VĂN BIA MIẾU VĂN THÁNH MINH HƯƠNG VÀ MIẾU KHỔNG TỬ - MỘT PHỨC THỂ CỦA TINH THẦN TRỌNG NHO Ở HỘI AN
NGUYỄN VĂN SANG - LÊ THỊ THU HIỀN
Đại học Sư phạm Đà Nẵng
01. Nếu Hà Nội có Khuê Văn Các - Văn miếu Quốc tử giám là biểu tượng, niềm tự hào của truyền thống trọng Nho ở xứ kinh kỳ thì Hội An với miếu Văn Thánh Minh Hương(1) và miếu Khổng Tử(2) có thể được coi là minh chứng cho tinh thần trọng Nho nơi đây. Cho nên từ ý nghĩa biểu trưng của công trình cho đến hệ thống văn bia câu đối trên trụ cổng, cổng tam quan mang dấu ấn và âm hưởng của triết lý nhân sinh Nho giáo và tinh thần hiếu học trọng Nho của cộng đồng cư dân Hội An nói riêng, cư dân Quảng Nam nói chung.
02. Theo khảo sát bước đầu, chúng tôi thống kê được trong hai di tích cổ miếu Văn thánh Minh Hương và miếu Khổng Tử có khoảng 34 câu đối, văn bia. Văn thánh Minh Hương được xây dựng dựa vào sự đóng góp của các tổ chức cá nhân trong lúc nền khoa bảng của làng Minh Hương chưa thực sự thịnh. Các bậc danh Nho của làng chưa ai từng đỗ Đại khoa hay Tiểu khoa(3) mà chỉ gồm 8 Tú tài, 6 Văn giai, 1 Chánh cửu phẩm, 2 Tòng cửu phẩm song cũng quyết định xây dựng nên Văn thánh. Điều này thể hiện một khát vọng về tinh thần trọng Nho của làng, của người dân Hội An: “Minh Hương xưa nay chưa có đền thờ Văn thánh nhưng người khoa bảng trước sau xuất hiện, thật là lớn thay! Đạo thánh nhân không phải chờ đợi có đôi ba thước tường, vài hàng cột phụng thờ rồi mới ban phước cho” (明鄉從古未有聖祠而科宦者將繼, 大哉! 聖人之道乎不待有數刃之牆兩楹之殿, 然後福之也 - Minh Hương tùng cổ vị hữu thánh từ nhi khoa hoạn giả tương kế, đại tai! Thánh nhân chi đạo hồ bất đãi hữu số nhận chi tường lưỡng doanh chi điện, nhiên hậu phước chi dã). Việc dựng bia tại Văn thánh được dân làng Minh Hương mời Đặng Huy Trứ(4) - một danh sĩ triều Nguyễn viết với mong muốn có thể mở mang nền Nho học và khoa cử của địa phương. Văn bia Văn thánh Minh Hương viết: “Mùa hạ năm rồi, ta ở tại làng Long Biên, thưởng thọ Chánh cửu phẩm Tú tài Trương Hoài Ban lại đến thỉnh” (慶夏余在龍編鄉,賞壽正九品秀才張懷班復來請 - Khánh hạ dư tại Long Biên hương, thưởng thọ Chánh cửu phẩm Tú tài Trương Hoài Ban phục lai thỉnh).
03. Từ truyền thống trọng Nho bằng việc xây Văn thánh Minh Hương và miếu Khổng Tử, vị trí của người thầy trong đời sống xã hội của cư dân Hội An cũng được đề cao chỉ sau bậc quân vương. Việc thờ Khổng Tử(5) chính là minh chứng cho tinh thần ấy. Tại chính điện thờ Khổng Tử của Văn thánh Minh Hương ghi lại đôi câu đối: “Trời đất sinh ra trời với đất / Đế vương sau có đế vương sư” (天地已生天地並 / 帝王之後帝王師 - Thiên địa dĩ sinh thiên địa tịnh / Đế vương chi hậu đế vương sư). Không chỉ Khổng Tử, các bậc thánh học của Nho gia thuộc vào hàng Tứ phối như Nhan Tử, Tử Tư cũng được phối thờ. Những câu đối đề vịnh trên các gian thờ là ngưỡng vọng của cư dân Hội An về một vùng đất thuần Nho, giàu truyền thống đạo đức và hiếu học: “Theo đường đức hạnh nhờ chuyên học / Chọn lối Trung Dung nối cách truyền” (德行道科惟好學, 中庸真法紹真傳 - Đức hạnh đạo khoa duy hiếu học / Trung Dung chân pháp thiệu chân truyền). Với người Minh Hương, người Hội An, nền thánh học phải được phổ biến, giáo hóa cho quảng đại dân chúng như một khát vọng chung, do vậy, trước gian Tây thờ Tăng Tử(6) và Mạnh Tử(7) của Văn thánh Minh Hương có câu đối: “Đạo tỏa minh tân đường học thánh / Sức tràn nhân nghĩa phép làm vua” (道揚明新開聖學/力陳仁義振王綱 - Đạo dương minh tân khai thánh học / Lực trần nhân nghĩa chấn vương cương). Tiếp nối quá khứ, khao khát trong quá trình mở mang nền văn Nho, người Hội An muốn khẳng định tinh thần trọng Nho vững bền tại một vùng đất giàu truyền thống: “Quảng bá nho phong, Sài thủy(8), Hành sơn(9) đất cao danh giá / Nam cầu triết học, Hạnh đàn Cối trạch trời rộng thái hòa” (廣鄙儒風柴水行山名教地南來哲學杏壇檜澤太和天 - Quảng bỉ nho phong, Sài thủy, Hành sơn danh giáo địa / Nam lai triết học, Hạnh đàn Cối trạch thái hòa thiên). Hình thức song hành của một phép đối tài tình thể hiện càng hoàn chỉnh hơn ước vọng đó. Sự xuất hiện của văn bia đình đối với triết lý trọng Nho sâu sắc là bộ phận quan trọng góp phần vun đắp truyền thống văn hóa, văn vật của người Hội An, Quảng Nam.
04. Không đơn thuần chỉ ẩn chứa giá trị triết Nho sâu sắc, văn bia Văn thánh Hội An còn thể hiện triết lý, mong muốn về một vùng đất thi thư, thi lễ thấm nhuần tinh hoa văn triết: “Thi lễ đất bồi danh giáo trải / Xuân thu trời phủ tuyết sương pha” (詩禮滋培名教地 / 春秋冒達雪霜天 - Thi lễ tư bồi danh giáo địa / Xuân thu mạo đạt tuyết sương thiên). Đó mặc nhiên còn là những triết lý về đạo học của bậc nhân sĩ, danh Nho Hội An trên con đường chinh phục đạo học: “Ai xuất lễ gia không theo cửa rộng? / Người vào đạo học, tất chọn đường dài” (誰出不由禮者門也 / 有趨而過道若路然 - Thùy xuất bất do lễ giả môn dã / Hữu xu nhi quá đạo nhược lộ nhiên). Với người học sách thánh hiền, họ khát khao thể hiện triết lý, ý chí vươn lên trên hành trình chinh phục nấc thang danh giá, đó là Thanh, Danh, Văn Vật, Y, Quan (10): “Khắp ba nước, làng thôn ngang quận huyện: Thanh, Danh, Văn vật, Y, Quan” (Phiên âm: Hương nhi châu huyện tam quốc: Thanh, Danh, Văn vật, Y, Quan). Cao và sâu xa hơn là ý thức xây dựng một làng Minh Hương, một Hội An trường tồn, vươn lên tỏa sáng trên bầu trời Nho học: “Cùng năm sao ánh sáng tỏa ngày đêm: Thư, Dịch, Xuân Thu, Thi, Lễ(11)” (明如日月五星書易春秋詩禮 - Minh như nhật nguyệt ngũ tinh: Thư, Dịch, Xuân Thu, Thi, Lễ).
Những câu văn đình đối trên miếu Văn thánh và miếu Khổng Tử là mong muốn, suy nghĩ của con người Hội An, Quảng Nam trước cuộc sống bằng những triết lý Nho học sâu sắc của tinh thần trọng Nho và đậm bản sắc truyền thống văn hóa. Văn bia đình đối với hệ thống các di tích và giá trị của tinh thần trọng Nho mãi là thông điệp của cư dân Hội An, Quảng Nam trong quá khứ còn vang vọng mãi đến ngày nay.
Chú thích:
() Tăng Tử (505 TCN - 435 TCN) tên thật là Tăng Sâm, người Nam Vũ thành, nước Lỗ (nay là huyện Bình Ấp, tỉnh Sơn Đông), là học trò xuất sắc của Khổng Tử.
(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.307-311)