47. Tìm hiểu đôi nét về văn bia Hậu thần tỉnh Hải Dương (TBHNH 2012)
47. Tìm hiểu đôi nét về văn bia Hậu thần tỉnh Hải Dương (TBHNH 2012)
TÌM HIỂU ĐÔI NÉT VỀVĂN BIA HẬU THẦN TỈNH HẢI DƯƠNG
TRẦN THỊ THU HƯỜNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Hải Dương là một trong những tỉnh nằm trong khu vực vùng đồng bằng Bắc Bộ, cũng là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời. Vùng đất Hải Dương luôn ở vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi đã đánh giá Hải Dương là trấn thứ nhất trong bốn kinh trấn và là phên giậu phía đông của kinh thành Thăng Long. Một vùng đất địa linh nhân kiệt hàng ngàn năm nay đã chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử và văn hóa trọng đại, đã sản sinh ra bao nhiêu anh hùng hào kiệt đóng góp cho đất nước, những sự kiện ấy, một phần đã được ghi lại trong bia đá. Đây là những tư liệu lịch sử rất đáng tin cậy, lưu giữ được những tư liệu quý giá. Điều đó đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học khẳng định và sử dụng rất có hiệu quả trong công tác nghiên cứu khoa học của mình như: Một số vấn đề về văn bia Việt Nam, Văn bia thời Mạc, Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc, Tuyển tập văn bia Hà Nội, Văn bia xứ Lạng, Văn bia Hải Phòng, Thư mục văn khắc Hán Nôm Việt Nam... Ở đây, trong khuôn khổ của bài viết Thông báo Hán Nôm học, chúng tôi xin giới thiệu đôi nét về văn bia Hậu thần tỉnh Hải Dương. Đây là một nguồn tư liệu có giá trị, giúp các nhà khoa học trong việc nghiên cứu những vấn đề về sinh hoạt làng xã và những văn hóa tín ngưỡng nơi đình làng của tỉnh Hải Dương nói riêng và của vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung.
Văn bia Hậu thần là sản phẩm của tục lập Hậu thần ở Việt Nam, những người được bầu làm Hậu thần là những người có công lao hoặc có những đóng góp tiền của cho làng xã chi dùng vào các việc công, cho việc xây dựng và trùng tu các di tích như đình, đền, miếu, cầu, chợ... Họ được làng xã công nhận và lập bia ghi công, cho họ được phụ thờ tại đình, đền, miếu - nơi thờ Thần làng làm Hậu thần, tức họ được thờ phụng sau Thần. Từ số liệu thống kê về “Văn bia Hậu thần Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII” qua “Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam”, bước đầu chúng tôi thống kê được hơn 400 thác bản văn bia Hậu thần tỉnh Hải Dương. Đây là một tỉnh có hệ thống văn bia Hậu thần thế kỷ XVII - XVIII nhiều nhất mà bước đầu chúng tôi thống kê được. Điều nay là một trong những chứng cứ cho thấy: thời Lê Trung hưng, xã hội tương đối ổn định, nền kinh tế phát triển mạnh ở khu vực kinh thành Thăng Long và tứ trấn trong đó có trấn Hải Dương. Hệ thống văn bia Hậu thần này được phân bố đều khắp ở các làng xã trên địa bàn toàn tỉnh Hải Dương như sau:
Stt | Tên huyện | Số thác bản văn bia |
1 | Nam Sách | 130 |
2 | Gia Lộc | 84 |
3 | Cẩm Giàng | 44 |
4 | Tứ Kỳ | 41 |
5 | Thanh Hà | 39 |
6 | Kinh Môn | 35 |
7 | Vĩnh Lại | 13 |
8 | Kim Thành | 10 |
9 | Đông Triều | 05 |
10 | Bình Giang | 02 |
11 | Thanh Lâm | 02 |
Tổng | 405 |
(Địa danh trên được lấy theo địa danh trên thác bản văn bia).
Qua bảng thống kê trên chúng ta thấy, văn bia Hậu thần tỉnh Hải Dương được phân bố trên địa bàn 10 huyện. Trong đó huyện có số lượng văn bia Hậu thần nhiều nhất là huyện Nam Sách: 130 thác bản văn bia, hai huyện có số văn bia Hậu thần ít nhất là huyện Bình Giang và huyện Thanh Lâm: 02 thác bản văn bia. Số các văn bia Hậu thần này mang các niên đại từ Hoằng Định thứ 9 (1608) thời vua Lê Kính Tông, đến niên đại Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) thời vua Nguyễn Quang Toản. Trong số các thác bản văn bia Hậu thần tỉnh Hải Dương, có một thác bản văn bia Hậu thần mang niên đại sớm nhất là: Tín thí phúc điền (N0. 8883), niên đại dựng bia là Hoằng Định thứ 9 (1608), bia đặt tại đình xã An Xá, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Bia ghi việc bà họ Nguyễn, hiệu Từ Quý, cúng 1 mẫu ruộng cho thôn làm phúc điền, bà được dân tôn bầu làm Hậu thần. Đến văn bia: Hậu thần bi ký (N0. 12240), niên đại dựng bia Cảnh Thịnh thứ 8 (1800), bia đặt tại đình thôn Sư, xã Nhân Lý, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Bia ghi việc bà Nguyễn Thị Tố, người bản giáp, cúng 60 quan tiền và 8 sào ruộng cho xã chi dùng vào việc công. Hương lão bản giáp tôn bầu ông bà cha mẹ bà làm Hậu thần.
Hải Dương là một trong những vùng đất “địa linh nhân kiệt”, vùng văn hóa và văn hiến tâm linh của cả nước. Theo hệ thống văn bia Hậu thần tỉnh Hải Dương cho thấy, ngôi đình làng - trung tâm của làng xã đã được xây dựng nhiều trên địa bàn tỉnh từ những năm thuộc thế kỷ XVII - XVIII. Nội dung văn bia Hậu thần như là một bức tranh thu nhỏ, phản ánh những nét sinh hoạt làng xã và văn hóa tín ngưỡng nơi đình làng.
Văn bia Hậu thần Hải Dương ghi chép về việc hưng công xây dựng và tu sửa đình làng. Một công việc phổ biến ở hầu hết các làng quê người Việt, đặc biệt là các làng quê thuộc khu vực vùng đồng bằng Bắc bộ thế kỷ XVII - XVIII, trong đó có tỉnh Hải Dương. Việc xây dựng và tu tạo đình làng - nơi thờ Thần thành hoàng làng đã thu hút được mọi tầng lớp nhân dân tham gia, từ các quan chức trong triều đình đến những người dân thường sống tại bản xã. Họ đều là những người kính Thần và mong muốn được công đức gia tài của mình, góp phần xây dựng và tu tạo ngôi đình - trung tâm của làng xã, điều đó được phản ánh rất rõ nét trong văn bia Hậu thần. Văn bia xã Đôn Thư, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (N0 5128 - 5129), dựng năm Chính Hòa thứ 5 (1684). Bia ghi việc “ông Phạm Hữu Lộc cúng 25 quan tiền 3 sào ao trị giá 50 quan tiền cho xã xây dựng ngôi đình ngói, dân tôn bầu làm Trùm Hậu thần”. Văn bia xã Trực Trì, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (N0 8869 - 8872), dựng năm Chính Hòa thứ 7 (1686). Bia ghi việc “Quan Tượng quân Chánh đội trưởng Dĩnh Lộc hầu Hoàng Văn Tá, người thôn Đông, xã Hộ Xá cúng 1000 quan tiền sử 100 quan tiền cổ cho hai xã Điền Trì và Hộ Xá xây dựng đình. Ông lại xuất 5 sào ruộng để dùng cho việc hương hỏa. Quan viên dân hai xã tôn bầu ông và vợ ông là bà Trần Thị Ngọc, hiệu Từ Tín làm Hậu thần”.
Văn bia Hậu thần còn phản ánh tình hình xã hội thế kỷ XVII - XVIII với cảnh sau cơn binh lửa, cảnh mất mùa đói kém, quan dịch nặng nề xảy ra ở khắp các làng xã Việt Nam, trong đó có các làng xã của tỉnh Hải Dương. Vấn đề này được phản ánh rất nhiều trong băn bia Hậu. Văn bia xã Tân Xuân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương (N0 11795 - 11796), dựng năm Cảnh Hưng thứ 31 (1770). Bia ghi việc “Năm Canh Tuất và năm Đinh Dậu sau cơn binh lửa, thôn Đông Hoa lại gặp cảnh mất mùa đói kém, quan dịch nặng nề nên phải đặt ra lệ: Ai cúng tiền cho thôn tiêu dùng vào việc công, bản thôn tôn bầu làm Hậu thần. Ông Đinh Nho Thạc đã cúng 10 quan tiền cổ, 5 sào ruộng cho bản thôn. Quan viên cùng dân thôn tôn bầu ông làm Hậu thần và quy định việc cúng biếu Hậu thần hàng năm”. Văn bia xã Tân Xuân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương (N0 11797 - 11798), dựng năm Cảnh Hưng thứ 47 (1786). Bia ghi việc “Năm Quý Mão thôn Đông Hoa gặp cơn tai dịch, mất mùa giặc giã, quan dịch nặng nề. Ông Bùi Nguyễn Huy đã xuất 47 quan tiền cổ, 8 cây gỗ giá 6 quan 4 mạch tiền cổ và một số ruộng cho bản thôn dùng vào việc công, quan viên tôn bầu ông làm Hậu thần”. Văn bia xã Hạ Vĩnh, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương (N0 11750 - 11751), dựng năm Thịnh Đức thứ 2 (1654). Bia ghi việc “Xã Hạ Vĩnh thiếu tiền nộp quan khố, Tuần phủ Trịnh Văn Vụ cùng vợ là Trịnh Thị Mộ, đã xuất 30 quan tiền giúp bản xã. Quan viên, dân làng biết ơn suy tôn ông bà làm Hậu thần”.
Văn bia Hậu thần truyền tải những giá trị nhân đạo của người dân Việt. Với truyền thống “lá lành đùm lá rách” khiến cho mỗi người dân cùng sống trong cộng đồng làng xã luôn luôn ý thức được trách nhiệm của mình trước cộng đồng làng xã. Họ thể hiện lòng bác ái của mình để chia sẻ những khó khăn với dân làng trong những công việc sinh hoạt làng xã. Văn bia xã Lôi Động, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương (N0 11472 - 11474), dựng năm Bảo Thái (1727). Bia ghi việc “Bà Đỗ Thị Suối hiệu Diệu Ngọc người bản xã, bà là người nhân từ, gia tư giàu có. Bà xuất tiền bạc để chẩn tế người nghèo, già trẻ lớn bé trong làng đều được hưởng ân huệ, người dân gọi bà là trí mẫu, dân làng nhớ ơn tôn bầu bà làm Hậu thần”. Văn bia xã Kim Can, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương (N0 11610), dựng năm Cảnh Hưng thứ 46 (1785). Bia ghi việc “Năm Giáp Ngọ, gặp lúc bản xã thiếu tiền để tu chỉnh hộ tịch. Ông họ Tăng tự Quang Hoàn, đã cúng tiền và ruộng tổng trị giá 45 quan. Bản xã ghi nhớ công đức và tôn bầu ông làm Hậu thần”. Văn bia thôn Bản Hóa, xã Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (N0 9255 - 9256), dựng năm Chính Hòa thứ 10 (1689). Bia ghi việc ông họ Nguyễn tự Phúc Long, là người có đức cao, nghĩa cả. Năm Quí Mão ông đã xin cho xã giảm bớt được 3 suất lính. Năm Kỷ Mùi, ông lại cúng tiền và ruộng cho xã xây dựng miếu. Quan viên và dân xã mang ơn, tôn bầu ông làm Hậu thần.
Văn bia Hậu còn phản ánh truyền thống uống nước nhớ nguồn, một đạo lý cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Mỗi người dân Việt đều luôn hướng về cội nguồn, nơi đó có tổ tông ông bà cha mẹ, nơi nuôi dưỡng tầm hồn con người. Và dường như, trong tâm thức người dân Việt, hình ảnh ngôi đình như là một biểu tượng của làng Việt. Mọi sinh hoạt của dân làng đều được Thần làng chứng giám, thần che chở phù hộ cho dân làng được sinh sống bình an. Chính về thế mà mọi người dân đều tôn kính Thần, họ đều mong muốn cho tổ tông ông bà cha mẹ mình được thờ cúng sau Thần làm Hậu thần tại nơi đình làng. Điều đó đã phần nào chứng minh được lòng hiếu thảo của họ với tổ tiên nguồn cội. Văn bia xã Bá Thủy huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (N0 12921 - 12924), dựng năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730). Bia ghi việc “xã Bá Thủy là nơi địa linh nhân kiệt, con người có truyền thống hiếu thảo. Nay con cháu một số người trong xã như Quang tiến thận lộc đại phu, đồng Tri phủ Khoái Châu Thiện Vũ nam Nguyễn Phú Nhuận.... đã đóng tiền và ruộng cho xã. Quan viên dân xã tôn bầu tổ tiên của họ làm Hậu thần”. Văn bia xã Trạch Lộ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (N0 13281 - 13282), dựng năm Cảnh Hưng thứ 34 (1773), ghi việc “bản xã xây dựng đình mới và tu bổ đình cũ, họ tộc họ Phạm và họ Bùi trong làng đã tiến cúng tiền bạc để giúp xã xây dựng và trùng tu đình. Quan viên hương lão và dân làng tôn bầu gia tiên của họ làm Hậu thần”. Văn bia xã Thủy Trà Hạ, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (N0 12684 - 12687), dựng năm Vĩnh Hựu thứ 1 (1735). Bia ghi việc “bà Mạc Thị Nay, Mạc Thị Giám và các cháu ngoại là Đỗ Thế Thành, Đỗ Thế Hòe. Nghĩ đến ơn cúc dục sinh thành của cha mẹ đã xuất 200 quan tiền sử, 1 mẫu 5 sào ruộng cho thôn. Quan viên dân thôn đã thuận bầu cha mẹ hai bà là ông Mạc Hữu Trì, bà Phạm Thị Ngày làm Hậu thần”.
Văn bia Hậu thần đề cao những người có công khai làng lập ấp, tập hợp dân chúng làm ăn sinh sống. Công lao to lớn của họ đã được ghi công trên bia đá và được toàn dân tôn bầu làm Hậu thần. Văn bia thôn Nội, xã Nội Xá, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (12126 - 12127), dựng năm Cảnh Hưng thứ 38 (1777). Bia ghi việc, ông họ Nguyễn tự Đình Diễm thụy Phúc Hậu, sinh ở huyện Thanh Hà, tổ tiên người xã Hàng Kênh, An Dương. Hồi trước thôn ta trải qua chiến tranh binh hỏa, đồng ruộng bỏ hoang phế. Ông là người đầu tiên trở về làng khai phá, tập hợp dân chúng sinh sống, lập thành làng xóm”. Văn bia xã Thượng Đỗ, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương (N0 11961 - 11962), dựng năm Cảnh Hưng thứ 22 (1761). Bia ghi việc “Cựu xã chính Nguyễn Hữu Danh và vợ Nguyễn Thị Xâm, đã giúp dân xã quay trở về làng làm ăn sau cơn phiêu tán loạn lạc, ông lại xuất tiền và ruộng cho xã tu sửa tiền đường. Quan viên dân xã biết ơn suy tôn ông bà làm Hậu thần”.
Văn bia Hậu thần tỉnh Hải Dương cung cấp cho các nhà nghiên cứu những tư liệu quý giá về các nhà khoa bảng trên vùng đất “địa linh sinh nhân kiệt”. Điều đó được thể hiện qua đội ngũ các nhà khoa bảng tham gia soạn văn bia Hậu thần cho địa phương như: Trần Thọ, Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670), tác giả văn bia: Nhị xã tạo lập phụng tự Hậu thần (N0 8869 - 8872), Nguyễn Bộc Phủ tức Nguyễn Minh Triết, Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ Tam danh khoa Tân Mùi (1631), tác giả của văn bia: Hậu thần bi ký (N0 12276 - 12279), Nguyễn Y, Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1700), tác giả của văn bia: Thượng Đáp xã suy tôn Hậu thần tạo bi ký (N0 12633 - 12634)... Họ còn là những người có những đóng góp trực tiếp cho quê hương bản xã. Văn bia xã An Lạc, huyện Thanh Lâm, tỉnh Hải Dương (N0 12202 - 12204), dựng năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751). Bia ghi việc “Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1721) Trần Xuân Yến, người bản xã. Làm quan đến chức Quốc tử giám Tế tửu, khi mất được truy tặng Hàn lâm viện Thừa chỉ. Sinh thời, ông sống đức độ với dân làng, ban 2 mẫu 3 sào 10 thước ruộng và 2 cái ao cho dân, dân rất cảm kích công đức của ông. Quan viên, hương lão và dân xã tôn bầu ông làm Hậu thần”. Văn bia xã Quan Sơn, huyện Thanh Lâm, tỉnh Hải Dương (N0 12710 - 12711), dựng năm Vĩnh Trị thứ 4 (1679). Bia ghi việc “ Hoàng giáp Trần Xuân Bảng, người bản xã. Làm quan Hình khoa Đô cấp sự trung, cùng vợ là Trần Thị Ngọc Hương cúng tiền cho xã dựng đình miếu thờ thành hoàng là Quảng đức Đại vương. Quan viên và dân làng nhớ ơn công đức đã tôn bầu gia tiên ông làm Hậu thần”. Bên cạnh các nhà khoa bảng làm dạng danh vùng đất hiếu học, thì văn bia Hậu thần còn cho chúng ta thấy đội ngũ các quan lại trong triều đình, họ là những người có đóng góp rất nhiều cho sự phát triển kinh tế xã hội nơi quê cha đất mẹ...
Văn bia Hậu thần truyền tải những sinh hoạt hết sức sôi động và đa dạng ở làng xã, trong các thời kỳ lịch sử Việt Nam, nhất là khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII. Nguồn tài liệu có giá trị trong nghiên cứu tập tục, sinh hoạt làng xã, tín ngưỡng thờ Thần và Hậu thần của người dân Việt nói chung và của Hải Dương nói riêng, đặc biệt là hướng con người tới những giá trị nhân văn cao cả trong thời đại hiện nay.
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.398-406)