42. Đạo sắc phong và tấm lệnh chỉ cổ tại nhà thờ Tiến sĩ Phí Đăng Nhậm (TBHNH 2005)
ĐẠO SẮC PHONG VÀ TẤM LỆNH CHỈ TẠI
NHÀ THỜ TIẾN SỸ PHÍ ĐĂNG NHẬM
LÊ LIÊM
Ban Quản lý di tích Hà Tây
Trong chuyến đi khảo sát điền dã lấy tư liệu lập hồ sơ khoa học xếp hạng nhà thờ tiến sỹ Phí Đăng Nhậm tại xóm Chàng Chợ, xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, chúng tôi tiếp được khá nhiều tài liệu có liên quan tới nhà khoa bảng này như gia phả, hoành phi, câu đối… rất có giá trị. Ngoài các văn bản vừa nêu ở trên ra, chúng tôi đặc biệt chú ý tới đạo Sắc phong triều Vĩnh Thọ thứ 4 (1661) và tấm Lệnh chỉ năm Đức Nguyên thứ 1 (1764) phong cho Tiến sĩ Phí Đăng Nhậm. Đây là hai “bảo bối” của dòng họ Phí nói riêng và của tỉnh Hà Tây nói chung. Vì thế, chúng tôi tiến hành khảo sát, phiên âm và dịch nghĩa để gửi bài tới Hội nghị thông báo Hán Nôm học năm 2005.
1. Sắc phong
Đây là đạo sắc khá đặc biệt. Nó là một loại hình văn bản Hán tự ngày xưa phong cho người có công với triều đình hoặc những người vinh danh hiển đạt. Khi Tiến sỹ Phí Đăng Nhậm dự thi Đình khoa Tân Sửu và đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân thì được hưởng ân điển sắc phong và ngay lập tức được bổ nhiệm làm quan Giám sát ngự sử đạo Kinh Bắc.
Sắc phong gồm 71 chữ, viết theo thể chữ Lệ trên nền giấy dó màu vàng nhạt, chữ viết đè lên hoa văn hình rồng mang phong cách thời Lê.
Nguyên văn chữ Hán như sau:
Phiên âm:
Sắc Đan Phượng huyện, Dương Liễu xã, Quốc tử giám, Quốc tử sinh Phí Đăng Nhậm, vi Tân Sửu khoa phụng tứ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân. Hữu triều thần tham nghị ưng vi Giám sát Ngự sử chức, tiến triều ứng vụ khả vi Cẩn sự lang Kinh Bắc đạo, Giám sát ngự sử hạ liên.
Cố sắc.
Vĩnh Thọ tứ niên, thập nguyệt, thập nhất nhật.
Dịch nghĩa:
Cấp sắc cho Giám sinh Quốc tử giám Phí Đăng Nhậm, người xã Dương Liễu, huyện Đan Phượng đã dự thi khoa Tân Sửu và trúng Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.
Nay có triều thần tham nghị và nhất trí phong cho chức Giám sát ngự sử và đặc biệt ban cho làm Cẩn sự lang Giám sát Ngự sử đạo Kinh Bắc.
Nay sắc.
Ngày 11 tháng 10 năm Vĩnh Thọ thứ 4 (1661).
2. Lệnh chỉ
Sau khi được thăng quan tiến chức, Tiến sỹ Phí Đăng Nhậm được chúa Trịnh tin dùng và giao cho nhiều trọng trách. Năm 1674, ông được cử vào đạo Thanh Hoa giữ chức Đốc đồng quan công phụng hành sự vụ - Tấm lệnh chỉ này được ban ra trong thời gian đó.
Tấm lệnh chỉ được viết trên nền giấy lệnh khổ nhỏ, không có hoa văn họa tiết gì, gồm 144 chữ viết theo thể chữ Lệ. Dấu chữ “Lệnh chỉ” viết to ở phía trên góc trái. Lối hành văn mang tính chất mệnh lệnh, cứng cáp, rất rõ ràng.
Nguyên văn chữ Hán như sau:
Phiên âm:
Nguyên soái điển quốc chính Định Nam Vương lệnh chỉ công khoa cấp sự trung Phí Đăng Nhậm tư cung phụng.
Đại nguyên soái chưởng quốc chính Thượng sư thái phụ đức công nhân uy minh thánh Tây vương, ủy dĩ thống chiết quan liêu phủ an trung ngoại hệ, Thanh Hoa xứ trấn thủ quan dĩ sai tả tiệp kỳ cai, kỳ quan trung quân Đô đốc phủ, Tả đô đốc thiếu truyền Dĩnh quận công, binh hữu dụng cầm, chế đạo kiếp kham vấn từ tụng, phủ an phương dân, thọ nhân ứng vi Đốc đồng quan công đồng phụng hành sự vụ kỳ sở kham từ chỉ hứa câu kham đạo kiếp nhất sự dĩ hợp cựu lệ cư phụng hành, bất sứ hữu quốc pháp tại tư lệnh.
Đức Nguyên nguyên niên, thập nhị nguyệt, thập cửu nhật.
Lệnh chỉ.
Dịch nghĩa:
Nguyên soái Điển quốc chính Định Nam Vương lệnh chỉ cho Công khoa Cấp sự trung Phí Đăng Nhậm phải cung kính phụng mệnh.
Đại nguyên soái Chưởng quốc chính Thượng sư Thái phụ đức công nhân uy minh thánh Tây vương ủy nhiệm cho quan Trấn thủ xứ Thanh Hoa phải nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, gắng sức làm việc cho triều đình một cách công tâm chính trực. Việc giải quyết khiếu nại ở nội phủ, nhà quan cùng với Trung quân Tả đô đốc thiếu truyền Dĩnh quận công hãy sắp xếp mau lẹ, công bằng để mọi người hiểu được trượng nghĩa, từ bỏ thói tà đạo, yên ổn làm ăn. Các việc ấy, ta mong nhà quan lấy quốc pháp làm nền và dốc lòng báo đáp ân thâm.
Ngày 19 tháng 12 năm Đức Nguyên thứ 1 (1674).
Nay lệnh chỉ.
Có thể nói rằng, đạo Sắc phong và tấm Lệnh chỉ cổ trên đây là văn bản gốc rất có giá trị của dòng họ Phí, giúp các nhà khoa học nghiên cứu về các loại hình văn bản Hán cổ nước nhà.
Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.398-400)