VI | EN
38. Vài nét về Hoàng Giáp Nguyễn Thực và một dòng họ hào hoa xứ Kinh Bắc.
tb2006

HOÀNG GIÁP NGUYỄN THỰC

VÀ MỘT DÒNG  HỌ HÀO HOA XỨ KINH BẮC

VƯƠNG HƯỜNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Thôn Vân Điềm trước thuộc huyện Đông Ngàn, là nơi nổi tiếng có truyền thống khoa bảng đất Kinh Bắc (nay thuộc xã Vân Điềm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội). Phía bắc cổng thôn Vân Điềm xưa có một khu văn chỉ mà dân làng ngưỡng vọng gọi là “đền thánh”. Theo văn bia dựng tại nhà thờ cụ Nguyễn Thực ở Vân Điềm thì Tổng binh sứ, Tham chính Nguyễn Phú (con trai út cụ Nguyễn Thực) tự bỏ tiền mua đất lập văn chỉ cho làng vào khoảng đầu thế kỉ XVII. Từ đó phong trào học tập trong làng càng tăng, học trò thành đạt càng nhiều. Người khai khoa cho dòng họ cũng là người khai khoa cho cả thôn là Nguyễn Thực. Trong bài viết này chúng tôi muốn giới thiệu sơ lược về người khai khoa và dòng họ hào hoa này.

1. Người khai khoa mở đầu cho một danh gia vọng tộc đất Kinh Bắc

1.1. Nguyễn Thực 阮實 sinh năm 1555 mất năm 1637, thuở nhỏ còn có tên là Nguyễn Bảo, thuộc đời thứ 5 ở Vân Điềm. Vốn thông minh dĩnh ngộ từ nhỏ, học hành tấn tới, vì thế ông được các thầy giáo rất yêu mến. Năm 41 tuổi đỗ Đình nguyên, Đệ nhị giáp xuất thân (Hoàng giáp) khoa Ất Mùi niên hiệu Quang Hưng thứ 18 (1595) đời Lê Thế Tông. Sau khi thi đỗ ông được ban chức Hàn lâm viện Hiệu thảo. Con đường khoa hoạn của ông luôn rộng mở. Tháng Giêng năm Đinh Dậu (1597) ông được thăng chức Lễ bộ Đô cấp sự trung, tháng 11 năm đó thăng Kiểm sát sứ Thanh Hoa. Năm Mậu Tuất 1598, ông được thăng chức Bản sứ đề hình. Năm Kỉ Hợi 1599 ông lại được phong Hộ khoa Đô cấp sự trung, hàm Khánh Xuyên nam. Năm Hoằng Định thứ 3 (1602) ông được thăng Hồng lô tự khanh, tước Khánh Xuyên tử. Năm Giáp Thìn (1604) được thăng Lễ bộ Hữu Thị lang, tước Khánh Xuyên bá. Năm Bính Ngọ niên hiệu Hoằng Định thứ 7 (1606) đi sứ sang nhà Minh. Năm Hoằng Định thứ 10 (1610) thăng chức Tả Thị lang Bộ Lễ. Năm Mậu Ngọ Hoằng Định thứ 19 (1618) được thăng Thượng thư Bộ Hình. Kỉ Mùi Hoằng Định thứ 20 (1619) kiêm thêm chức Hàn lâm viện Thị độc, Trưởng hàn lâm viện sự. Năm Tân Dậu đời Lê Thần Tông được giao chức Đông các đại học sĩ. Năm Quý Hợi 1623 ban hàm Thiếu bảo, Thượng thư Bộ Lễ. Năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) được ban chức Dực vận tán trị công thần. Năm Đinh Mão niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 9 (1627) được ban chức Thái phó tước Lan Quận công. Năm Canh Ngọ niên hiệu Đức Long thứ 2 (1630) được phong chức Thái úy. Tháng 3 năm Nhâm Thân tức Đức Long thứ 4 (1632) ông được ban hiệu Quốc lão, một tháng sau lại được ban hàm Thái bảo. Năm Quý Dậu niên hiệu Đức Long thứ 5 (1633) ông được đặc cách phong làm Thượng trụ quốc. Năm Giáp Tuất (1634) ông được chuyển sang làm Thượng thư Bộ Hộ, hàm Thái phó, rồi được về trí sĩ. Tuy ông đã nghỉ hưu nhưng triều đình đương thời vẫn rất ưu ái, mỗi khi quốc gia có việc lớn vẫn thường hỏi ý kiến của ông. Đối với mọi người ông sống rất chan hòa không nệ cao thấp nên mọi người rất quý mến. Lúc nhàn hạ ông thường lấy văn chương để di dưỡng tinh thần. Rất nhiều học trò theo học ông và nhiều người đã thành đạt. Văn chỉ hàng huyện đóng ở thôn Cổ Châu cũng có công đóng góp rất lớn của ông. Ông mất ngày 14 tháng 11 năm Tân Sửu (1637) thọ 82 tuổi, triều đình để tang 3 ngày, truy tặng chức Thái tể và ban tên thụy là Trung Thuần. Ông được dân làng Hương Mặc lập làm thành Hoàng làng. Còn dân làng Vân Điềm lập bia ghi lệ thờ cúng. Sự nghiệp quan trường của ông được đánh rất cao. Sách Lịch triều Hiến chương loại chí (t1, tr.219) Phan Huy Chú chép “ông là người thuần hậu trong sạch, cẩn thận, không lập sản nghiệp, làm quan trải qua những bước vinh hiển trọng yếu mà vẫn thanh bạch, có phong độ như bậc danh thần ngày xưa”. Sách Lê Quí Đôn toàn tập (t2, tr.282) nhận xét: “Nguyễn Thực, Nguyễn Nghi là hai cha con đồng thời làm Thượng thư, được phong tước Quận công, đứng đầu các quan, thực là hiếm có. Hơn nữa lại dùng đức độ danh vọng mà trấn phục người trong nước, thanh liêm sẻn nhạt, giữ gìn mộc mạc, điềm đạm, thích lễ nghi...”.

Tác phẩm hiện còn 16 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Trong đó có bài Giang trung vãn diểu được nhiều người yêu thích:

“Tiên chu phiếm phiếm Tứ tân qua,

Tứ cố giang thiên đái vãn hà.

Nhạn tự tung hoành hồi tử tái,

Ngư thoa bát tích ức tình ba

Nguyên Long hồ hải khâm hoài khoát

Tư mã sơn xuyên hứng thưởng đa

Thả hỷ đế kinh kim tiếp cận

Tạm đình khách xướng thính ngư ca”

Chiều trên sông

Bồng bềnh sông Tứ thuyền tiên

Trời sông vương vấn bốn bên ráng chiều

Ai xa cánh nhạn bay vèo

Sóng êm cá lội dặt dìu thoi đưa

Nguyên long trí lớn hải hồ

Núi non tư mã say sưa vô cùng

Đế kinh gần gũi ta mừng

Ông chài ca hát thuyền dừng lắng nghe

2. Các thế hệ sau

Các thế hệ sau không làm hổ danh ông tổ mà tiếp tục làm rạng danh người khai khoa Nguyễn Thực.

- Nguyễn Nghi 阮宜(1588 - 1657). Con của Nguyễn Thực. Là người nghiêm nghị, phong độ đoan trang, tính tình thuần cẩn, học tập tinh vi. 32 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỉ Mùi niên hiệu Hoằng Định thứ 20 (1619) đời Lê Kính Tông. Năm Đức Long (1630) được cử đi sứ sang nhà Minh. Làm quan trải các chức như Hàn lâm viện Hiệu thảo, Lại bộ Thượng thư, Nhập thị Kinh diên kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Thiếu phó, tước Dương quận công. Khi mất được tặng Thái phó. Thọ 70 tuổi. Nguyễn Nghi có tên tự là Hòa Thiện, thụy là Cung Ý. Tác phẩm còn một bài thơ chữ Hán chép trong Toàn Việt thi lục.

Anh ruột có tên hiệu là Điềm Chính, đỗ Cử nhân, mất năm 29 tuổi khi chưa có con trai nối dõi.

Em trai là Nguyễn Phú có tên tự là Thanh Điền hiệu là Kỳ Lão, con thứ ba của Nguyễn Thực. Đỗ Nho sinh trúng thức, bổ làm Viên ngoại lang Bộ Hộ, sau thăng Tán trị thừa chánh sứ ty Tham nghị. Năm Quý Tị Thịnh Đức thứ 1 (1637) sung làm Tán lý đại thần, sau chuyển sang Thượng thư bộ Lại gia thêm hàm Thái phó.

Nguyễn Nghi có 5 con trai và hai con gái. Cả 5 con trai đều vinh hiển: Nguyễn Sủng, được phong Xuân Trường bá; Nguyễn Đậu được phong Hoằng tín đại phu; Nguyễn Hoành được phong Hoằng tín đại phu; Nguyễn Tào được phong Hoằng tín đại phu; Nguyễn Thái được phong Hoằng tín đại phu.

Trong số những người con của Nguyễn Nghi đặc biệt huân nghiệp của Nguyễn Sủng tự là Đạo Nguyên còn được ghi trong tấm bia do Phạm Công Trứ - Tiến sĩ xuất thân năm Mậu Thìn (1628) soạn với lòng đầy sự hâm mộ. Trong đó có đoạn: “Ôi, lấy mũ trận để răn sự kiêu căng, sửa cho mọi người điều nên sửa, ông dạy học hay dạy cách sống ở đời đều được mọi người kính trọng. Khi còn đang làm quan trong triều ông dùng dức độ dạy con, dùng lòng chính nghĩa của đấng trượng phu làm cho lòng dân được vững. Ông thường dùng phép thánh hiền để thấm dần vào dân, sai khiến dân bằng lòng của người trượng phu trong nhà thế phiệt. Ông như thể thánh hiền, lòng lúc nào cũng lo cho người dời, dắt dẫn người vươn lên bằng lòng nhân hậu. Vậy nên hoàng thiên cảm cách được công lao của ông, nam tào bắc đẩu cũng vì thế mà gia tăng tuổi thọ cho ông”(1).

(1). Nguyễn Khuê 阮 奎(1638 - ?)

Cháu tằng tôn của Nguyễn Thực, cháu nội của Nguyễn Nghi, anh của Nguyễn Sĩ, cha Nguyễn Thẩm. 33 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670) đời Lê Huyền Tông. Ông từng giữ chức Khuyến nông sứ (1725) thăng đến chức Hình bộ Thị lang, sau bị giáng xuống Thái bộc tự khanh, tước Diễn Phúc tử.

Trong số những người con của Nguyễn Khuê thì Nguyễn Thẩm đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Vĩnh Trị thứ 2(1706), làm quan Hữu Thị lang Bộ Lễ, Đốc đồng Sơn Tây, Hình khoa đô cấp sự trung, Quốc tử giám tế tửu...

(Con gái Nguyễn Khuê là Thị Đăng lấy Quách Văn Giai đỗ Thám hoa khoa thi năm 1680, làm quan Hồng lô tự khanh).

- Nguyễn Sĩ 阮仕(1645 -?)

Cháu tằng tôn của Nguyễn Thực, cháu nội Nguyễn Nghi, em Nguyễn Khuê, chú Nguyễn Thẩm.

26 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670) đời Lê Huyền Tông. Làm quan đến chức đến chức Giám sát.

- Nguyễn Thưởng 阮賞 (1727 - ?)

Cháu xa đời của Nguyễn Nghi.

28 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng thứ 15 (1754) đời Lê Hiển Tông. Làm quan đến Hàn lâm viện Thị giảng, Binh bộ Hữu thị lang, Đốc thị đạo Thuận Quảng, tước Khánh Xuyên hầu, mất ở nơi làm quan.

2. Nguyễn Yến 阮燕(1639 - 1679): là cháu đời thứ 4 của Nguyễn Thực. Năm 30 tuổi đỗ Tạo sĩ. Sau khi đỗ được phong chức Đội trưởng xuất thân quản, Cơ sát quản tỉnh Sơn Tây. Năm Quý Sửu 1637 được phong chức Phán Dũng tướng quân, tước Hoằng Trí bá,... (Con trai là Nguyễn Trạch làm chức Đề đốc, Nguyễn Gia giữ chức Ninh quân công. Ông có 3 người con gái, cả ba đều lấy chồng rất danh giá: con gái tên là Đĩnh lấy Nguyễn Công Dung đỗ Tiến sĩ năm 1676, cô thứ 2 tên là Huân lấy Nguyễn Túy Lang đỗ Tạo sĩ, cô út lấy Đào Quốc Hiển đỗ Tiến sĩ năm 1691, làm quan tới chức Tả Thị lang Bộ Hình)...

Đấy là những người đỗ đại khoa còn những người đỗ Trung khoa và tiểu khoa và làm quan các triều thì nhiều vô kể.

Chẳng hạn như Nguyễn Sủng sinh được 6 người con trai, ngoài Nguyễn Khuê và Nguyễn Sĩ đỗ Tiến sĩ thì Nguyễn Tân, con trai cả cũng đỗ Nho sinh làm quan tới Hiển cung đại phu, Nguyễn Canh làm Tri huyện huyện Gia Lâm, Nguyễn Điển làm Đồng tri phủ, Nguyễn Thuyên làm Chánh suất đội. Con gái của Nguyễn Sủng lấy Nguyễn Ngô Chung (đỗ Tiến sĩ năm 1676, làm quan Thượng thư Bộ Hộ).

Nguyễn Thẩm có 4 người con trai thì cả 4 người đều đỗ Cử nhân: Nguyễn Tôn làm quan tới Tán trị thừa chính sứ ty tại sứ Kinh bắc, tước Tiến công thứ lang; Nguyễn Phương làm Tri huyện Hiệp Hoà, Nguyễn Tể làm Huấn đạo phủ Trường Khánh; Nguyễn Song làm Hiệu lực vệ Tiến công thứ lang. Con gái thứ ba là Thị Duyên lấy Tiến sĩ Nguyễn Lân người làng Vân Điềm…

Cũng từ dòng họ này một chi chuyển đến sống ở Du Lâm và sinh ra Nguyễn Văn Phú (tức Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản, đỗ năm 1844, làm Thượng thư Bộ Lại, là người nổi tiếng thơ văn được vua Tự Đức rất yêu quý). Con của Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản là Nguyễn Hữu Kham cũng đỗ Tiến sĩ năm 1871, làm quan tới chức Tham biện, Hồng lô tự khanh…

Dù ở Vân Điềm hay Du Lâm thì dòng họ Nguyễn Thực vẫn giữ được dòng máu hào hoa, nuôi dưỡng và liên tục sản sinh ra nhân tài cho đất nước. Hiện trong nhà thờ của dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm còn giữ được rất nhiều đôi câu đối nói về sự nghiệp rạng rỡ của dòng họ. Trong đó có những câu như:

公奎相印朝榮遇

子孝臣忠國簡如

Công Khuê tướng ấn triều vinh ngộ,

Tử hiếu thần trung quốc giản như.

(Ông là sao Khuê có tướng ấn vinh hoa chốn triều trung

Là con hiếu thảo bậc tôi trung thành sử nước còn ghi).

家廷素講詩書禮

將相聯登祖父孫

Gia đình tố giảng thi thư lễ

Tướng tướng liên đăng tổ phụ tôn.

(Gia đình thanh bạch theo nghiệp giảng thi thư lễ

Tổ tiên cha con nối đời làm tướng võ tướng văn).

橤榜流芳朝進士

槐軒預正國名臣

Nhụy bảng lưu phương triều tiến sĩ

Hoè hiên dự chính quốc danh thần.

(Bảng nhung còn vang tiếng thơm, làm quan tiến sĩ trong triều

Cha con tham dự triều chính, xứng bậc danh thần trong nước).

Đôi nét giới thiệu sơ lược về một dòng họ hào hoa xứ Kinh Bắc ngoài việc tôn vinh những nhà khoa bảng – nhân tài của đất nước còn nhằm nêu những tấm gương sáng về tinh thần học tập hăng say của nhiều thế hệ, đóng góp vào việc khuyến học trong xã hội ngày nay. Thiết nghĩ một dòng họ hào hoa như thế cần có những nghiên cứu nhiều hơn và chúng tôi hy vọng sẽ có dịp trở lại với dòng họ này bằng những bài viết sâu hơn nữa.

Chú thích:

(1) Chúng tôi đã giới thiệu nguyên văn tấm bia này trong Thông báo Hán Nôm năm 2005./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.386-393)

Vương Hường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm