VI | EN
44. Giới thiệu thư tịch thần tích Hà Nội tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm
tb07

MẤY NÉT VỀ MẢNG SÁCH THẦN TÍCH HÀ NỘI LƯU TRỮ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

 

TRẦN THỊ THU HƯỜNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

 

Để tìm hiểu về các truyền thuyết, sự tích lịch sử của Thăng Long Hà Nội xưa, chúng ta không thể không nói đến mảng thư tịch thần tích Hà Nội được viết bằng chữ Hán Nôm hiện đang lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Đây là bộ sưu tập những sự tích về thần thờ ở các thôn, xã, phường của Hà Nội, phần lớn đã được triều đình phong kiến cho người biên chép, chỉnh lý và để bản gốc tại Bộ Lễ dưới cái tên chung “Ngọc phả”. Sự tích thần được văn bản hóa thành những bản thần tích, trong đó có những bản thần tích được biên soạn rất sớm từ thời Lê Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên thứ 3 (1430) như: Thần tích xã Dục Nội, huyện Cổ Loa (ký hiệu AEa.11/1), gồm 16 trang chữ Hán, khổ 31,5 x 21,5cm, do Lê Tung soạn ghi sự tích Đễ Công (Phúc Thần Liêu Đại vương); Thiên Cang (Âm Phù Thiên Cang Linh Ứng Đại vương); Đống Lang (Âm Phù Đống Lang Linh Ứng Đại vương) triều Lê. Tiếp đó là hàng loạt các bản thần tích khác do Đại học sĩ Nguyễn Bính biên soạn vào các năm: 1572; 1573; 1577, đây là các bản thần tích chiếm đại đa số các bản thần tích của Hà Nội. Về sau, những văn bản thần tích đó lại được Quản Giám bách thần Nguyễn Hiền sao và nhân bản vào những năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736). Như vậy, các văn bản thần tích Hà Nội xuất hiện chủ yếu từ thế kỷ XV, và trở nên phổ biến vào thế kỷ XVI, sau đó được sao chép và nhân bản vào thế kỷ XVIII. Mỗi bản thần tích thường được biên soạn theo một mẫu chung ghi: sự tích của thần, công lao của thần khi còn sống cũng như sau lúc mất, các danh hiệu được phong tặng, nơi thờ thần, tên gọi của thần… Từ những vị thần xuất hiện sớm nhất từ thuở các Hùng Vương ví như: thần tích xóm Thượng và xóm Hạ, xã Đàn Giản, tổng Hà Liễu, huyện Thanh Trì (ký hiệu AE.a2/78), gồm 36 trang, do Nguyễn Bính soạn năm 1572, ghi sự tích 3 vị thần triều Hùng là: An Duy Đại vương; Hữu Sơn Đại vương; Đông Hải Phu Nhân Công chúa; hay thần tích thôn Trung, xã Hạ Trì, huyện Từ Liêm (ký hiệu AEa.2/63), gồm 26 trang, do Nguyễn Bính soạn năm 1572, ghi sự tích 3 vị thần triều Hùng là: Tản Viên Sơn thánh, Cao Sơn Đại vương, Quý Minh Đại vương… Đến những vị thần xuất hiện muộn nhất là và thời Lê như: thần tích xã Đại Mỗ, tổng Đại Mỗ, huyện Từ Liêm (ký hiệu AEa.2/61), gồm 38 trang, ghi sự tích 3 vị thần triều Lê là: Nguyễn Quý Đức (Lê triều Thám hoa Quốc lão Đại vương); Nguyễn Quý Ân (Lê triều Hoàng giáp Quốc lão Đại vương); Nguyễn Quý Năng (Quốc Sư công vị Đại vương)… Đó là những nét đặc sắc của văn hóa tín ngưỡng dân gian, và cũng là một trong những giá trị văn hóa phi vật thể của vùng đất địa linh nhân kiệt.

Mảng thư tịch thần tích hiện đang lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm cả thảy gồm 568 cuốn mang ký hiệu AE, đây là bộ sưu tập những sự tích về thần thờ ở các thôn, xã thuộc 22 tỉnh (trấn, dinh, xứ) từ Nghệ An trở ra Bắc, phần lớn đã được triều đình phong kiến cho người ghi chép, chỉnh lý. Trong tổng số 568 cuốn thần tích, có 58 cuốn thần tích thuộc địa bàn Hà Nội(1) mang các ký hiệu: AEa.7/12; AEa.2/14-38; AEa.2/59-86; AEa.2/103; AEa.11/1-4, ghi về thần tích các huyện Gia Lâm, Hoàn Long, Từ Liêm, Thanh Trì, Đông Anh, cụ thể như sau:

- Thần tích 5 xã thuộc huyện Gia Lâm.

- Thần tích 41 xã, 3 thôn và 2 xóm thuộc huyện Thanh Trì.

- Thần tích 42 xã, 13 thôn và 1 vạn thuộc huyện Từ Liêm.

- Thần tích giáp Hàm Long thuộc huyện Thọ Xương.

- Thần tích 12 xã, 9 phường, 5 trại, 1 giáp, 4 thôn thuộc huyện Hoàn Long.

- Thần tích 18 xã, 4 thôn thuộc huyện Đông Anh.

Như vậy, chúng ta thấy thần tích Hà Nội được phân bố đều ở 118 xã, 24 thôn, 2 xóm, 1 vạn, 2 giáp, 5 trại, 9 phường. Tập trung nhiều nhất là ở hai huyện Từ Liêm và Thanh Trì, tiếp đó là phải kể đến huyện Hoàn Long và Đông Anh, sau đó là huyện Gia Lâm và cuối cùng là huyện Thọ Xương chỉ thấy thần tích của 1 giáp. Đây là một nguồn thư tịch có giá trị, giúp chúng ta tìm hiểu về sự tích và truyền thuyết của các vị thần được thờ ở Hà Nội.

Ngoài các bản thần tích nêu trên, còn có 46 cuốn sách mang ký hiệu: A; AB; VHv; VHb có ghi về sự tích các vị thần được thờ ở các di tích danh thắng của Hà Nội như: Hà Thành thần sắc (ký hiệu A.840/1-8), 1 bản viết tay, gồm 1518 trang, khổ 31 x 18cm: tập đơn từ của các phố của Hà Nội kê khai duệ hiệu, sự tích của các vị tôn thần được thờ phụng ở các địa phương để xin phong tặng. Sưu tập sắc phong của các triều đình đối với các vị tôn thần này; Đại Nam thần lục (ký hiệu A.1213), một bản viết gồm 4 quyển, 369 trang, khổ 26 x 14cm: Quyển 1 ghi các vị thần là vua, chúa, hoàng hậu như: Hùng Vương, Thục An Dương Vương, Lý Nam Đế, Trưng Nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tổ, và các bà Hoàng thái hậu, Hoàng hậu…; Quyển 2 ghi ccá vị thượng đẳng thần như: Quan Thánh đế Quân, Thái Thượng lão quân, Cửu Thiên huyền nữ, Chân Vĩ Đế, Thần Bạch Mã, Sóc Thiên Vương, Linh Lang Đại vương…; Quyển 3 ghi các vị trung đẳng thần như: Nguyễn Phục, thần Đồng Cổ, Lê Đô Thống (Lê Phụng Hiểu), Ngô Phủ quân (Ngô Nghĩa), Khương Công Phụ, Phạm Tử Nghi…; Quyển 4 ghi các vị hạ đẳng thần như: Thần thành hoàng, Thần thổ địa, Không Lộ, Giác Hải… và một số các sách khác như: Yên Lãng Chiêu Thiền tự Từ Đạo Hạnh sự tích thực lục (ký hiệu AB.589); Yên Lãng hậu thổ sự tích (ký hiệu A.2897); Bạch Mã từ tam giáp hương lệ (ký hiệu A.1023); Bản thổ thần sắc phong mỹ tự (ký hiệu VHv.148); Nhân Ái thần từ lục (ký hiệu A.710); Cao Sơn Đại vương từ (ký hiệu A.383); Cổ Loa thành sự tích điền thổ sắc phong hợp biên (ký hiệu A.92); Đại Điên Thánh sự tích (ký hiệu A. 2721); Đại Mỗ Nguyễn Tam Đại vương thế phả (ký hiệu VHv. 1337, 1338); Thiên Mỗ xã Thần sắc (ký hiệu A.703); Thụy Phương thần từ (ký hiêu VHv.2619); Thượng Thụy xã ngũ vị thần tích (ký hiệu A.2510); Định Công trang thần tích (ký hiệu A.711)…

Dưới góc độ là người làm công tác Hán Nôm, chúng tôi đã tiến hành thống kê các thư tịch Hán Nôm có liên quan đến thần tích Hà Nội với con số ban đầu khoảng hơn một trăm đầu sách. Đây là nguồn tư liệu Hán Nôm quý, giúp chúng ta tìm hiểu thêm về truyền thuyết lịch sử của vùng đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

Mảng thư tịch thần tích Hà Nội là những bằng chứng sinh động, chuyển tải những nét văn hóa tín ngưỡng dân gian. Khi nói đến thần tích, chúng ta thường liên tưởng ngay đến sự tích và lai lịch của các vị thần được thờ ở đình làng, và thường được gọi bằng một cái tên chung là Thành hoàng bản thổ. Vị Thành hoàng của một làng, một xã là vị thần thánh hoặc là người đã được tôn vinh thành thần, có trách nhiệm và uy lực bảo vệ và phù hộ cho dân làng. Ngay trong thời Bắc thuộc, vào năm 823, Thần Tô Lịch trở thành vị thần bảo hộ La Thành đầu tiên, được Lý Nguyên Gia phong làm Thành hoàng. Thần là vị thần cai quản toàn bộ vùng đất Thăng Long từ rất xa xưa. Khi nhà Lý định đô ở Thăng Long năm 1010, cho dựng miếu thờ thần Tô Lịch và phong thần làm “Quốc Đô Thăng Long Thành Đại vương”. Thần được thờ ở làng Tân Khai huyện Thọ Xương (nay là phố Hàng Buồm quận Hoàn Kiếm - Hà Nội) và làng Liên Ngạc xã Liên Ngạc huyện Từ Liêm (ký hiệu AEa.2/66) ghi sự tích thần Tô Lịch, tức Bảo Quốc Trấn Linh Định Bang Quốc Đô Thành hoàng. Tiếp đó là thần Long Đỗ (thần còn có tên khác là Bạch Mã) cũng được lập miếu thờ ở Thăng Long, được vua Lý Thái Tông ban sắc phong thần là “Quảng Lợi Vương” và “Quốc đô Thăng Long Thành hoàng Đại vương”. Thần Long Đỗ được thờ rất nhiều nơi ở Hà Nội như: làng Cổ Việt (nay thuộc phố Hàng Gai quận Hoàn Kiếm - Hà Nội); làng Đồng Xuân huyện Thọ Xương (nay thuộc quận Hoàn Kiếm - Hà Nội); đền Bạch Mã phố Hàng Buồm - Hà Nội. Ngoài ra còn có thần Tô Lịch và thần Long Đỗ (thần Bạch Mã).

Trong phạm vi bài viết này chúng tôi nêu vài nét khái lược mảng sách thần tích thuộc địa bàn Hà Nội hiện được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Chi tiết vấn đề văn bản, cũng như việc nghiên cứu khai thác nội dung các bản thần tích này được các nhà nghiên cứu quan tâm đi sâu tìm hiểu, chúng tôi xin cung cấp một bản danh mục kèm sau:


DANH MỤC SÁCH THẦN TÍCH HÀ NỘI

(Địa danh ở đây được lấy theo

văn bản Thần tích Hà Nội)

 

Huyện

Tổng

Ký hiệu

Số trang

Đông Anh

Cổ Loa

Cổ Loa

AEa11/1

34

Dục Nội

nt

16

Đường An

nt

18

Gia Lộc

nt

14

Giao Lỗ

nt

19

Lương Quy

nt

13

Lương Quán

nt

10

Đông Đồ

Đông Đồ

AEa11/2

8

Tằng My

nt

12

Tuân Lệ

Cổ Dương

AEa11/3

13

Chiêm Trạch

nt

21

Tuân Lệ

nt

11

Vân Trì

nt

13

Xuân Nộn

Đào Thục

AEa11/4

12

Kim Tiên

nt

14

Nhạn Tái

nt

20

Nguyên Khê

nt

30

Thư Lâm

(thôn Biểu Khê)

nt

13

Thư Lâm

(thôn Cổ Miếu)

nt

30

Thư Lâm (thôn Hương Trầm)

nt

18

Thư Lâm

(thôn Mạnh Tân)

nt

27

Xuân Nộn

nt

77

 

Gia Lâm

 

Đa Tốn

Aea7/12

3

 

Đông Dư

nt

4

 

Kim Quan

nt

8

 

Kiêu Kỵ

nt

24

 

Xuân Quan

nt

20

Hoàn Long

 

Bạch Mai

Aea2/15

24

 

Quảng Bá

Aea2/38

22

 

Cơ Xá

Aea2/16

24

 

Đại Am

Aea2/17

12

 

Đông

Aea2/18

25

 

Giảng Võ

Aea2/19

34

 

Hoàng Mai

Aea2/20

18

 

Hồ Khẩu

Aea2/21

10

 

Kim Mã

Aea2/22

30

 

Khương Trung

Aea2/38

12

 

Mai Động

Aea2/23

10

 

Nam Đồng

Aea2/24

10

 

Nội Châu

Aea2/25

18

 

Ngọc Hà

Aea2/26

20

 

Ngọc Xuyên

Aea2/38

26

 

Nhược Công

Aea2/27

36

 

Phương Liệt

Aea2/38

26

 

Tam Lạc

 

48

 

Tàm Xá

Aea2/29

24

 

Thịnh Hào

Aea2/30

44

 

Thịnh Quang

Aea2/31

8

 

Thổ Quang

Aea2/32

8

 

Thủ Lệ

Aea2/33

20

 

Trích Sài

Aea2/34

52

 

Vĩnh Tuy

Aea2/35

 

 

Xã Đàn

Aea2/36

14

 

Yên Lãng

Aea2/38

36

 

 

Yên Phụ

Aea2/38

22

 

Yên Thái

Aea2/14

10

 

Thôn Xuân Biểu

Aea2/37

12

 

Thanh Trì

Cổ Điển

Cổ Điển

AEa2/77

4

Đồng Trì

nt

4

Huỳnh Cung

AEa2/76

20

Ích Vịnh

AEa2/77

14

Lạc Thị

AEa2/76

8

Ngọc Hồi

AEa2/76

20

Ngô Cương

AEa2/77

4

Quỳnh Đô

AEa2/76

14

Yên Ngưu

AEa2/76

14

Yên Kiện

AEa2/77

4

Văn Điển

AEa2/76

16

Hà Liễu

Bùi Xá

AEa2/78

22

Du Dự

AEa2/78

62

Đàn Giản

AEa2/78

36

Hà Liễu

AEa2/78

4

Hoàng Xá

AEa2/78

4

Từ Am

AEa2/78

32

Nam Phù

Đông Phù Liệt

AEa2/79

34

Mỹ A

AEa2/79

14

Tư Khoát

AEa2/79

2

Tương Trúc

AEa2/79

2

Văn Uyên

AEa2/79

28

Ninh Xá

Bằng Sở

AEa2/80

16

Duyên Trường

AEa2/81

14

Ninh Xá

AEa2/80

8

Nội Am

AEa2/81

22

Nhụy Châu

nt

12

Phúc Am

nt

100

Phương Nhụy

nt

14

Yên Phú

nt

12

Phù Liệt

Đông Trạch

AEa2/82

24

Tranh Khúc

nt

4

Thâm Thị

Cẩm Cơ

AEa2/83

48

Thậm Thị

nt

26

Thâm Xuyên

nt

18

Thịnh Liệt

Giáp Nhị

AEa2/84

16

Thịnh Liệt

nt

8

Tương Mai

nt

20

Vân La

Đông Thai

AEa2/85

6

Phú Mỹ

nt

10

Nỏ Bạn

nt

4

Vân La

nt

18

Vĩnh Ninh

Đại Áng

AEa2/86

42

Vĩnh Ninh

nt

38

Vĩnh Thịnh

nt

40

Vĩnh Trung

nt

28

Thọ Xương

 

Hàm Long

AEa1/1

32

 

 

Từ Liêm

Cổ Nhuế

Cáo Đỉnh

AEa2/59

14

Phú Diễn

nt

12

Phú Diễn

(thôn Kiều Mai)

nt

24

Văn Trì

nt

48

Dịch Vọng

Dịch Vọng Tiền

AEa2/60

46

Dịch Vọng Trung

nt

18

Đoài Môn

nt

10

Hạ Yên Quyết

nt

12

Nghĩa Đô

nt

24

 

Trung Kính

nt

24

Đại Mỗ

Đại Mỗ

AEa2/61

38

Mỗ Lao

AEa2/62

16

Ngọc Trục

nt

10

Phú Đô

nt

14

Phùng Khoang

AEa2/61

18

Vạn Phúc

nt

25

Hạ Trì

Đại Cát

AEa2/63

34

Hạ Trì (thôn Hạ)

nt

10

Hạ Trì (thôn Thượng)

nt

14

Hạ Trì (thôn Trung)

nt

26

Thượng Cát

nt

22

La Nội

La Khê

AEa2/65

8

La Nội

nt

9

Nghĩa Lộ

nt

12

Ỷ La

nt

9

Phú Gia

Nhật Tảo

AEa2/67

80

Phú Gia

nt

32

Thụy Phương

nt

20

Thụy Phương

AEa2/68

186

Vạn Liên Ngạc

nt

10

Phương Canh

Nhân Mỹ

AEa2/69

12

Phú Mỹ

nt

12

Phương Canh

nt

18

Vân Canh

(thôn Hậu Ái)

nt

10

Tây Tựu

Ngọc Kiêu

AEa2/70

16

Thượng Hội

Hạ Mỗ

AEa2/71

22

Phù Trung

nt

32

Thượng Mỗ

nt

20

Thượng Trì

Bá Dương Nội

AEa2/73

18

Bồng Lai

nt

68

Đông Lai

nt

18

Hữu Cước

nt

14

Thượng Trì

(thôn Nội)

nt

16

Thượng Trì

(thôn Tổ)

nt

34

Xuân Tảo

Bái Ân

AEa2/74

12

Xuân Tảo

nt

16

Yên Lãng

La Dương

AEa2/64

88

La Phù

nt

18

Ngải Cẩu

nt

22

Vân Lũng

nt

8

Yên Lũng

nt

8

Yên Thọ

nt

8

Trần Thị Thu Hường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm