VI | EN
43. Những tư liệu quý qua gia phả họ Ngô ở huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

NHỮNG TƯ LIỆU QUÝ QUA GIA PHẢ HỌ NGÔ
Ở HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG

HOÀNG THỊ THU HƯỜNG

Viện Nghiên cứu Tôn giáo

Họ Ngô ở xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là một dòng họ lâu đời và có tiếng trong vùng. Hiện nay, tại vùng đất trên vẫn còn nhà thờ họ do đời sau xây dựng lại để tưởng nhớ tổ tiên và là chỗ để con cháu tụ về vào mỗi dịp trọng đại của gia đình.

Gia phả họ Ngô được ông Ngô Đức Lịch - một cán bộ trong ngành quân đội cất giữ cẩn thận. Cuốn sách dày 30 trang, sách còn tương đối nguyên vẹn, chữ viết chân phương, đẹp, nhiều đoạn có tính văn học cao. Mỗi trang có 8 dòng, dòng nhiều nhất 22 chữ, ít nhất 2 chữ, chủ yếu là chữ Hán, đôi chỗ xen một vài chữ Nôm (chỉ tên người hoặc tên địa danh), tổng cộng toàn cuốn gia phả có khoảng trên dưới 4000 chữ. Gia phả không phải do một người soạn mà do nhiều người soạn, viết nối tiếp ở các đời sau. Căn cứ vào nội dung của sách, chúng tôi có thể nhận thấy có ít nhất 3 người soạn. Người đầu tiên, Tiến sĩ Ngô Dụng, ông tổ đời thứ ba; tiếp theo là Thủ khoa Ngô Hiệp, ông tổ đời thứ tư; người thứ ba chưa rõ là ai nhưng chắc chắn là con cháu thuộc đời thứ tám (cuốn gia phả dừng lại ở đời thứ tám)

Bố cục của gia phả như sau: trang 1 - 2, bài cúng các vị tổ tiên, do cháu đời thứ tám là Ngô quý công, tự là Phúc Ngang đứng tên; trang 3 ghi lời tựa của gia phả và những thông tin về ông tổ đời thứ nhất và đời thứ hai, do vị Tiến sĩ soạn. Cuối lời tựa có một dòng ghi niên hiệu: “Hoàng triều Vĩnh Hựu vạn vạn niên chi lục, trọng xuân cốc nhật - Niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 6, ngày tốt, tháng 3 mùa xuân”. Như vậy, gia phả của dòng họ này bắt đầu được soạn vào năm Vĩnh Hựu thứ 6, tức năm 1740, cách đây hơn 250 năm. Từ trang 10 - 19, gồm “Gia phả tục biên tựa” và những ghi chép về ông tổ đời thứ ba, do vị Thủ khoa soạn. Cuối phần “Gia phả tục biên tựa” cũng có dòng ghi niên đại "Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi trọng thu cốc nhật" (Niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786), ngày tốt, tháng 8 mùa thu). Như vậy, gia phả họ Ngô được ông Tiến sĩ bắt đầu soạn vào năm 1740 rồi chuyển tiếp cho ông Thủ khoa soạn trong khoảng những năm thuộc niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786). Từ trang 20 - 22, phụ sao văn bia Ninh Định, theo nội dung trong sách thì tác giả của tấm văn bia này chính là Tiến sĩ Ngô Dụng, ông tổ đời thứ ba. Từ trang 23 - 30, ghi về các đời thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy và thứ tám.

Có thể dễ dàng nhận thấy đây là gia phả của một dòng họ khoa bảng. Các thành viên trải suốt tám đời trong dòng tộc, đời nào cũng ham học và không ít người đã đỗ đạt, ra làm quan với triều đình. Ông tổ đời thứ nhất là một người tâm huyết với sự nghiệp học hành, ông đã bỏ đất tư dựng trường, đón thầy về dạy cho các con và cho cả con cái những người xung quanh. Ông cũng chính là một trong những nhân vật được tôn làm Tổ của ngôi chùa An Phú(1). Gia phả ghi: “Năm 45 tuổi, ông đã đến sống tại chùa An Thất, xây dựng điện Phật, sửa chữa phòng tăng, nguyện ở đó ngày ngày hương khói, sau này được nhân dân sùng kính và đúc tượng thờ trong chùa”. Sau này, ông được vua Lê phong tặng chức Kim tử Vinh lộc đại phu, Hàn lâm viện thừa chỉ, Cơ trạch bá trụ quốc thượng liên Ngô tướng công; Ông tổ đời thứ hai đỗ sinh đồ thời Lê, được vua phong Hoằng Tín đại phu, Thái Bảo tự khanh, sau còn truy phong Kim tử Vinh lộc đại phu, Hộ bộ Tả Thị lang Diên Trạch bá Ngô tướng công; Ông tổ đời thứ ba đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, khoa thi Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ 2 (1721) đời Lê Dụ Tông, được ghi tên trên bia Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội và Văn miếu Bắc Ninh, làm quan đến chức Lại bộ Tả Thị lang, hành Tham tụng, khi mất được truy tặng chức Binh bộ Thượng thư, tước Quận công; Ông tổ đời thứ tư đỗ thủ khoa năm Nhâm Tý…

Ngay ở những trang đầu, sau bài cúng, bài Tựa của gia phả là những ghi chép về nguồn gốc tổ tiên(2) “Tổ tiên vốn là người Cổ Việt, Thiên Thi, Khoái Lộ, Sơn Nam tức thôn Vân Mạc, huyện Thiên Thi (nay là huyện Ân Thi), phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam (nay là tỉnh Nam Định), vốn họ Bùi là hào trưởng một phương”. Như vậy, dòng họ Ngô mà chúng ta đang có trong tay cuốn gia phả thực chất là mang họ Bùi, có gốc từ ở phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam, chính là tỉnh Hưng Yên ngày nay. Tại sao lại có sự việc thay đổi dòng họ như vậy, phần ghi chép về ông tổ đời thứ nhất đã chính thức trả lời câu hỏi trên: “Ông tổ đời thứ nhất, tên húy là Hữu, tên chữ là Minh Độ, hiệu Phúc Khánh, sinh năm Giáp Tý, ban đầu mang họ Bùi, là người vùng Khoái Châu, Sơn Nam di cư về xã Vân Chùy, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh (nay phân thành Bắc Giang)… Khi ông rời Sơn Nam mới lên sáu tuổi, do lái buôn Tử Dương dắt đi bán ở Kinh Bắc…”. Ngoài ra, trong phần ghi về tổ tiên họ Ngô cũng có chi tiết nói đến sự kiện trên: “Hiển tằng tổ khảo, xã trưởng, tên húy là Giảng, hiệu là Phúc An (Yên). Mộ táng tại xứ Bên Đìa, giỗ ngày 18 tháng 11; Hiển tằng tổ tỷ Ngô quý thị, tên húy là Gia, hiệu là Từ Thuận. Mộ táng gần vùng Cầu Hinh, xã Vạn Thạch, giỗ mùng 5 tháng 12. Là người nuôi dưỡng Hiển tổ khảo, Hiển tổ khảo (ông tổ đời thứ nhất) là đời sau. (Bà) yêu thương, chăm chút và bế ẵm không để ông khóc, cùng được nuôi dưỡng có thêm 4 người nữa nhưng nhà cửa, ruộng vườn, của cải thì ông được thừa kế và làm tăng lên bội phần. Đạo nhà thành thực, gốc gác đều từ đây”. Với những chi tiết trên, việc từ họ Bùi đổi sang họ Ngô đã sáng tỏ, ông tổ đời thứ nhất vốn mang họ Bùi, thuở nhỏ bị người Tàu lừa bắt bán vào làm con nuôi họ Ngô và chính thức mang họ Ngô từ đó.

Trong gia phả còn nhắc đến một nhân vật khá nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam thời hậu Lê là Tiến sĩ Ngô Dụng, hay Trịnh Ngô Dụng, ông tổ đời thứ ba của dòng họ: “Ông tên húy là Dụng, tự là Điềm Trai, được ban thụy là Nhã Trực, hiệu là Quế Hiên tiên sinh, sinh năm Giáp Tý, con trai thứ hai của ông tổ đời thứ hai. Ông từng đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa thi năm Tân Sửu, được đặc phong là Kim tử Vinh lộc đại phu Nhập thị hành tam tòng Lại bộ Tả Thị lang Nhuyên Đình hầu, được ban chức Binh bộ Thượng thư, Nhuyên Quận công, Trụ quốc thượng trật Ngô tướng công, lấy vợ là con gái Nguyễn Thiếu Khanh trong xã, sinh hạ được hai con trai (con trưởng là Thủ Khoa công, con thứ [không ghi], một con gái (gả cho Chu công, người trong xã, huyện Vĩnh Khang); Sau lại cưới thêm vợ là người Thị Cầu trong tỉnh, sinh hạ thêm 1 con trai. Ông thọ 63 tuổi, mất vào ngày mùng 3 tháng 7 năm Bính Dần, mộ táng tại xứ Lăng Thung [Lăng Thông] trong xã.

Theo lời ông kể, ngày cha mẹ đặt tên, thấy ông có chất tư văn bèn theo tư chất mà đặt tên, mọi người đều lấy làm kỳ lạ. Lên 7, 8 tuổi đã được theo học trong nghiêm đường, sau này theo học các thầy Triệu Loại, Đại Mão và Trịnh tiến sĩ (theo cuốn Đăng khoa lục, Trịnh Tiến sĩ tên húy là Trọng Liên). Học hành giỏi giang tinh thông hơn người, khí chất công hầu đã bộc lộ từ khi còn niên thiếu. Năm 13 tuổi thi Tứ trường, quan tuyển cử thấy còn nhỏ tuổi nên không cho thi. Thế là ông dốc sức học hành, đợi đến năm 16 tuổi mới ghi tên vào thi tứ trường, thi Hương đỗ Tam trường, năm 20 tuổi đỗ Tứ trường, 30 tuổi tham gia kỳ thi xuân đỗ Tam trường. Năm 35 tuổi có tang mẹ, ông bèn về xây trường dạy học, người theo học đông đúc, trong đó những kẻ đỗ đạt thành danh cũng nhiều, những người không thành đạt trên con đường thi cử thì cũng thành đạt trên những con đường lập nghiệp khác. Trước sau quán triệt, khi nỗi buồn nguôi ngoai, phàm muốn thỏa ý bèn quyết chí theo con đường thi cử để tỏ rõ tài năng của mình. Năm 37 tuổi thi vào Bộ Lại, đỗ thứ ba, được nhận chức Nho học thuận đạo ở phủ Thăng Hoa.

Năm 38 tuổi, tham gia kỳ thi xuân, đỗ tứ trường, đứng thứ 16; trong cuộc thi đình cũng như vậy.

Năm Nhâm Dần được nhận ân, trong năm đó được đứng vào hàng Tiến công lang Binh khoa cấp sự trung.

Năm Giáp Thìn, tròn 41 tuổi phụng chỉ làm Giám sát ngự sử đạo Thái Nguyên.

Năm Đinh Mùi, 44 tuổi, phụng chỉ làm Hàn lâm viện đãi chế

Năm Mậu Thân, 45 tuổi, nhận mệnh đi làm Đốc đồng vùng Hải Dương. Tháng 3 (cùng năm) có tang cha.

Năm Canh Tuất, 47 tuổi, phụng chỉ giữ chức Mậu lâm lang Đông các hiệu thư. Cũng trong năm, phụng chỉ tạm nhận chức Thanh hình Giới hiến sứ của ty Hiến sát sứ các vùng Sơn Nam.

Năm Nhâm Tý, 49 tuổi được phong là Hiển vinh đại phu Đông các học sĩ tu thận thiếu doãn trung liệt. Cũng trong năm soạn văn bia Ninh Định.

Năm Giáp Dần, 51 tuổi thừa chỉ giữ chức Hàn lâm viện Thị giảng tu thận thiếu doãn. Tháng 3 năm đó, phụng chỉ tạm giữ chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên (nay là Hà Nội).

Năm Bính Thìn, 53 tuổi được phong Hoằng Tín đại phu Ngự sử đài Thiêm đô ngự sử tu thận thiếu doãn trung tuyển. Ngày mùng 8 tháng 3 năm đó làm Trung đại phu Ngự sử đài Phó đô ngự sử khuông mỹ doãn trung tự.

Năm Mậu Ngọ, 55 tuổi phong Trung trinh đại phu, Hàn lâm viện Thừa chỉ, khuông mỹ, doãn trung tự.

Năm Canh Thân, 57 tuổi phong Gia Hạnh đại phu Tán trị thừa chánh sứ ty Chính khanh trung ban xứ Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa), nhận lệnh nhưng chưa đi nhận chức thì lại phụng mệnh đi dẹp loạn ở đạo Kinh Bắc. Ông là người hoạt bát linh lợi, hết lòng dốc sức dẹp loạn tặc để đem lại cuộc sống yên ổn cho dân chúng, vì muốn chấm dứt nạn cướp bóc, ông bèn lấy lương thực của gia đình, khích lệ tinh thần và giúp đỡ cho dân chúng mà không mong đền đáp. Cả một giải Lượng Giang đều nhờ đó mà bảo toàn, tất cả già trẻ gái trai đều gọi ngài là quan của tôi.

Năm Tân Dậu, 58 tuổi phụng chỉ làm Đốc đồng xứ Kinh Bắc, thi hành chính sự ổn định không phiền hà, vỗ về và bảo ban dân chúng khiến cho xóm làng yên vui, nhân dân đều vô cùng ái mộ ông, đều lo là ông không ở lại lâu.

Năm Nhâm Tuất, 59 tuổi được phong Gia Hạnh đại phu Công bộ Tả Thị lang Chính khanh trung ban. Ngày mùng 2 tháng 10 cùng năm lại được đặc phong Kim tử Vinh lộc đại phu Nhập thị bộ nội tòng Hình bộ Tả Thị lang hành Ngự sử đài Phó đô Ngự sử Trụ quốc thượng giai.

Năm Quý Hợi, 60 tuổi nhận chức Trấn thủ quản nội Trấn kỳ quan xứ Thanh Hoa. Chúa thượng khi đổi đất Thanh Hoa thành ấp Dịch Mộc bèn mệnh cho ông trấn giữ ở đó để làm cho vùng thịnh trị. Khi ông chưa đến nhận chức, sơn tặc và cướp biển thường hay quấy phá, lúc đến thi hành chính trị khoan bình, dùng nhân nghĩa để cai trị khiến cho bọn đạo tặc nể phục, trí sĩ hân hoan, trong vùng vì thế mà yên bình. Ở đó được một năm thì triều đình lệnh hồi cung, các hào mục địa phương đều mong ngóng, thường lấy cớ nạn thảo khấu chưa yên tâu lên để xin ông ở lại, đều là vì lo lắng không biết nương tựa vào ai vậy! Ngày rời trấn, khắp các nơi từ cổng trấn đến bến sông dân đều ra đưa tiễn, chẳng khác nào cảnh con em thành kính đưa cha mẹ.

Năm Ất Sửu, 62 tuổi được đặc phong Kim tử Vinh lộc đại phu Nhập thị hành tam tòng bộ Lại Tả thị lang Nhuyên đình hầu Trụ quốc thượng giai.

Năm Bính Dần, 63 tuổi ông được giao giữ chức Tri cống cử trong cuộc thi hội. Đến tháng 5 thì mắc bệnh ốm. Chúa thượng một mặt sai Ngự y viện mang thuốc bổ đến ban, một mặt sai quan thị nội đi lại nghe ngóng tình hình, đến giờ Mão ngày mùng 3 tháng 7 thì mất. Ngày hôm đó, Chúa thượng lệnh cho quan mang ban cho gia đình 50 lượng bạc và một suất gấm. Viết điếu văn tuyên công và từ biệt vô cùng thống thiết. Ngày 22 tháng 9 năm đó, phụng chỉ truy tặng tước Binh bộ Thượng thư Nhuyên quận công, Trụ quốc thượng trật, ban tên thụy là Nhã Trực. Ngày 28 tháng 9 năm đó Hoàng thượng đặc tiến là Kim tử Vinh lộc đại phu, lệnh cho đức Nguyễn Trọng Đôn đến tế”.

Trên đây là đoạn ghi chép khá tỉ mỉ về ông tổ thứ ba của dòng họ, tuy nhiên không thấy đề cập đến chi tiết ông đi sứ nhà Thanh, bị ốm trên đường như một số tư liệu thường nói. Song với những ghi chép đầy đủ như trên thì đây thực sự là nguồn tư liệu đáng tin cậy để bổ sung vào tiểu sử của nhân vật Trịnh Ngô Dụng.

Ngoài ra, gia phả cũng có phần phụ chép về văn bia Ninh Định, theo nội dung của sách thì người soạn văn bia này chính là ông tổ đời thứ ba - Trịnh Ngô Dụng. Nội dung văn bia như sau:

“Thường nghe sùng văn trọng đạo là cái tâm của kẻ sĩ quân tử, cho nên ông già Mạch Khâu này cũng có cái tâm của kẻ sĩ quân tử, đó chẳng phải là thiên đức, là cái lý cố hữu của dân thường hay sao? Tự nhiên cảm phát mà không thể đừng được! Xem khắp các cụ già trong tổng Gia Định này đều đã từng được nghe lời giảng mà muốn nối tiếp con đường thư hương, bèn nhân lúc tiệc nhàn mà nói với nhau rằng: “Ấp ta từ xưa vẫn có tiếng nhiều nhân tài, trong đó có cả những nhân vật nổi tiếng, văn vật hiển hiện, luân thường tuần tự, sao không thể không dựa vào những thế mạnh riêng có vậy? Quan sát lễ cúng tiến, thứ ngon vật lạ không thức gì không có, nhưng đất đai chật chội ẩm thấp, tuy nhiều năm di chuyển song hai kỳ Xuân Thu không thể không cúng tế. Nước ao nước suối ít khi phân biệt, cứ theo thế cẩu thả không ý quay về, nên lòng bất dứt không yên, phải chăng dốc sức là khó? Kìa những kẻ cầu phúc trong phòng kín, tựa như bới đất tìm vàng, những kẻ tung khăn ban thưởng lãng phí trong tiệc rượu ca múa. Huống hồ nhìn những chỗ dựa vào, danh tiết và giáo dục có sự liên quan, há lại không thể dốc công sức xây dựng hay sao? Suy tính lâu dài tất đã có đầy đủ cơ sở, nhân đó mà lần lượt bỏ ra của cải cùng với tiền là 300 quan mua được mảnh đất thoáng đãng sáng sủa làm nơi cúng tế, gom 3 mẫu ruộng để trồng cấy lấy vật phẩm dâng lên. Vào tháng mùa xuân, năm Canh Tuất bắt đầu khởi công xây dựng, đến mùa hạ năm Tân Hợi thì khánh thành, từ nay về sau (đã có chốn) lần lượt cúng tế quanh năm.

Các bậc tiên thánh tiên sư đến các vị khoa bảng trong huyện nhà đều được kê tên. Hoành tráng thay! Quy mô thoáng đãng mà chế độ đầy đủ trang nghiêm, gốc gác đạo đức cuốn quýt, nền tảng nhân lễ khoan bình. Rồi bày ra cốc chén, lễ mọn tần tảo cùng lòng thành làm lễ chay cúng tiến, nếp thơm và đức sáng cùng ngào ngạt mùi hương; Hộc đứng le chạy xem chừng cung kính, chim bay cá nhảy nghe sao thịnh hưng. Đạo ta cùng vì đó mà thêm hanh thông, tư văn thêm bồi đắp, nhân tài thêm khởi sắc, khoa bảng được tiếp nối, há chẳng nhường tiếng thơm cho họ Ngô ta sao? Chẳng lễ không phải tấm lòng tốt như ruộng có bờ hay sao? Thế là đem lời văn tạc vào đá để lưu truyền mãi mãi về sau!”

Theo nội dung văn bia, ngôi đền được bắt đầu khởi công xây dựng vào mùa xuân năm Canh Tuất và hoàn thành vào mùa hạ năm Tân Hợi. Vì Ngô Dụng là người soạn văn bia nên chúng ta có thể xác định được chính xác thời gian khởi công là năm 1730 và khánh thành vào năm 1731. Ông tổ đời thứ ba của dòng họ Ngô đã đóng góp 300 quan tiền mua đất xây đền, 3 sào ruộng làm ruộng hương hỏa. Đền dựng lên với mục đích để dân trong vùng có nơi cúng tế hai kỳ xuân thu, ghi tên và thờ tự các con viên đạt thành tích tốt trong các kỳ thi của triều đình, được ra làm quan.

Như vậy, cuốn gia phả họ Ngô ở Bắc Giang không chỉ có giá trị trong nội bộ dòng tộc mà còn chứa đựng trong đó nhiều thông tin quan trọng mà giới nghiên cứu về văn hóa, thư tịch cổ đều mong muốn được tiếp cận. Những chi tiết ghi trong sách đã lý giải rõ ràng về việc thay đổi họ, nguồn gốc dòng họ và nêu chi tiết tiểu sử từng nhân vật trong dòng tộc. Đặc biệt những ghi chép về ông tổ đời thứ ba Ngô Dụng (Trịnh Ngô Dụng) đã góp phần hoàn thiện hơn về tiểu sử của nhân vật này. Hơn nữa, qua văn bản, chúng ta còn biết đến bia Ninh Định, nội dung văn bia nói rõ lý do việc xây dựng ngôi đền ở Vân Xuyên, Hoàng Vân, Hiệp Hòa, Bắc Giang (tuy nhiên chúng tôi chưa xác định được ngôi đền được nhắc đến trong văn bia là ngôi đền nào, cũng như tấm bia Ninh Định được đề cập đến hiện có còn tồn tại?), nói rõ năm khởi công và năm khánh thành đền. Tóm lại, với những nội dung chứa đựng trong mình, cuốn gia phả họ Ngô ở Bắc Giang thực sự là một cuốn sách quý cần được giữ gìn và bảo quản cận thận.

 

Chú thích:

(1) Chùa An Thất, hiện nay vẫn còn, ở xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, được nhân dân trong vùng gọi với tên Nôm là chùa Sứt. Tên chùa liên quan đến bức tượng bằng đá được thờ trong chùa, tượng bị sứt một miếng nên nhân dân trong vùng gọi luôn thành tên chùa là Chùa Sứt.

(2) Vì dung lượng một bài viết thông báo không cho phép nên từ đây đến cuối bài viết, chúng tôi chỉ trích dẫn lời dịch của Gia phả, không giới thiệu phần phiên âm./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.523-532)

Hoàng Thị Thu Hường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm