VI | EN
39. Về tấm bia ở lăng tẩm Kiến Thụy Quận vương bên tả ngạn sông Bồ, thôn Lai Thành, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

VỀ TẤM BIA LĂNG MỘ KIẾN THỤY QUẬN VƯƠNG Ở

TẢ NGẠN SÔNG BỒ, THÔN LAI THÀNH XÃ HƯƠNG XUÂN

HUYỆN HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ

MAI HƯƠNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Kiến Thụy Quận vương (Quận vương), tên thực là Nguyễn Phúc Hồng Y, ông sinh ngày 28 tháng 7 năm Quý Tỵ (1833), mất năm Tự Đức thứ 30 (1877), tự là Quân Bác. Quận vương là con trai thứ tư của Nguyễn Miên Tông (Thiệu Trị).

Quận vương thông minh lỗi lạc, ngay từ lúc còn nhỏ được Hoàng tổ khảo (Minh Mệnh) trực tiếp đặt tên cho là Nguyễn Phúc Hồng Y. Ông rất giỏi làm văn làm thơ nên được vua cha (Thiệu Trị) yêu quý. Đến năm 13 tuổi (năm Thiệu Trị thứ 6 - 1846) được ban sắc phong là Kiến Thụy công. Sau khi mất được tiến phong tước Kiến Thụy Quận vương. Đến năm Thành Thái thứ 9 (1898), Quận vương lại được tiến phong là Thụy Thái vương.

Quận vương là người hay văn thơ, có lẽ trước tác của ông có nhiều, nhưng đến nay người ta mới chỉ biết mấy tác phẩm của ông còn lại như sau:

- Hậu uyển tập xạ.

- Thị học tập trong tập Tích Ung canh ca.

- Tuần cai biệt thự thi hợp tập (kí hiệu A.2985/1-4 Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

Trong chuyến đi sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế, chúng tôi được tiếp cận khu di tích lăng mộ của Quận vương tại thôn Lai Thành bản xã, và đã in dập bài văn bia.

Chúng tôi xin giới thiệu tấm bia này như sau:

Bia 2 mặt (có 2 nội dung khác nhau) dựng năm Tự Đức thứ 30 (1877), 1,35 x 0,76m; Kích cỡ lòng bia: 0,88 x 0,55m.

Về trang trí hai mặt bia giống nhau: Trán bia trang trí hình rồng mây, trăng mây; diềm bia hình dây cúc leo.

Chữ Hán khắc trên bia theo kiểu chân phương đằng tả, còn khá rõ ràng, dễ đọc.

Về nội dung:

Bia mặt 1: 11 dòng chữ Hán, mỗi dòng trung bình 20 chữ, tất cả khoảng 220 chữ.

Ngày 30 tháng 3 năm vua Tự Đức thứ 30 (1877), nhà vua chỉ dụ cho 2 ông Nguyễn Thuật và Tôn Thất Trạc đến gặp vua, ngài tâm sự về người em của mình đã khuất là Kiến Thụy Quận vương và cho 2 ông chép để dựng bia rằng: “Em của vua tuy nhiều, nhưng chỉ có người em này là bất hạnh nhất, khiến vua đau xót. Từ ngày người em ấy mất đã lâu, phần mộ chưa cải, lại chưa có bài văn tế em, khiến lòng nhà vua chưa yên. Nên nhà vua cần có một bài văn tế Quận vương để khắc bia.

Bia mặt 2: Nhan đề là Ngự chế Tứ đệ Kiến Thụy Quận vương văn.

Nội dung gồm 15 dòng chữ Hán, dòng nhiều nhất 38 chữ, dòng ít nhất gồm 2 chữ, khoảng 400 chữ.

Nội dung là bài văn tế em của nhà vua Tự Đức: Bằng giọng văn tế, nhà vua an ủi hương hồn người em Quận vương về các kỷ niệm lúc sinh thời của mình với em, tuy đã khuất nhưng những kỉ niệm ấy không thể nào nguôi ngoai: Em sinh ra là người tài hoa, văn chương lỗi lạc là do tú khí hun đúc, nhưng không tránh khỏi cái vòng định mệnh. Khi giá Bắc tuần cũng có em đi cùng. Lúc nhỏ vô tâm vô tính ít quan tâm với nhau. Anh lớn đi học làm thơ, em chưa học làm câu đối. Khi anh sang Đông cung, em cũng ở nhà một hương. Lúc rảnh tụ hội với nhau, giảng giải cho nhau nghe các điều chưa rõ. Nếu em còn sống biết bao hạnh phúc - ứng đối, thơ phú thù tạc. Bây giờ chỉ biết lấy thơ, khúc nhạc để vỗ về hương hồn em!

Chúng tôi xin dịch nghĩa toàn văn bài văn bia như sau:

Mặt 1:

Ngày 30 tháng 3 năm Tự Đức 30 (thần) Nguyễn Thuật và (thần) Tôn Thất Trạc vâng mệnh nhận chỉ dụ của vua (chép lời tâm sự của vua về người em của ngài đã khuất để dựng bia). Kiến Thụy Quận vương là người học rộng làm việc tốt. Em của trẫm tuy nhiều, nhưng chỉ có người em này là bất hạnh nhất, em mất đi trẫm rất là đau xót. Từ đó đến nay đã lâu, phần mộ chưa bốc, lại chưa ban cho văn bài tế khiến lòng trẫm chưa yên, mới bèn làm ra một bài tế văn và sai người chỉnh biện lễ vật xôi thịt thứ phẩm, sai Văn Lang Quận công Hồng trật Hồng lô tự Thiếu khanh, tham bàn cùng với các vụ Ngô Quý Đồng, lĩnh 1 viên Thị vệ cùng bàn bạc lấy ngày 20 tháng ấy (ngày mất). Ngay từ sáng sớm hôm ấy, phải về trước nơi thổ trạch của Quận vương để lo việc, cứ hàng năm do quan Hữu ti và Biện lý mà ban tiền là 1000 quan, nêu rõ đây là việc trợ thêm cho bộ Hộ phát giao Huyện công Ưng Hinh lĩnh về chi dùng để tỏ rõ cái ý tận tâm hết lòng của Trẫm với người thân, ngoài ra chẳng có mong muốn gì nữa vậy thôi!

Con trai là Ưng Huyên phụng mệnh khắc bia.

 

Mặt 2:

Vua ban văn tế cho em thứ tư - Kiến Thụy Quận vương

“Than ôi, em sinh ra tài hoa vượt trội, thụ bởi khí thiêng hun đúc, nhưng vẫn không ngoài định mệnh. Thuở sơ sinh, anh em ta ai cũng chưa biết điều gì. Em chưa học làm câu đối, anh vừa mới học làm thơ, điều nào hay lẽ nào dở đều dẫn giải cho nhau mau lẹ. Lúc chơi đùa ta cùng nhanh trí. Khi Bắc tuần anh em cùng đi, nhà ở (phủ đệ) cùng ở hướng đông, tới lúc rảnh cùng nhau tụ hội, chẳng một phút giây nào là không thương nhớ, hoặc khi bất chợt cũng nẩy một lời vui, không ngờ đó là thứ ngọc bội trang sức đẹp, phi âm thanh, điều ấy chỉ con nhà lương thiện mới biết, chi bằng ta phải đến trực diện xem xét thì quả không ngoa chút nào. Tuy có ngọc tốt nhưng không gặp thợ tài, mới vội quay lại so với ngọc quý thì thấy nó quả như là một tòa lâu đài hoa và ngạc hoa vậy. Vì thời gian ngăn cách biệt ly, một ngày đằng đẵng ba thu, trải mưa nắng đông lạnh hè nồng, mới thấy biền biệt, thời thơ ấu không bao giờ trở lại nữa, biết có ai chăm chút cho không, đành phải trông cậy vào Cự công (Thiên tử - vua) ngâm gió vịnh trăng, đâu giám được gặp gỡ mối tình vẽ hổ khắc rồng? Sau phải kiên cường đối diện với một bầu rượu một túi thơ “thông bệnh của văn nhân là dễ ngộ nhận thân mình bởi chữ nhàn”, lâu dần thành thói quen tựa như cái ống sáo ống tiêu, trời cao đất rộng, từ đó về sau là sự gắng sức của các nhạc công và nhờ đẽo gọt búa rừu của người thợ, mà gọt dũa lời văn, chỉnh trang điệu nhạc; sau khi chữa chạy pháp liệu đôi kỳ bổ cứu, gấp lên nhà nghe ngóng, đài mưa chợt nhớ, sân vườn thấm đậm Lương Vệ tạ Bành Tiên, nỗi niềm bao la man mác, không người nào không thương xót bi ai; cái thanh khí hân hoan ở Tây đường chỉ còn là hư mộng; những mệnh lệnh nghĩ về sự định liệu với sự quan sát dung nhan của nhà vua lúc này quả là cách biệt lắm. Con người ta đến lúc tận cùng của cuộc đời, thì quay trở lại, cần phải rèn luyện con cháu như thế nào để chúng có hành động để trở thành những người mô phạm mẫu mực kiểu như những trưởng gia. Cái điều tốt của trưởng gia là nhiều không biết chỗ dừng; Cô lậu như ta mà cũng phải rong ruổi đường xa dặm thẳm 30 dặm (để tiếp cận) với ngũ thường, đâu phải dừng bước trước cửa nhà ông đầu râu tóc bạc họ Tô Tiếp - Vũ Do mà dường như không đi tới cùng vậy, rõ ràng là không có ý tự dương danh mình, đã phải cam chịu thói vô duyên ở đời. Ai mà không chuộng cái tư chất anh hùng như tùng bách, thể chất bồ đào của em thế nào? hiển hiện lên bức tượng đồng cùng nắm cây khô giữa chốn ma sa, thì hãy chứng giám cho nỗi lòng chân thành của anh như ngày trước chưa hoàn thành!

Ngày 20 tháng 3 năm Tự Đức thứ 30 (1877)

Con trai là Ưng Hinh phụng mệnh lập bia./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.482-486)

Mai Hương
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm