VI | EN
39. Long Thành qua ngòi bút của Tạ Ngọc
tb07

LONG THÀNH QUA NGÒI BÚT CỦA TẠ NGỌC

HOÀNG THỊ MAI HƯƠNG

Quận Thanh Xuân, Hà Nội

 

Tạ Ngọc Hoàng Thụy chi người thôn Thị, xã Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thuộc dòng dõi họ Hoàng sáu đời từ tổ đến chắt chút có tới 54 người nối nhau đỗ đạt; ông nội là Hoàng Văn Dĩnh làm đến chức Ngự sử triều Lê, được sắc tặng Triều liệt đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ; bác là Tiến sĩ Hoàng Văn Hòe làm quan đến Thị độc triều Nguyễn; cha là Hoàng Thụy Liên được phong làm Hàn lâm viện Thị giảng Thị độc, Thái bộc tự khanh. Bản thân Hoàng Thụy Chi cũng không hổ thẹn trước tổ tông với chức Đốc học, Huấn đạo, Tổng đốc Ninh - Thái...

Về trước tác, Tạ Ngọc là chủ nhân của số lượng lớn các tác phẩm đủ loại: phú, ký, tự, văn... tổng số tới 49 tác phẩm, đó là chưa kể rất nhiều câu đối ông tặng bè bạn. Thể loại nào ông cũng bộc lộ tình cảm đằm thắm, tính cách hóm hỉnh, pha chút ngang tàng tài hoa của một trang tử lãng mạn.

Có lẽ thể phú và ký (thể loại khá tự do trong việc bộc lộ cảm hứng) là mảnh đất tung hoành trong sáng tác của Tạ Ngọc. Cói tới hàng chục bài phú, ký vịnh cảnh thiên nhiên trong đó cảnh Thăng Long những năm đầu của thế kỷ 20 chiếm 8 bài: Sắc thu Tây hồ, Sắc xuân Long thành, Thư viện Phượng trì (ven Hồ Gươm), Hóng mát trên cầu Thê Húc, Tập tiền và tập hậu du lãm Hồ Tây, Dạo chơi ở Châu Long, Khởi công xây dựng cầu Nhị hà. Có những cảnh được nhiều người ngâm vịnh từa xưa nhưng đọc tác phẩm của ông có lẽ ta mới cảm nhận được một cách ngọt ngào và tận hưởng hết vẻ nên thơ ý vị của cảnh sắc qua những phát hiện nếu không phải là của một tâm hồn nhậy cảm, tinh tế, thắm tình với non sông thì không thể có được.

Văn là người, ký phú là sở trường của Tạ Ngọc. Xin độc giả tạm thưởng thức hai bài ký Hóng mát trên cầu Thê Húc và phú Sắc xuân Long thành bằng chữ Hán của tác giả.

Bài phú: Sắc xuân Long thành.

Phiên âm:

Long thành xuân sắc phú (phong cảnh y hy tự tích niên)

Điếu vãng tích vu Thăng Long hề, hà vượng chí khí uất công.

Quan hà tạc mộng, long nhạn cao phong.

Phương thảo thành biên, tán trường thiên chi thặng bích,

Tà dương giang thượng, lưu ngũ đại chi tàn hồng.

Đồ lãnh, tao nhân cảm cựu, xuân nhật huề cùng.

Đối thanh phong hề, ca trường tùng,

Thán xuân chi lạc mịch hề, sách ngâm tư vu thành Đông.

Tư thành Dã. Phượng chủy đài lưu, Nùng sơn nguyệt lãnh.

Mã kỷ độ vu Ngô giang, oa không văn vu Thục tỉnh.

Duyệt tiền triều chi phế hưng, do kim nhật chi yên cảnh.

Sổ bách niên lưu truyền thắng tích, vật hoa thiên bảo chi khư,

Tam thập nhai phồn hội nhân yên, mã tích xa trần chi cảnh.

Hà long tư phi, thử thành thử trì. Thiên niên vu tư, xuân sắc y y.

Xuân trướng Tây hồ, lục dương phì dã.

Xuân sinh kiếm thủy, bích gnẫu tư dã.

Huyền vũ từ tiền, kiếm khí đạm tinh thần chi sắc,

Ngọc sơn kiều bạn, điếu đài thê vân hạc chi bi.

Thử bách lý chi bang kỳ hề, hồ sơn vi chi phấn chỉ.

Tuy tinh vật chi hoán di hề, ái thiều quang chi mê ly.

Oanh ca vận náo, phượng hưởng thành xuy.

Lộ thượng nhi cô hoa khách khứ,

Giang đầu nhi thập thuýt nhân quy.

Tối lân thanh nữ đa tình, cẩm trang nhập họa.

Thậm xứ hồng lâu yến hội, đào diệp đề thi,

Mãn nhãn chi hào hoa vị tản,

Tiền vương chi cảnh tượng hoàn hy,

Sở dĩ năm quốc giai nhân, Đông kinh tài tử.

Du mục sính hoài, đăng sơn lâm thủy.

Hoặc ca Đỗ Nhược vu tiền châu, hoặc phú Chỉ Lan vu trung chỉ.

Trướng xuân ảnh chi thư thoa, oán xuân quang chi tự thủy.

Thỉ dục vấn Hoàng châu xuân sắc, hiếu cảnh thùy luân.

Kỳ kim cố quốc phồn hoa, phong lưu hạt tự.

Hạc quy dạ nguyệt, sái di lệ vu đinh tiên.

Hoa tiếu đông phong, ký phương tình vu bỉ mỹ.

Tuy nhiên, tứ thời giả thiên địa chi đán tịch dã.

Nhân sinh giả, bách niên chi hành khách dã.

Xuân hạ thu đông thư thảm tự vi điệt vận thành quách,

Nhân dân hưng phế đa thành trận tích.

Hựu hà rất hệ chi dĩ cảm khái, thậm chi dĩ thán tích. Dã tai!

Cẩu năng thừa lương thần dĩ hành lạc tứ dư tâm chi sở thích.

Đăng thành thượng chi cao lâu, cộng tầm xuân vu tử mạch.

Thử địa y nhiên bất cải, bút họa kình thiên.

Tráng sĩ túng một kỳ danh, hồ lưu Trúc bạch.

Ưu giang sơn chi tín mỹ, ái xuân dung chi sự tích.

Huống hồ thạch kiều xạ nguyệt, thiết điện tỏa yên.

Ngân hoa thế giới, kim phấn sơn xuyên.

Quá tư thành cho ngoạn cảnh, kiến khí trượng chi vạn thiên.

Vãng cổ, hậu vô bách niên.

Khách hoài dục tả, lãng hứng phiêu nhiên.

Tam nguyệt mộ xuân, bất nhẫn tục Vương Dật Thiếu Lan đình chi tự.

Thập niên thử địa, thả nguyện học Hoàng Hạc Nhân Long Đỗ chi thiên.

Dịch nghĩa:

Viếng dấu xưa nơi Thăng Long, (đâu vượng khí phun lên ngùn ngụt)

Non sông vừa mộng, rồng hạc bay cao.

Cỏ ngát bên thành, nối trời xanh mơn mởn,

Tả dương sông nước, lưu ráng đỏ năm đời.

Tao nhân hoài cổ, chống gậy du xuân,

Đối đáp với phong xanh, ca hát cùng tùng cổ.

Than nỗi vẻ xuân tịch mịch, ngâm nga ở chốn thành Đông.

Nơi thành đây:

Mỏ Phượng đài hoang, non Nùng trăng lạnh.

Ngựa đã về sông Ngô, ếch vẫn kêu giếng Thục.

Cảnh chiều xưa hưng phế, còn trong sương khói bây giờ.

Mấy trăm năm lưu truyền thắng tích, nơi gò Thiên bảo vật hoa.

Hơn ba chục phố xá thịnh phồn, in chốn bụi xe chốn ngựa.

Đâu chỗ rồng bay, thành này trì nọ.

Ngàn năm nơi ấy, xuân sắc y nguyên.

Xuân ngập hồ Tây, liễu xanh mơn mởn,

Xuân sinh nước kiếm, sen biếc nõn nà.

Trước đền Huyền Vũ, khí kiếm nhạt nhòa sao sáng,

Bờ Cầu núi Ngọc, Điều Đài bi thiết hạc mây.

Trong cảnh kinh kỳ trăm dặm, núi hồ thoa phần thoa son.

Mặc cho vật đổi sao dời, ánh xuân mê ly ấm áp.

Oanh ca rộn rã, phượng múa du dương.

Trên đường khách tới mua hoa, đầu sông người về chọn sắc.

Thương thay thanh nữ đa tình điểm trang như vẽ,

Khắp xứ lầu hồng yến hội, lá thắm đề thơ.

Ngợp mắt hào hoa chưa hết, triều xưa cảnh tượng còn thưa.

Cho nên: giai nhân Nam quốc tài tử Đông kinh,

Tấp nập dạo chơi lên non xuống nước.

Hoặc ca Đỗ Nhược ở Tiền Châu, hoặc ngâm Chỉ Lan nơi mé nước.

Buồn cho xuân cảnh thoi đưa, oán nhẽ sắc xuân nước chảy.

Muốn hỏi xuân sắc Hoàng Châu, ai đem cảnh đẹp.

Mà nay phồn hoa nước cũ, đâu sánh phong lưu.

Hạc về trăng sáng, vương lệ sót ở Đinh Tiên.

Hoa ngạo gió đông, gửi tình thơm nơi đẹp nọ.

Dẫu biết bốn mùa là sớm chiều của trời đất, đời người là hành khách của trăm năm.

Xuân hạ thu đông, buồn vui tự người thay đổi.

Nhân dân thành quách, phế hưng đúc kết chuyện xưa.

Vậy thì: liên quan (gì) mà cảm thán.

Sâu lắng (gì) mà thở than.

Theo thời mà hành lạc, phóng tứ với sở tâm.

Trèo lên thành thường lầu cao, cùng tìm xuân nơi tử mạch.

Đất vẫn như xưa không đổi, bút họa chống trời.

Tráng sĩ để mất danh thơm, hồ lưu Trúc Bạch.

Huống hồ cầu đá bắn trăng, khóa sương đền sắt,

Núi sông này càng tươi đẹp, yêu xuân dáng vẻ tự xưa.

Thế giới bạc hoa, núi sông kim phấn.

Đến thành này thì thưởng ngoạn, nhìn xuyên tượng khí vạn năm.

Tự trước đến nay trăm năm đâu có.

Khách hằng muốn tả, sóng dậy lao xao.

Khi tháng ba xuân hết chẳng đành theo chép tiếp Lan đình của Vương Dật Thiếu.

Ở đất ấy mười năm những muốn học thiên Long Đỗ của Hoàng Hạc Nhân.

Thật là những áng văn nhàn nhã, bay bổng, đầy ắp âm điệu của thơ, của nhạc, lung linh ánh sáng đường nét của thiên nhiên, đọc lên ngân nga trong vắt, thánh thót như tiếng chuông vàng, khánh ngọc làm cho ta từ lâng lâng ngây ngất đến giật mình: Cái thú thanh tao, cảnh thần tiên ở ngay trước mắt ta nào phải tìm tận đầu đâu.

Chú ý: Vương Dật Thiếu là hiệu của thư pháp Vương Hy Chi.

Hạc Nhân là hiệu của Hoàng Văn Hòe - anh Hoàng Thụy Chi.

Bài ký:Thê Húc kiều thừa lương ký

Nhất tịch, dư dữ hữu chỉnh khâm phất tụ, tương vy đăng lâm chi thú,

Nhân thừa lương duyên, Long Biên phồn hoa địa dã, cận nhật tùng bôn.

Tiệm khai, lâm tuyền sinh sắc, phương túy dư bất tri sở chi.

Hốt nhập nhất xứ, diện tiền lâu đài lịch lịch, vân yên phiêu diệu.

Quá Hồ Môn nhất kiều, kiều giá Tả Vọng hồ nhai, hoành nhập Ngọc Sơn tự, hữu long ngọa ba hồng lộ đương không chi thế.

Tiệm hành tiệm hoát, hốt như đăng tiên nhất lộ.

Trữ kiều thượng tứ vọng, bồng đầu tiên túc, vi phong nhiêu chi tự năm phương nhi lai.

Thần phương xuân hạ chi giao oanh minh náo ca, hà hoa thủy khai.

Vũ dư khí hòa, mãn hồ quang cảnh.

Đãng nhiên tự tẩy, tự trung giai trì nhân,

Nhật tịch thiêu hương đả chung khánh, thanh lạc hồ thủy, như ba đào nộ kích tri âm dư trường tiện giác tỉnh.

Quá kiều nhi quan tắc quản hàn nguyệt thị, dĩ tùy kiều nhi khước hành dã.

Dư cấp hồ hữu, tả thủ viện kình thiên bút, hữu thụ sái Nghiên đài mặc, dĩ trợ tiêu giao tử, tác nhất dã dụ.

Dịch nghĩa: Hóng mát cầu Thê Húc

Một chiều tà cùng bạn hữu chỉnh áo sửa khăn, tìm thú du nhàn nhân đó cùng đi hóng mát.

Long Biên đất phồn hoa.

Ngày qua, khóm hoa dần nở, rừng suối tốt tươi.

Đang say mê không biết nơi nào, bỗng chân bước lạc vào một chốn.

Trước mắt: lâu đài hiển hiện, lãng đãng khói mây.

Qua Hổ Môn bước tới cây cầu bắc ở bên hồ Tả Vọng, vắt ngang nối tới Ngọc Sơn, có thế rồng nằm trên sông, cầu vồng lấp lánh lưng trời.

Vừa đi vừa ngắm, ngỡ lạc cõi tiên.

Tựa cầu nhìn ra bốn phía, tóc rối chân trần.

Gió mát hiu hiu từ phương nam thổi tới.

Bây giờ xuân hạ giao thời, chim chóc ca vang, hoa sen mới hé.

Sau mưa mát mẻ lấp lánh mặt hồ.

Sảng khoái lâng lâng, trong chùa giữ khách, sớm tối hương đăng.

Tiếng gõ khánh thỉnh chuông rơi vào đáy nước, như rội vang dậy lớp ba đào.

Ta dần dần tỉnh mộng định bước qua cầu thì trăng đã treo gương, đành quay lưng dừng bước.

Ta vội gọi bạn, tay trái vung bút Kình Thiên, tay phải đài nghiên vẩy mực để giúp khách tiêu dao viết mấy lời thô thiển./.

Hoàng Thị Mai Hương
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm