VI | EN
38. Về một bộ luật viết bằng chữ Nôm (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

VỀ MỘT BỘ LUẬT VIẾT BẰNG CHỮ NÔM

PHẠM NGỌC HƯỜNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Bộ luật có tên Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca, là văn bản diễn Nôm toàn bộ Hoàng Việt luật lệ do Ngô Dĩnh quan Án sát sứ tỉnh Cao Bằng thực hiện. Sách ký hiệu AB.321 hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Toàn bộ cuốn sách có độ dầy 164 trang, khổ 28x16. Trong lịch sử các triều đại Phong kiến Việt Nam, có rất nhiều bộ luật được viết bằng chữ Hán, nhưng có thể nói đây là bộ luật hoàn thiện và duy nhất được diễn lại bằng chữ Nôm.

Văn bản còn nguyên vẹn, không ghi rõ ngày tháng năm biên soạn sách, gồm tổng cộng 1696 câu, được viết theo thể lục bát và song thất lục bát.

Về tác gia Ngô Dĩnh, sau lời dẫn của sách có ghi một dòng về tác giả là Ngô Dĩnh, hiệu Cát Xuyên, là quan Án sát sứ tỉnh Cao Bằng. Theo tìm hiểu tra cứu hiện tại chưa có tài liệu nào nghiên cứu hay viết về ông. Bản thân các sách Hán Nôm viết về tác giả này cũng hầu như không có, thời đại sinh sống của ông và niên đại sáng tác của tác phẩm Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca cũng không thấy có bất kể tư liệu nào đề cập đến. Nhưng căn cứ vào thời gian ra đời của bộ Luật Gia Long (1813), có thể suy đoán tác giả sống vào khoảng cuối thế kỷ XIX, và có lẽ tác phẩm cũng ra đời trong khoảng thời gian này?

Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Luật Gia Long) gồm 22 quyển 398 điều, là một bộ luật lớn nhất của nền cổ luật Việt Nam. Có thể nói, đây là một bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất của nhà nước phong kiến Việt Nam. Vua Gia Long (1802-1820) là người đã góp công đầu trong việc thống nhất nước nhà, dựng lên vương triều Nguyễn. Chiến tranh kéo dài, mọi việc trong nước bị đình đốn, pháp luật thì bị quên lãng hoàn toàn. Bởi vậy ngay sau khi lên ngôi Hoàng đế, vua Gia Long đã tập trung giải quyết nhiều vấn đề hệ trọng. Xây dựng bộ luật cho nước nhà là một trong những vấn đề được ông đặc biệt quan tâm. Để giúp cho công cuộc trị nước lâu dài, ông đã ra lệnh cho các triều thần biên soạn một bộ luật. Người đứng đầu công việc soạn thảo bộ luật này là Tiền quân Bắc thành Tổng trấn Nguyễn Văn Thành (1757-1817) làm Tổng tài. Công việc được tiến hành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua Gia Long. Cùng tham gia biên soạn với Nguyễn Văn Thành là hai ông Vũ Trinh (1769-1828) và Trần Hựu(1) . Bộ luật được biên soạn trong một thời gian dài, mãi đến năm 1811 mới hoàn tất. Năm 1812 sách được khắc in lần đầu ở Trung Quốc, trong sách còn ghi lại bài Tựa của đương kim Hoàng đế Gia Long. Theo lời tựa, có thể thấy rõ: sau khi sách được biên soạn xong, nhà vua đã trực tiếp đọc duyệt, tu chỉnh lại lần cuối trước khi cho phép khắc in. Bộ luật này chính thức được áp dụng trên phạm vi toàn quốc vào năm 1813 (năm Gia Long thứ 12).

So với Luật Hồng Đức, bộ Luật Gia Long có tính hệ thống hơn, đầy đủ hơn, nội dung tỷ mỷ xác thực, phản ánh được đầy đủ hiện thực khách quan sinh động, sự tiến bộ trong tư tưởng và cách thức lập pháp cùng với các mối quan hệ phức tạp trong xã hội thời Nguyễn. Luật Gia Long đã kế thừa những điểm tiến bộ trong Luật Hồng Đức từ thời Lê. Đồng thời, Luật Gia Long cũng đã biết khéo léo tiếp thu những nét tinh hoa từ Đại Thanh luật lệ của Trung Quốc, chọn lựa những điều luật phù hợp với điều kiện hoàn cảnh và phong tục của người Việt Nam. Vì vậy, Luật Gia Long mang bản sắc mới mẻ của riêng mình, chiếm vai trò tương đối quan trọng trong lịch sử pháp luật thế giới. (Theo Nho gia tư tưởng đối Hoàng Việt luật lệ đích ảnh hưởng của Giáo sư Hà Thành Hiên, Viện Triết học Trung Quốc).

Nội dung cơ bản của tư tưởng pháp luật Nho gia là duy trì bảo vệ lễ trị, dùng lễ là chủ yếu, lễ pháp kết hợp, đề xướng đức trị, đức là chính hình là phụ trợ, khoan dung nhưng lại nghiêm khắc, coi trọng nhân trị, nhân trị và pháp trị cùng kết hợp. Luật Gia Long đã lấy tư tưởng pháp luật Nho gia làm căn cứ lý luận dùng để chỉ đạo các phương pháp ứng dụng và nguyên tắc lập pháp của điều luật. Có thể nói Luật Gia Long là sự thể hiện tập trung nhất tư tưởng Nho gia trong pháp luật phong kiến Việt Nam. Bộ luật gồm có 45 điều về Danh lệ (tên gọi luật lệ), 27 điều về Lại luật (luật quan lại), 66 điều về Hộ luật (luật về dân), 26 điều về Lễ luật (luật về Lễ), 58 điều về Binh luật (luật nhà binh), 166 điều về Hình luật (luật hình sự) và 10 điều về Công luật.

Phần Danh lệ gồm có 45 điều, dài 206 câu, nội dung đề cập đến tên gọi cụ thể của các điều luật.

Phần Lại luật gồm có 27 điều, dài 174 câu. Nội dung của phần Lại luật đề cập đến các vấn đề: chế độ quan chức (13 điều), Công chức thông dụng (14 điều).

Phần Hộ luật gồm có 64 điều, dài 297 câu, đề cập đến các vấn đề: Việc dân (11 điều), Ruộng, nhà (10 điều), Hôn nhân (16 điều), Thương khố (22 điều), Hạn thuế (2 điều) và Cho vay tiền (3 điều).

Phần Lễ luật gồm có 26 điều, dài 106 câu , bao gồm hai phần: Tế tự (6 điều) và Nghi chế ( 20 điều).

Phần Binh luật gồm có 58 điều, dài 197 câu, đề cập đến các vấn đề: Canh gác nơi vua ở (16 điều), Việc quân chính (20 điều), Đồn canh xét trên đất trên sông (5 điều), Chăn nuôi chuồng trại (5 điều) và Bưu dịch (12 điều).

Phần Hình luật gồm 166 điều, dài 642 câu. Nội dung của phần Hình luật đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau nảy sinh trong đời sống thường ngày: Trộm cắp (28 điều), Nhân mạng (20 điều), Đánh lộn (22 điều), Mắng chửi (8 điều), Kiện thưa (11 điều), Nhận của hối lộ (9 điều), Dối trá (11 điều), Phạm gian (9 điều), Tạp phạm (11 điều), Bắt giữ tội nhân (8 điều) và Phán quyết án lệnh (29 điều).

Phần Công luật gồm 10 điều, dài 56 câu. Phần Công luật đề cập đến 2 vấn đề chính: Xây cất (6 điều) và Đê điều (4 điều).

Tác phẩm đã diễn Nôm lại toàn bộ 398 điều luật từ văn bản Hoàng Việt luật lệ. Khi diễn Nôm, nội dung của từng điều luật đã được trích lược rút gọn (toát yếu), chỉ giữ lại nội dung chủ yếu của điều luật, như tên các điều luật cụ thể và luật đó được áp dụng mức hình phạt như thế nào, rồi thêm vào những câu có ý răn dạy con người phải giữ lấy luật, giữ lề thói.

Văn bản diễn Nôm thể lục bát, đôi lúc có chen vào thể thơ song thất. Đây là một thể thơ đặc thù của Việt Nam, giàu giá trị biểu cảm, có khả năng thể hiện những trạng thái tâm hồn để mô tả. Thơ lục bát tuân thủ luật về thanh và vần rất nghiêm ngặt. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà. Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau. Tác giả đã chọn cách diễn Nôm bằng một lối thơ dân tộc dễ nhớ dễ hiểu, khiến các điều luật dễ thấm sâu vào lòng người, làm cho mọi người đều hiểu được luật nước nhà mà giữ lề thói phong tục, tránh được các hành vi vi phạm pháp luật.

Chữ Nôm trong văn bản là chữ Nôm tiêu biểu thời Nguyễn, loại chữ tự tạo chiếm tỉ lệ nhiều, nên tương đối dễ đọc, dễ hiểu. Ngoài ra, trong tác phẩm, tác giả sử dụng khá nhiều điển cố của Trung Quốc giúp cho câu thơ ngắn gọn xúc tích, đảm bảo được niêm luật thơ nhưng vẫn nêu bật được nội dung của các điều luật. Ví dụ trong lời dẫn của bộ luật, nói về cảnh thái bình thời vua Ngu vua Thuấn, ngoài đường không lượm của rơi, trong nhà khỏi lo đóng cửa, hoặc nói về Bá Di và Thúc Tề hai người lấy việc mất nước làm xấu hổ, bỏ lên núi Thú Dương hái rau vi mà ăn, nhất định không chịu ăn thóc Nhà Chu.

Do Bộ luật khá dầy, việc phiên âm giới thiệu toàn bộ nội dung, chúng tôi xin công bố với độc giả vào dịp khác, trong phần cuối bài viết này chúng tôi chỉ xin phiên âm giới thiệu một số đoạn của văn bản:

Dẫn:

Sảnh đường nhân lúc công nhàn

Trải xemphụ trị sự quan dùng hình

Đọc thư vạn quyển đã đành

Trí quân Nghiêu Thuấn phải tinh luật này

Hoàng Việt luật lệ xưa nay

Ban hành kể đã từ ngày khai cơ

Chữ khâm chữ tuất ở Ngu thư(2)

Bá Di(3) giáng điển ngàn xưa cũng vầy

Thăng bình gặp hội ngày nay

Mượn đem quốc ngữ diễn bày một hai

Ngâm nga gợi nhớ đầu bài

Tiện khi kết nghĩ tìm tòi dễ tra

Bằng như lời lẽ sai ngoa

Còn mong quân tử xét mà bảo cho

Tay tiên thêm vẻ điểm tô

Nôm na chắp nhặt nên pho hoạ là

DANH LỆ

Nay đây pho luật nước nhà

Quyển đầu danh lệ diễn ra rành rành

- Thứ nhất này mục ngũ hình(4)

Một si(5) hai trượng đồ hình là ba

Bốn lưu đi ở phương xa

Năm là hình tử tấu qua thẩm lường

Hình nào cho chuộc phải tường

Nạp thu chuộc tội rộng đường hiếu sinh

- Thứ hai thập ác(6) tội danh

Mưu phản đại nghịch đích tình chẳng thương

Mưu bạn(7) ác nghịch đôi đường

Bất đạo, bất kính cũng phường vi phi

Bất hiếu, bất mục kể chi

Tuồng chi bất nghĩa, tuồng gì nội gian

- Thứ ba bát nghị(8) để bàn

Trình so tình tội mà toan gỡ cùng

Nghị thân, nghị cố, nghị công

Nghị hiền, thôi lại nghị năng, nghị cần

Lại còn nghị quý, nghị tân

Luận bàn cho hết xa gần nhẽ thương

..............

LẠI LUẬT

Ấy là danh lệ nước ta

Lại đem Lại luật ngâm nga cho tường

- Bốn sáu tập ấm(9) quan viên

Bất y thứ tự tam niên trượng đồ

Trá mạo dị tính mô hồ(10)

Dưỡng tử trượng bách phát hồ viễn biên(11)

Người nào giáo sử cho nên

Dữ phạm đồng tội chớ phiền rằng oan

- Bốn bảy nói việc tuyển quan

Đại thần chuyên thiện(12) chém giam tức thì

Nhược bằng thân thích đại thần

Phi phụng đặc chỉ chẳng phần thụ quan(13)

Diện dụ(14) sai khiển từ nan

Trượng bãi bất tự nói bàn đã lâu

- Điều bốn mươi tám thuộc làu

Văn quan bất hứa phong hầu phong công(15)

Sở ty tấu thỉnh mông lung

Thỉnh giả thụ giả tội đồng chém gian

..............

HỘ LUẬT

- Bảy mươi ba nói phân nhân hộ

Dĩ tịch vi định(16) sở phân minh

Nhược bằng tị trọng tựu khinh

Trá mạo thoát miễn(17) trượng thành tám mươi

Vọng chuẩn thoát miễn những người

Biến loạn phản tịch tội thì đồng danh

- Bảy mươi tư hộ đinh ẩn lậu(18)

Xã trưởng kia ẩn lậu đinh đi

Nhất đinh trượng lục thập chi

Mỗi đinh gia đẳng vậy thì đã cam

- Bảy mươi lăm viện am tư sáng(19)

Tư độ tăng đạo trượng thập tuần

Tăng đạo hồi tục sung quân

Nay quan chư nữ vi nhân nô tỳ

- Bảy mươi sáu luật ghi lập đích(20)

Vi pháp(21) thì trượng trách tám mươi

Đích thê tuổi năm mươi rồi

Không con mới được lập người thứ sau

...............

LỄ LUẬT

Ấy pho Hộ luật kể rồi

Mới đem Lễ luật giảng chơi một kỳ

- Trăm ba mươi chín kể đi

Luật là tế hưởng(22) hữu ti sở tồn

Nhật kỳ bất cáo nha môn

Si y ngũ thập đánh đòn chẳng sai

- Số một trăm thứ bốn mươi

Khưu đàn(23) đại phạm bảo người kính tin

Ai mà huỷ tổn trên đền

Nhất bách trượng mãn tam thiên lưu đầy

- Số trăm bốn mốt đây này

Chí tế tự điển thần kỳ trấn doanh

Sở ty giữ mặc tướng thành

Thất kỳ(24) ngộ tế trượng đành một trăm

.................

BINH LUẬT

- Trăm sáu mươi lăm Luật binh

Thái miếu thiện nhập(25) trượng hình đủ trăm

- Số trăm sáu sáu phải răn

Cung điện thiện nhập(26) trượng trăm cho chừa

- Trăm sáu mươi bảy có thừa

Túc vệ thủ vệ nhân tư đại hành(27)

Bất trực si tứ thập khinh

Thủ danh đại thế trượng đành sáu mươi

- Trăm sáu mươi tám đây rồi

Khể vi tùng giá(28) si thì bốn mươi

Mỗi tam nhật gia đẳng ngoài

Tội chỉ trượng bách quan thì đẳng gia

- Trăm sáu mươi chín kể ra

Trực hành ngự đạo(29) trượng là tám mươi

...............

HÌNH LUẬT

- Hình luật hai trăm hai ba

Mưu phản đại nghịch tội gia lăng trì(30)

Nam tự thập ngũ tuế(31) nhi

Thứ cho duyên toạ tài thì quan thâu

- Hai trăm hai bốn phản mưu

Bất phân tòng thủ tội tru(32) nan từ

- Hai trăm mười(33) lăm có dư

Tạo yêu ngôn với yêu thư(34) một đoàn

Ấy là hoặc chúng(35) nhất ban

Giai(36) chém giam hầu chẳng khoan một phần

- Hai trăm hai sáu kể dần

Đạo đại ngự vật tự thần(37) chẳng dung

Án minh luận chém cho công

Kìa dư quan vật đồ cùng ba thu

- Hai trăm hai bảy bảo cho

Tội ai đạo thủ chế thư(38) chém hình

..............

CÔNG LUẬT

Hãy xem Công luật sau này

Doanh tạo tắc lệ phải hay mọi điều

- Ba trăm tám chín tuân theo

Luật thiện tạo tác(39) là điều chẳng dung

Kê tiền sở dịch cố công(40)

Dĩ toạ tang luận dịch không thị thường

- Ba trăm chín chín tỏ dường

Hư phí công lực mỗi đường làm đây

Thái thú bất kham dụng(41) này

Kê tiền công phí luận rày toạ tang

- Ba trăm chín mốt đã đang

Tạo bất như pháp(42) si thường bốn mươi

Bất kham dụng giả phải bồi

Dĩ toạ tang luận cho người sở ty.

Chú thích:

(1) Trần Hựu: làm Đông các học sĩ đời vua Gia Long, không rõ năm sinh năm mất.

(2) Sách miêu tả cảnh thái bình thời vua Ngu Thuấn, ngoài đường không lượm của rơi, trong nhà khỏi lo đóng cửa.

(3) Bá Di và Thúc Tề hai người lấy việc mất nước làm xấu hổ, bỏ lên núi Thú Dương hái rau vi mà ăn, nhất định không chịu ăn thóc Nhà Chu.

(4) Năm tội khổ sai, gồm 1) Phạt roi: dùng roi mây nhỏ đánh, 2) Phạt trượng: trượng nặng hơn roi 1 bậc, dùng roi mây loại vừa đánh, 3) Phạt tội đồ: bắt làm nô lệ, 4) Phạt tội lưu đày: đầy đi phương xa, 5) Phạt tội chết.

(5) Si: đánh roi, đánh bằng bàn vả, là 1 hình trong ngũ hình ngày xưa.

(6) Mười tội ác, gồm: mưu phản, mưu đại nghịch, phản bội, ác nghịch, bất đạo, đại bất kính, bất hiếu, bất mục (mất hòa thuận), bất nghĩa, nội loạn.

(7) Bạn: làm phản.

(8) Bát nghị: tám nghị - xử theo tám trường hợp đặc biệt, gồm Nghị thân (nghị xử đối với cha mẹ), Nghị cố (nghị xử đối với những người cũ của Hoàng gia), Nghị công (nghị xử đối với những người có công), Nghị hiền (nghị xử đối với những người hiền triết), Nghị năng (nghị xử đối với những người có tài năng), Nghị cần (nghị xử đối với những người năng nổ, siêng năng), Nghị quý (nghị xử đối với hạng quý tộc), Nghị tân (nghị xử đối với người nối sau của triều đại trước là quốc khách).

(9) Tập ấm: ông cha có công với đất nước, triều đình ban chức cho con cháu nối đời. (Theo thứ tự tập ấm có hai đặc ân: ấm cho con cháu gọi là ân ấm; Ông cha có công lao với việc phò vua giúp nước (đã chết) thì con cháu họ được gọi là tước ấm).

(10) Trá mạo dị tính mô hồ: giả mạo đem người khác họ (làm người kế thừa tập ấm).

(11) Phát hồ viễn biên: đày ra biên giới xa.

(12) Chuyên thiện: tự tiện chuyên quyền.

(13) Phi phụng đặc chỉ chẳng phần thụ quan: không có chỉ thì cũng không được tuyển làm quan.

(14) Dụ: sắc dụ.

(15) Phong công: phong tước Công.

(16) Dĩ tịch vi định: lấy quê quán làm nơi ổn định.

(17) Trá mạo thoát miễn: dối trá, giả mạo (để) thoát (/tránh) tội.

(18) Hộ đinh ẩn lậu: giấu giếm (người ngoài) sổ đinh.

(19) Viện am tư sáng: tự xây cất, tạo dựng am viện.

(20) Lập đích: lập con trai chính, lập cháu đích tôn.

(21) Vi pháp: vi phạm pháp luật.

(22) Tế hưởng: cúng tế, tế tự.

(23) Khưu đàn: gò (dựng) đàn tế lễ. Chỉ nơi tôn nghiêm dùng để làm lễ tế trời đất.

(24) Thất kỳ: quên (/lỡ) ngày. Ý cả câu: đến ngày cúng giỗ các thần mà cũng quên không cúng.

(25) Thái miếu thiện nhập: tự tiện vào cửa Thái miếu.

(26) Cung điện thiện nhập: tự tiện vào cửa cung điện.

(27) Đại hành: thay thế làm. Cả câu ý nói túc vệ, thủ vệ tự ý đem người thay làm cho mình.

(28) Khể vi tùng giá: sai trái khi hầu xe vua.

(29) Trực hành ngự đạo: đi thẳng vào lối nhà vua đi.

(30) Lăng trì: tùng xẻo (hình thức xử tử hình bằng cách xẻo thịt từng bộ phận trên cơ thể con người).

(31) Tự thập ngũ tuế: từ tuổi mười lăm.

(32) Chu: (tội) chu di.

(33) Sách chép là “hai trăm mười lăm” nhưng điều luật này là điều thứ hai trăm hai lăm

(34) Tạo yêu ngôn với yêu thư: làm ra sách quái đản, nói lời yêu mị.

(35) Hoặc chúng: mê hoặc quần chúng.

(36) Giai: đều.

(37) Đại đạo ngự vật tự thần: ăn trộm vật thần ngự trong đền thờ (xã tắc).

(38) Đạo thủ chế thư: ăn trộm sách của vua.

(39) Thiện tạo tác: tự ý xây cất.

(40) Cố công: tiền công thợ, công (cho) người làm thuê.

(41) Thái thú bất kham dụng: lấy nhiều quá dùng không hết.

(42) Tạo bất như pháp: xây dựng không đúng với phép tắc./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.471-483

Phạm Ngọc Hường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm