Cuốn sách cổ mới được tìm thấy này ở huyện Định Hóa - vùng chiến khu Việt Bắc cũ cho chúng ta thấy đây là một bằng chứng về sự du nhập văn hóa của người dân tộc Kinh (từ miền xuôi lên miền núi) giúp chúng ta nhận diện một cách ngẫu nhiên, có con người, tất có sản phẩm văn hóa tinh thần. Những tư liệu Hán Nôm này là sản phẩm tinh thần mà ông cha ta đã để lại. Cụ thể như cuốn sách địa chí này, ngoài việc tác giả thể hiện bằng chữ viết là chữ Hán Nôm có ý nghĩa giúp chúng ta nghiên cứu về thư pháp chữ Hán thời Hậu Lê - một thời văn hóa phát triển - đặc biệt là văn hóa văn chương bác học và văn học dân gian. Trong cuốn sách còn có nhiều sơ đồ, hình vẽ minh hoạ về địa hình nó thể hiện quan niệm bình đồ địa lý của đất nước ta. Mặt khác nhiều vùng tác giả mô tả, đề vịnh dưới dạng văn thơ có giá trị nghiên cứu về địa chí và văn học. Đề nghị cơ quan chức năng sưu tầm để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học giúp chúng tôi.

 

Chú thích:

(1) Tại gia đình cụ Hoàng Văn Thượng ở xã Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi còn tìm thấy một số cuốn sách cổ như sau:

- Tứ địa tổ sư (xem phong thủy, tả ao) sách chữ Hán chép thời Nguyễn.

- Sách: Địa lý gia truyền quốc ngữ ca, chữ Hán chép thời Nguyễn.

- Công văn, Phó ý, chữ Hán, sách dùng trong việc tang ma.

(2) Xem thêm: Xuân Nam - Cao Biền, bùa chú và sự thật - Trung tâm lý học Phương Đông - Tp. HCM - Vietimes. Vietnamnet.net.vn. Trong chính sử của người Việt viết về Cao Biền (Đại Việt Sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb. KHXH, H. 1993): Cao Biền tự là Thiên Lý, cháu của Nam Bình Quận vương Cao Sùng Văn dưới thời vua Đường. Thuở nhỏ, Cao Biền học giỏi, chăm chú luyện kiếm bắn cung. Cao Biền có tài bắn cung xuyên đôi ngỗng đang bay trên trời, được người đời coi là bậc kỳ tài. Cao Biền được cử làm Tiết độ sứ Giao Châu (tên gọi của nước ta lúc bấy giờ) thay cho Trương Nhân bị mất chức vì không dẹp được trộm cướp ở khu vực này. Sau khi đã bình định xong Giao Châu, Cao Biền cho xây thành Đại La để tập trung quyền lực về một mối. Theo Việt sử lược: Thành Đại La được xây dựng vào thế kỷ thứ VII có tên là Tống Bình. Vua Mục Tông nhà Đường dùng Nguyên Hỷ làm quan đô hộ. Nguyên Hỷ thấy cửa thành có dòng nước ngược sợ dân ở thành có ý đồ phản nghịch liền sai thầy bói gieo một quẻ. Thầy bói nói rằng: Sức ông không đủ bồi đắp thành lớn. 50 năm sau sẽ có một người họ Cao đóng đô tại đây và xây dựng Vương phủ.

Quả đúng thế, tới vua Đường Y Tôn (841-873), Cao Biền được cử sang đất Việt làm Tiết độ sứ. Cao Biền vốn là một người rất giỏi, đa hiệu: vừa là Tướng, vừa là Đạo sĩ, vừa là Phủ thủy, lại vừa là nhà Phong thủy có tài. La Thành được Cao Biền sửa chữa, chỉnh đốn vào những năm 866, 867, 868. Một số tài liệu khác lại cho hay, Cao Biền là người nghiêm khắc, lạm dụng hình phạt, lạm sát cả người vô tội. Năm 879, quân đội của Hoàng Sào từ bờ nam sông Hoàng Hà tiến về phía tây, triều đình nhà Đường điều Cao Biền đến làm Hải Quân tiết độ sứ (ở Trấn Giang, Giang Tô ngày nay). Quân Hoàng Sào ngày càng hung hãn khiến Cao Biền khiếp sợ. Khi quân Hoàng Sào tiến vào Trường An, Đường Hi Tông khẩn cấp điều Cao Biền đem quân cứu giá, nhưng Cao Biền không tuân lệnh của vua Đường, dù đang có binh lực trên 100.000 mà lại cát cứ một phương. Năm Trung Hòa thứ 2 (882), nhà Đường bãi miễn Cao Biền. Về già, Cao Biền tin vào phép thuật thần tiên, trọng dụng thuật sĩ hòng làm lòng người ly tán, tướng cai quản Hoài - Nam là Tất Sư Đạc rất lo sợ. Năm Trung Hòa thứ năm (885), Cao Biền tạo phản. Năm Quang Khải thứ ba (887), Cao Biền bị bắt làm tù nhân và bị giết./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.475-481)

Nguyễn Đình Hưng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm