41. Giới thiệu bộ luật Nôm Bắc kỳ dân luật tân san (TBHNH 2009)
GIỚI THIỆU BỘ LUẬT NÔM BẮC KỲ DÂN LUẬT TÂN SAN
PHẠM NGỌC HƯỜNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Bộ luật là văn bản diễn xuôi Nôm hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sách gồm 2 ký hiệu VNv.12 và AB.471. Sách có ký hiệu VNv.12 do quan Cửu phẩm Văn Giai Nguyễn Hoan phụng dịch, in tại hiệu Áng Hiên, Hà Nội năm Nhâm Tuất đời vua Khải Định thứ 7 (1922), gồm 40 trang, khổ 24 x 15cm. Sách có ký hiệu AB.471 do quan Cửu phẩm Phạm Văn Lâm phụng dịch, in tại Hà Nội năm Quý Hợi đời vua Khải Định thứ 8 (1923), gồm 40 trang, khổ 26 x 16cm.
Văn bản còn nguyên vẹn, bao gồm 91 điều về luật dân sự thi hành ở Bắc Kì dưới thời Pháp thuộc và Bản thông tư về việc sinh, tử, giá thú của Tuần phủ Sơn Tây.
Bộ luật được kế thừa từ những bộ luật đi trước như Hoàng Việt luật lệ, Bản triều lệ định, Đại Nam luật lệ, Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật.... nhưng có căn cứ vào tình hình xã hội hiện tại lúc bấy giờ để biên soạn, lựa chọn và bổ sung. Nói chung các nhà vua đời nào cũng quan tâm đến việc biên soạn và ban hành pháp luật, nên cho dù có những hạn chế do điều kiện lịch sử, nhưng các nhà nước phong kiến đều đã để lại cho hậu thế một di sản pháp luật có nhiều giá trị.
Về kỹ thuật lập pháp thời kỳ này cũng đã có nhiều tiến bộ. Đó là sự phát triển trên cơ sở kế thừa và liên tục bổ sung những kinh nghiệm về kỹ thuật lập pháp của những thế hệ đi trước. Mặc dù chưa có một hệ thống lý thuyết như ngày nay, nhưng các nhà làm luật đã sử dụng những kỹ thuật lập pháp khá tiến bộ và hiệu quả, như đã phân chia và sắp xếp các điều luật thành các môn loại, theo trật tự nhất định. Phần đầu quy định những vấn đề chung, những nguyên tắc chung, sau đó là những chương/ tiết, điều luật về từng lĩnh vực. Cách phân loại đã phần nào thể hiện tư duy khoa học và giúp việc tra cứu điều luật được dễ dàng, thuận lợi.
Bắc Kỳ dân luật tân san mục lục cụ thể được phân ra như sau:
Quyển thứ nhất: Mục đích của luật, sự thi hành luật và các vấn đề về người và tài sản.
Thiên thứ nhất: Tiền lệ, mục đích và lợi ích của dân luật và sự thi hành dân luật
Thiên thứ 2: Giải nghĩa về người và tài sản, căn cước, hộ tịch của người, sổ sách về ruộng đất
Chương thứ nhất: Người và căn cước, hộ tịch. Cụ thể bao gồm những điều ghi chép về: khai sinh, khai nhận con, khai giá thú, khai tử, điều lệ thông dụng cho cả các thứ chứng thư thuộc về hộ tịch, đền bù, cải chính, tín dụng của sổ sách, không có sổ sách trích lục...
Chương thứ 2: Trú quán và mất tích.
Chương thứ 3: Pháp nhân.
Chương thứ 4: Tài sản và đăng lục. Bao gồm: Phân biệt động sản và bất động sản, quyền chiếm hữu và quyền sở hữu, đăng lục hay lập căn cước bất động sản.
Bộ luật bao gồm tổng cộng 91 điều. Trong đó:
Điều 1 là tiên lệ về luật
Điều 2 đến điều 4: Quan hệ về tài sản.
Điều 5 đến điều 12: Sự thi hành luật.
Điều 13 đến điều 16: Người và căn cước hộ tịch.
Điều 17 đến điều 22: Khai sinh.
Điều 23 đến điều 24: Khai nhận con.
Điều 25 đến điều 28: Khai giá thú.
Điều 29 đến điều 37: Khai tử.
Điều 38 đến điều 40: Đền bù, cải chính.
Điều 41 đến điều 44: Sự tín dụng của sổ sách.
Điều 45 đến điều 52: Trú quán và mất tích.
Điều 53 đến điều 59: Pháp nhân.
Điều 60 đến điều 63: Phân biệt động sản và bất động sản.
Điều 64 đến điều 68: Quyền chiếm hữu và quyền sở hữu.
Điều 69 đến điều 91: Đăng lục hay lập căn cước bất động sản.
Chữ Nôm trong văn bản là chữ Nôm tiêu biểu thời Nguyễn, loại chữ tự tạo chiếm tỉ lệ nhiều, nên tương đối dễ đọc, dễ hiểu. Có thể thấy bộ luật được ban hành để phục vụ yêu cầu quản lý, điều hành quốc gia của triều đại và nó cũng đã phát huy tác dụng trong xã hội đương thời. Về mặt giá trị có thể nói bộ luật là di sản pháp luật quý giá đối với hiện tại và cả sau này.
Trong phần cuối bài viết này chúng tôi xin phiên Nôm giới thiệu một số đoạn trong văn bản, ký hiệu VNv.12:
Thiên thứ 2:
Giải nghĩa về người và tài sản, căn cước hộ tịch của người, sổ sách về ruộng đất tiền lệ.
Điều thứ 12: Mục đích của luật là định sự giao tế của người với người và người với tài sản cho nên cần phải giải nghĩa và định về căn cước của người và tài sản.
Người và căn cước hộ tịch: Luật công nhận có hai thứ người tự nhiên nhân và pháp nhân. Hai thứ người ấy đều có quyền lợi được ứng dụng và nghĩa vụ phải làm. Mục đích chương này là nói về tự nhiên nhân.
Mỗi một người muốn ứng dụng quyền lợi hay là bị làm nghĩa vụ của mình phải có căn cước để cho người ta biết mình và phải phải biểu chứng cái gì liên lạc, vì đâu mà sinh ra, quyền lợi và nghĩa vụ? Vì sao nên phải lập ra hộ tịch, nghĩa là phải chứng nhận ngay những việc phát sinh ra như sinh tử và giá thú là những việc cốt yếu trong luật.
Nghị định công bố luật này sẽ định những tỉnh, hạt và kỳ hạn bắt đầu lập ra các sổ hộ tịch để biên chép những sự sinh tử, giá thú. Các nghị định sau sẽ lần lượt định những thời kỳ lập hộ tịch trong các tỉnh, hạt khác nhưng hạn trong 5 năm phải làm thế nào cho tất cả các xã thôn trong các tỉnh toàn kỳ đều có hộ tịch. Thể lệ về sự giữ sổ sách và sao phát trích lục sẽ do quan thống lại nghị định.
Điều thứ 60: Tài sản là những vật có ích cho người và người có thể chiếm làm của riêng.
Điều thứ 61: Tài sản chia ra động sản và bất động sản.
Điều thứ 62: Động sản có thứ động sản thiên nhiên, nghĩa là những vật người ta có thể lấy mắt trông, lấy tay sờ được. Vật ấy thì hoặc tự động như các loại vật động hoặc do ngoại lực ví như việc làm theo ý tứ của người mà có thể từ chỗ nọ chuyển sang chỗ kia.
Lại có thứ động sản người ta không thể lấy mắt trông lấy tay sờ được, ấy là những quyền lợi thuộc về động sản như là khoản nợ về tiền bạc, các sách quyền mà mục đích là động sản, các cổ phần trong các hội, các thứ niên kim được lĩnh của nhà nước hoặc của tư gia.
Điều thứ 63: Bất động sản là những tài sản không có thể tự động hay là bị động mà di dời được, như là ruộng đất và các thứ kiến trúc mà không có thể di dời được. Nếu di dời tất bị hư hỏng tài sản ấy, vì tính chất mà thuộc về bất động sản, lại cũng có thứ nguyên là động sản mà vì căn cứ đất nên hoặc ra bất động sản, ví như những vật liệu đá ngói dùng để làm nhà, khi chưa làm là động sản. Làm rồi thì cái vật đã kiến trúc là bất động sản. Mà vật liệu đá ngói ấy làm đến đâu thành bất động sản đến đấy. Trúc tre là dùng để làm nhà vẫn là động sản, nhưng đã đem làm nhà mà người chủ có ý gắn chặt xuống đất, nếu lấy ra tất bị hư hỏng thì cái nhà ấy là bất động sản. Nếu ý người chủ chỉ cốt dùng làm tạm trú và có cần đến sẽ di dời đi làm khác như là điếm canh của tuần phiên, thế thì phải cho là động sản.
Những hoa lợi và hoa quả chưa thu hoạch mà gốc còn liền ở đất là bất động sản, còn như hạt quả đã gặt hái rồi là động sản. Hạt còn liền gốc ở đất là bất động sản. Nếu đã đốn rồi thì thành ra động sản.
Ống máng dùng để dẫn nước ở nhà và ở đất là bất động sản, nhưng khi chưa gắn vào và khi đã tháo ra thì vẫn là động sản.
Động sản mà dùng để khai khẩn ruộng đất, thì cùng với ruộng đất mà thuộc về bất động sản, như là súc vật để cày bừa, khí cụ dùng về việc nông phố, hạt giống cấp cho người làm rẫy, bồ câu trong chuồng, tổ ong trứng cá dưới ao. Khí cụ dùng để xay gạo, rèn, đúc làm giấy và dùng ở các công xưởng khác phân gio và rơm rạ.
Động sản gắn liền với bất động sản, mà nếu tháo ra tất bị hư hỏng, hay là làm hư hỏng bất động sản thì cũng cho là bất động sản.
Sau nữa có thứ bất động sản vô hình, ấy là một ít quyền lợi thuộc về bất động sản như là quyền ứng dụng thu lợi về bất động sản, quyền địa dịch. Ví như quyền đi qua đất người khác và sách quyền về sự đòi lại bất động sản.
Tiết thứ 2: Quyền chiếm hữu và quyền sở hữu
Điều thứ 64: Thuộc về động sản cũng như thuộc về bất động sản cần phải phân minh quyền chiếm hữu và quyền sở hữu. Vì lắm khi có người chỉ có quyền chiếm hữu mà không có quyền sở hữu.
Điều thứ 65: Chiếm hữu nghĩa là chiếm một cái tài sản nào mà tự mình giữ lấy hay là uỷ người giữ thay cho mình. Chiếm hữu lại là hưởng một cái quyền lợi nào mà tự mình hành xử lấy, hay là uỷ người thay tên mà hành xử cho mình.
Điều thứ 66: Sở hữu là quyền được hưởng hữu và tuỳ dùng vật gì một cách tuyệt đích mà không bị pháp luật cấm.
Điều 67: Thuộc về vật động sản cứ lý thì người nào lấy thiện ấy mà chiếm hữu tức là người sở hữu vì sao cho ngay, người nào muốn đòi lại quyền sở hữu cần phải có chứng cứ.
Điều thứ 68: Thuộc về bất động sản thì bất cứ là người sở hữu về bất động sản hay là sở hữu về vật, quyền của bất động sản muốn giữ lợi quyền cho mình cần phải có đăng ký vào sổ tạm thời và nhất định sẽ nói sau này. Sự đăng ký ấy tiện lợi cho sự đối chứng vì người sở hữu và chủ đối chất thì lấy sự đăng ký ấy làm bảo chứng chắc chắn cho người cùng kết khế ước của mình.
Tiết thứ 3: Đăng lục hay là lập căn cước bất động sản
Điều thứ 69: Mỗi xã lý dịch phải dùng cách niêm yết pháp và cách khẩu truyền mà sức bảo tất cả những người sở hữu về bất động sản như ruộng đất hay là vật kiến trúc hoặc những người sở hữu về vật.
Quyền của bất động sản như chất quyền hay là vật quyền khác, nếu có văn khế phải trình ra để đăng ký vào sổ. Người nào chiếm hữu mà không có văn khế cũng có thể khai gốc tích về quyền chiếm hữu của mình và kỳ hạn chiếm hữu mà xin đăng ký như người sở hữu, nhưng sau có phát sinh ra tranh tụng thì sẽ phân giải chiếu như sau này.
Điều thứ 70: Mỗi xã lý đặt một lao dịch chuyên trách về việc thu nhận lời khai của mỗi người và khi có cần phải sức bảo cho người ta khai mà đăng ký vào sổ tạm thời đăng ký. Mỗi một cái bất động sản phải kê thế nào cho không lẫn với cái bất động sản khác. Một tờ trong sổ chỉ dùng để đăng ký một cái bất động sản mà thôi và sẽ thuận theo thứ tự ghi số hiệu từng tờ.
Nếu cái bất động sản đăng ký là ruộng đất thì phải biên rõ tính chất và giới hạn đích xác, còn về diện tích nếu không biết thì ước định mà biên. Nếu trên ruộng đất có vật kiến trúc gì có thể cho là bất động sản mà biên rõ được cũng nên biên rõ.
Nếu cái bất động sản đăng ký chính là cái vật kiến trúc thì phải biên rõ ràng thứ gì và giới hạn đất kiến trúc ấy phải kê cho đích đăng ký thì hoặc là phải kê cái văn khế của người xin đăng ký dùng để làm chứng cho quyền sở hữu hoặc là phải kê sự chiếm hữu, xem người xin đăng ký khai rằng số ngày không có trở ngại. Nếu người xin đăng ký khai rằng chiếm hữu bất động sản là vì giữ cho một cái di sản, trong thì biên sự ấy vào sổ và lại biên tên người chủ đứng giữ và người để lại của di sản ấy.
Điều thứ 71: Bất động sản trong của thôn xã phải đăng ký trên các tờ đầu sổ và phải biên rõ tính chất riêng từng cái một. Bất động sản riêng của tư gia thì sẽ kế nhau mà đăng ký lên những tờ sau, nhưng tuỳ sự có thể nên theo thứ tự, những bất động sản có tiếp giáp với nhau mà lần lượt đăng ký vào sổ.
Điều thứ 72: Số đăng ký đến đâu thì lý dịch trong làng phải kiểm soát đến đấy. Kiểm soát rồi biên ý kiến vào và đóng triện của làng vào từng tờ một. Sau khi lý dịch kiểm soát tất cả bất động sản đã khai và đã đăng ký thì sẽ kết bạ để trình lên quan huyện. Cái hạn trình ấy chậm nhất là trong một tháng sau khi công bố luật này. Quan huyện đã tiếp được sổ các làng sẽ kiểm duyệt những sự khai và sự đăng ký trong sổ cho xác thực. Nếu khi có cần sẽ sức cải chính những chỗ nhầm và chỗ bỏ sót rồi kết bạ và ký tên kiềm ấn bấy nhiêu công dịch. Hạn cho quan huyện phải tất trong một năm kể bắt đầu từ khi hết hạn các xã trình sổ.
Điều thứ 73: Sổ tạm thời đã kiểm duyệt và kết bạ như cách đã nói ở trên sẽ ký tồn ở nơi hương hội bản xã mà do quan huyện biên ngày ký tồn vào sổ sau khi ký tồn lên khoá yết thị ở nơi hương hội và ở các nơi công sở trong làng, để cho mỗi người đều biết đến mà mà xem sổ và hạn cho trong sáu tháng ai có kêu ca về việc đăng ký thì phải khai ra, giấy yết thị ấy phải trích lục đại lược trong sổ tạm thời mà kê tên họ từng người sở hữu và diện tích mỗi khu tài sản đã đăng ký và lại phải niêm yết luôn luôn trong kỳ hạn đã định. Nếu khi có cần phải niêm yết lại thế nào cho tốt. Hạn ấy bao giờ cũng có yết thị trong hạn ấy, mỗi tháng hai lần phải sức cho tên mõ mỗi thôn, cứ mười năm thì phải một lần đi rao khắp trong thôn, để mỗi người đều chú ý về giấy yết thị và truyền cho mỗi người phải đến xem giấy yết thị cùng sổ tạm thời và khai ra sự kêu ca của mình.
Quan lại sẽ làm một tờ biên bản để chứng nhận giấy yết thị đã niêm yết suốt trong hạn sáu tháng. Lý dịch các làng cũng phải làm tờ biên bản chứng nhận rằng sự gửi tồn sổ sách đã cho mõ rao để dân làng đều biết.
Điều thứ 74: Nếu trong khi phải khai để đăng ký hay là trong kỳ hạn ký tồn có phát sinh tranh chấp thì sẽ biên chú vào sổ và phát giấy biên nhận cho người đứng kiện. Lý dịch cũng có khi thì bằng chức vụ mình phó người đương sự lên ngay toà án tỉnh mà kêu. Tòa án tỉnh sau khi xét văn khế hoặc điều tra sẽ phán định người nào thì có quyền chân chính sở hữu về vật bị kiện. Nhưng sự phán định ấy cũng có khi bị kháng cáo ở toà đệ tam cấp (toà thứ 3). Việc kiện giải quyết, song người chân chính sở hữu sẽ được đăng ký nhất định vào sổ tạm thời.
Những sự tranh kiện như thế sẽ được xét xử theo cách khẩn cấp.
Điều thứ 75: Nếu trong kỳ hạn ký tồn hoặc vì khế ước hoặc vì sự thừa kế hoặc vì sự chia của hoặc vì duyên cớ khác mà sinh ra sự đối chất thì sự đối chất ấy sẽ biên chú vào sổ tạm thời.
Điều thứ 76: Trong hạn ký tồn, nếu có người đệ tam (thứ 3) nào được có vật quyền về của bất động sản đã đăng ký thì phải biên chú vào sổ và cùng trong hạn ấy nếu người sở hữu về bất động sản ấy đã trả xong nợ lấy lại vật quyền thì cũng biên chú vào sổ tạm thời.
Điều thứ 77: Hết hạn ký tồn sáu tháng đã nói ở trên nếu không có sự tranh tụng gì thì sổ tạm thời sẽ do huyện quan và lý dịch kết bạ nhất định, sổ tạm thời đã kết bạ nhất định rồi sẽ làm ra sổ nhất định chép thành hai bản. Một bản để nơi hương hội trong làng, một bản thì đồng thời đem với sổ tạm thời ký tồn ở toà sứ bản tỉnh, bản sổ ký tồn ở làng không cứ được khai hệ nào đều được đến xem. Nhưng bản ấy chỉ dùng để tham khảo mà thôi. Những trích lục sao trong bản ấy không được dùng làm bằng cứ để làm giấy đối chứng quyền sở hữu hay là cầm bán vật quyền. Chỉ có những trích lục sao trong bản ký tồn ở toà sứ mới được dùng làm bằng cứ và có hiệu lực công dụng.
Điều thứ 78: Nếu trong hạn ký tồn 6 tháng có sự tranh tụng gì thì cái tài sản bị kiện phải hoãn lại không đăng ký vào sổ nhất định lưu trữ. Khi việc kiện đã giải quyết rồi mới được đăng ký và biên chú nhất định vào sổ nhất định
Điều thứ 79: Những người khai là sở hữu bất động sản hoặc là sở hữu vật quyền mà không bị kiện đã được đăng ký nhất định vào sổ tạm thời hay là bị kiện mà đã giải quyết thì đăng ký nhất định vào sổ nhất định thì được xem là người sở hữu bất động sản hoặc là người sở hữu vật quyền chiếu như sự đăng ký trong sổ hạn kỳ nhất định cái tài sản đăng ký, chiểu theo luật đại pháp hay là các danh hạng người theo quyền đại pháp thì không kể sự đăng ký và sự biên chú trong sổ quá hạn 5 năm không được la gì nữa.
Chính hạn 5 năm tính bắt đầu từ ngày sổ tạm thời và và sổ nhất định đem ký tồn ở tại phường giữ địa bạ ở toà sứ bản tỉnh, sự ký tồn ấy sẽ do quan chưởng bạ của nhà nước đặt biên nhận và ghi ngày tháng vào sổ.
Điều thứ 80: Bắt đầu từ giờ sổ nhất định đã ký tồn ở toà sứ. Mấy người nào vì sự đối chứng mà được sở hữu về bất động sản hay là vì sự cầm bán mà được sở hữu về vật quyền phải đem cái văn khế đối chứng hay là cầm bán trình với quan chưởng bạ các tỉnh. Quan chưởng bạ lập tức biên chú vào tờ đã đăng ký cái bất động sản ấy. Biên chú rồi quan chưởng bạ lại ghi năm, ngày, tháng, giờ và cùng với người khai ký tên ở dưới. Nếu người khai hễ không biết ký tên thì phải biên rằng không biết ký tên.
Điều thứ 81: Khi có người ký tồn văn khế chứng thư gì phải biên chú sự ký tồn ấy và năm tháng ngày giờ ký tồn vào một quyển sổ riêng gọi là sổ ký tồn.
Điều thứ 82: Những chứng thư đối chứng quyền sở hữu hay là cầm bán vật quyền không trước bạ thì không được đem đối dùng với người đệ tam trước kia đã có trước bạ.
Điều thứ 83: Những chứng thư về sự đối chứng cầm bán bất động sản đem trình để đăng ký thì cứ theo thứ tự mà lần lượt đăng ký vào sổ địa bạ và sổ ký tồn. Nếu cùng việc ngày, cùng việc giờ mà có hai cái hay là theo cái chứng thu đem trình, mà các chứng thư ấy chỉ thuộc về một cái bất động sản thì quan chưởng bạ sẽ biên chú sự ấy lên cả hai sổ đã nói ở trên và bảo các người đương sự ký tên dưới từng biên chú. Nếu có người nào không biết ký tên thì sẽ biên rằng không biết ký tên.
Điều thứ 84: Biên chú vào địa bạ rồi quan chưởng bạ sẽ sao một bản gửi cho lý dịch làng sở tại chỗ bất động sản. Bản sao ấy phải chép sao y, phải có chữ ký của quan chưởng bạ nhưng chỉ dùng giấy thường, không phải dùng khoá thiêm (mẩu giấy để viết).
Lý dịch tiếp bản sao ấy sẽ biên chú vào bản sổ để ở làng và ký vào bản sao rằng đã biên chú mà gửi trả quan chưởng bạ để nhiếp (lưu giữ) vào văn phòng.
Điều thứ 85: Bất cứ người nào đều được xin quan chưởng bạ cấp cho một bản trích lục biên hình dạng của bất động sản có tên người sở hữu đã đăng ký và các nghĩa vụ của bất động sản./.
(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.496-506)