40. Về hai quả chuông niên hiệu Chính Hòa mới phát hiện (TBHNH1995)
VỀ HAI QUẢ CHUÔNG NIÊN HIỆU CHÍNH HÒA MỚI PHÁT HIỆN
PHẠM THỊ THOA
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong đợt sưu tầm năm 1995, chúng tôi đã in dược hai quả chuông lớn ở hai ngôi chùa thuộc 2 xã liền kề: chùa Đại Bi xã Điền Xá và chùa Khánh Hưng xã Đặng Xá (nay hai thôn đều thuộc xã Văn Xá huyên Kim Bảng tỉnh Nam Hà). Xin được giới thiệu về hình thức và nội dung hai quả chuông này.
I. VỀ HÌNH THỨC
1. Chuông chùa Đại Bi xã Điền Xá (1)
Chuông đúc ngày tốt tháng mạnh đông (tháng 10 ) năm Quý Dậu niên hiệu Chính Hòa 15 ( 1694). Chuông cao 128 cm, đường kính miệng chuông 55 cm x 35 cm, chia làm hai mặt, trên và dưới đều có chữ. Bốn mặt trên khổ 55 cm x 35 cm; Bốn mặt dưới khổ 35 cm x 16 cm. Bốn mặt trên mỗi mặt 15 dòng, mỗi dòng từ 2 - 28 chữ. Bốn mặt dưới , mỗi mặt 14 dòng, mỗi dòng từ 2 - 13 chữ. Mỗi mặt trên có hai núm chuông, mỗi núm có 1 chữ với hoa văn bên ngoài tia lửa. Hai góc dưới của bốn mặt trên và bốn góc của bốn mặt dưới đều có hoa văn hình xoắn đối xứng. Quai chuông hình rồng thời Lê.
2. Chuông chùa Khánh Hưng xã Đặng Xá (2)
Chuông đúc ngày tốt tháng trọng thu (tháng 8 ) năm Ất Hợi niên hiệu Chính Hòa (1696), cao 130cm, đường kính miệng chuông 60cm. Chuông chia làm bốn múi cách nhau 5 đường gân, mỗi múi có hai mặt trên dưới đều có chữ, bốn mặt trên khổ 56cm x 43 cm; bốn mặt dưới khổ 43cm x 18cm. Bốn mặt trên mỗi mặt 24 dòng , mỗi dòng từ 2 - 32 chữ. Bốn mặt dưới mỗi mặt 16 dòng, mỗi dòng từ 3 - 15 chữ. Bốn mặt trên có một núm chuông, mỗi núm có một chữ bên ngoài núm hình tia lửa. Cả 4 góc của bống mặt trên và bốn mặt dưới đều có hoa văn hình xoắn đối xứng. Quai chuông hình rồng thời Lê.
II. NỘI DUNG
1. Chuông 1 (Lược dịch)
DƯƠNG CHÚ ĐẠI BI TÔN TỰ HỒNG CHUNG (Đúc chuông lớn chùa Đại Bi )
Toàn thể quan viên hương lão cùng các bậc bề trên kẻ dưới xã Điền Xá, huyện Kim Bảng, phủ Lỵ Nhân, đạo Sơn
Nam nước An Nam đến xin với nhà sư Sa tăng Phật tử Trần Huyền Nguyên tự là Đạo Nhân dấy phúc khuyến tập thập phương đúc chuông mới lưu lại muôn đời. Cầu mong đức Phật phù hộ độ trì cho toàn xã phúc lộc lâu dài, con cháu đông đúc. Tiếng chuông vang lên ngàn tà tẩu tán, tiếng chuông vừa dứt trăm họ vui mừng. Cầu mong làng ta sinh ra hào kiệt, cả ấp sinh quan võ quan văn, sõ tử đăng khoa, nhà nông lắm thóc nhiều gạo.
Tiếp đến bài minh mười hai câu cầu chúc:
... Hoàng đồ củng cố
Nước vững dân yên
Cả làng dấy phúc
Muôn đời lưu truyền...
Sau đó là phần ghi họ tên quê quán, số tiền cúng của khoảng 220 người thiện nam tín nữ trong xã, trong huyện và các xã thuộc huyện lân cận như xã Tri Lễ huyện Thanh Oai, xã Tu Lễ huyện Sơn Minh, xã An Phú huyện Thanh Liêm, xã Cái Hương huyện Lục Bình v.v...trong đó có một người hưng công, một người hội chủ, một người hưng công hội chủ, tám người gửi giỗ. Trong số những những người cúng tiền có bà Hội chủ Dương Thị Thị hiệu là Diệu Hiền chân nhân cùng con trai và cháu gái cúng 5 quan 2 mạch để gửi giỗ cho ông Ngô quý công tự Phúc Kiên. Người cúng ít nhất là một mạch, và còn một số người không ghi cố tiền cúng.
2. Chuông 2 ( Lược dịch )
KHÁNH HƯNG TỰ CHUNG (Chuông chùa Khánh Hưng )
Chùa Khánh Hưng một danh lam thắng cảnh nhưng chưa có chuông. Nay các bạc quan viên hương trởng cùng toàn thể bề trên kẻ dưới xã Đặng Xá huyện Kim Bảng phủ Lỵ Nhân trấn Sơn Nam nước An Nam cùng đứng ra đúc quả chuông này. Chuông lớn đúc xong, cầu mong cho làng Đặng được hưởng phúc lành, cầu tất ứng nghiệm, khấn vái tất hưởng phúc lành. Điều mong được như ý, điều muốn được tùy lòng. Để đúc chuông, các vị hôi chủ ngày đêm lo lắng, các bậc quan viên vất vả gom tiền. Thái ông lão bà chăm đi quyên góp, thiện nam tín nữ sốt sắng việc nhân.
Trời thu tiết đẹp, chuông mới đúc nên, gõ một lần trời ứng Phật giáng, gõ hai lần người lắm của nhiều. trên cầu chúc cơ đồ củng cố, đế đạo phồn vinh, dưới án mong Phật nhật sáng ngời, pháp luân thường chuyển, để cho ở đây trăm phúc dồn về, muôn điều tai ương tiêu tán.
Bởi vậy ghi lại công đức, biên chép họ tên lưu truyền muôn đời.
Vậy có thơ rằng:
Phiên âm
Từ khí Nam thiên việt tích tằng,
Khánh Hưng chung cổ thủy công hưng.
Yếu huyền kim đới điện tiền lập,
Sắc ánh hoàng đan các thượng đăng.
Động thất ngọc thanh chư phúc tập,
Thanh đằng Kim Bảng bách tường ngưng.
Khởi chi dư khành lỵ nhân bản,
Danh tạc lưu thùy vĩnh thế xưng.
Dịch nghĩa
Tú khí trời Nam có từ lâu,
Chuông chùa Khánh Hưng nay mới đúc.
Lưng đeo đai vàng treo trước điện,
Sắc vàng ánh tỏa gác lầu son.
Âm thấu trời xanh muôn lộc tụ,
Thanh vang Kim Bảng điềm lành ngưng.
Nào hay phúc lành nhân là gốc,
Tên khắc lưu truền mãi muôn đời.
Tiếp sau ghi họ tên quê quán số tiền cúng của khoảng 300 người gồm các vị hưng công hội chủ, thiện nam tín nữ khắp các xã trong huyện. Trong đó có một người hưng công, sáu hội chủ, hai hưng công hội chủ, căm gia đình gửi giỗ. Trong đó có người cúng tiền nhiều nhất là hưng công nhà sư Nguyễn Bách Phúc, tên tựQuang Viên Thành Đạo Đức thiền sư chân nhân cùng bà vãi la Ưu bà di Bùi Thị Hợi hiệu là Diệu Phương chân nhân cúng 5 quan tiền cổ. Người cúng ít nhất là một mạch. Ngoài ra còn một số người chỉ ghi họ tên đóng góp công đức mà không ghi số tiền cúng.
III. NHẬN XÉT
Hai quả chuông này được đúc mới ở hai ngôi chùa cách nhau hai năm. Về hình thức ngoài kích cỡ to nhỏ ra, chúng hầu như không có gì khác biệt. Về nội dung cả hai chuông đều có đặc điểm chung khắc tên các bậc hưng công hội chủ, thiện nam tín nữ cùng khách thập phương đã đóng góp công đức và ghi việc gửi giỗ của một số gia đình. Dù vậy, hai chuông cũng có một số điểm khác biệt nhỏ: Chuông 1 có người huyện khác đến đóng góp công đức, chuông 2 lại ghi số tiền cúng của các xã trong huyện. Chuông 1 có bài minh 12 câu ca ngợi công đức đúc chuông, nhưng ở chuong 2 lại có bài thơ 8 câu ca ngợi ý nghĩa của tiếng chuông làm xua tan tai ương, mang lại cuộc sống bình yên cho mọi người.
Hình thức và nội dung của hai quả chuông mang niên hiệu Chính Hòa mà chúng tôi giới thiệu trên đây là những tài liệu góp phần nghiên cứu tình hình xã hội lúc bấy giờ: Khi có yêu cầu tu sửa, xây dựng, đúc chuông thì kẻ nhiều người ít đều vui vẻ đóng góp công đức hoặc cúng tiền để gửi giỗ cho người thân đã mất. Tất cả họ đều được ghi tên lưu truyền lại muôn đời.
Về kinh tế, chắc hẳn cuộc sống phải ấm no thịnh vượng, nên chỉ trong hai năm mà ở hai xã liền kề đã đúc hai quả chuông có kích cữ lớ như vậy.
Về địa danh, mặc dù một số tên xã khắc trên chuông của huyện Kim Bảng cho đến nay không còn, nhưng nó vẫn còn được bảo lưu đến đời Nguyễn như: xã Phù Sơn, Quang Thừa, Cao Mật, Bất Đoạt, Châu Xá, Điền Xá, Đồng Lạc, Đặng Xá v. v...
Chú thích:
1. Từ đây trở xuống chúng tôi gọi là chuông 1.
2. Từ đây trở xuống chúng tôi gọi là chuông 2
Thông báo Hán Nôm học 1995 (tr.387-392)