VI | EN
48. Mã chữ 元, 亨, 利, 貞 (nguyên hanh lợi trinh) trong quẻ Càn của Kinh Dịch (TBHNH 2010)
(TBHNH 2010)

MÃ CHỮ 元亨利貞(NGUYÊN HANH LỢI TRINH) TRONG
QUẺ CÀN CỦA KINH DỊCH

PHẠM VĂN THẮM

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Như chúng ta đã biết Kinh Dịch có 64 quẻ. Đầu tiên là quẻ Càn. Lời mở đầu của quả Càn có mệnh đề: (nguyên hanh lợi trinh).

Về mặt chữ trong mệnh đề này, hiện có 2 cách chú giải, thứ nhất là căn cứ vào mặt chữ, các chú giải đã chú:

(nguyên là sự khởi đầu của vạn vật sinh thành)

(hanh là sự thông đạt của vạn vật sinh thành)

( lợi là sự thỏa mãn của vạn vật sinh thành)

(trinh là sự phát triển của vạn vật sinh thành)

Trong Thoán truyện chú:

(nguyên là to lớn)

(hanh là thuận)

Trong Dịch truyện chú:

(trinh là chính)

Gần đây các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng căn cứ vào bản Kinh Dịch mới phát hiện được ở gò mã Vương thì chữ trinhđược chí là chiêm ( = trinh giả chiêm dã), cho nên mã chữ được giải nghĩa là xem bói thì có lợi.

Mệnh đề được vận dụng trong đời sống xã hội và tự nhiên như thế nào ? Chúng ta biết rằng Chu Dịch gồm Dịch kinh Dịch truyện hợp thành. Dịch kinh ra đời trên nền tảng tích lũy sự ghi chép về bói toán rất phong phú từ thời Ân đến đầu thời Tây Chu. Nên ngôn từ trong Dịch kinh là ngôn từ bói toán. Dịch truyện là phần triết lý hóa sách bói thời cổ đại. Khuynh hướng giải thích Dịch là bắt đầu từ thời Xuân Thu. Đến thời Chiến Quốc, theo sự hình thành và phát triển các thuyết của Chư tử thì xuất hiện lấy Dịch truyện làm đại biểu cho tác phẩm giải thích Dịch. Các thuyết của Âm dương gia, quan niệm về luân lý của Nho gia, thiên đạo quan của Đạo gia đang lưu hành ở đời lúc bấy giờ trở thành tư tưởng chỉ đạo cho việc giải thích DịchDịch kinh là nói về chiêm phệ (bói bằng cỏ thi), Dịch truyện có 2 loại ngôn từ, một là ngôn từ chiêm phệ, hai là ngôn từ triết học. Có 7 loại thiên gồm - Thoán thượng hạ; - Tượng thượng hạ; - Văn ngôn; - Hệ từ thượng hạ; - Tự quái; - Thuyết quái; - Tạp quái. Người Hán gọi đây là thập dực (10 cánh). Dực mang nghĩa phụ giúp. Mối quan hệ giữa KinhTruyện về mặt hình thức là mối liên hệ truyện giải thích kinh.

Đề nói rõ mệnh đề , trong thoán truyện ghi: “, , , - càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh, bảo hợp thái hòa, nãi lợi trinh = đạo trời do khí lớn của trời quyết định, mối loại sinh thành theo đúng bản tính của nó, duy trì và giữ vững sự hòa hợp, như vậy khiến vạn vật sinh thành theo đúng bản năng của nó).

Theo văn ngôn (文言 ) “, , , . , , , ., ”.

Theo Chu Tử (Chu Hy) . , 之通, 之遂, 之成 .

Theo cách giải thích của Chu Hy thì , , , . Ông ví như các loài cốc có thể nuôi sống người. Cây bắt đầu có mầm là , mầm nẩy thành mạ là , mạ phát triển thuận là , cây trưởng thành là.

, , , . ( )

còn được dẫn dụ trong đời sống của con người. Theo Chu Hy .., 便, ; ,. 便. ( )

Ngày nay, các nhà nghiên cứu Kinh Dịch cho rằng (, , , . , ) (đạo trời do khí lớn của trời quyết định, mỗi loài sinh thành theo đúng bản tính của nó, phải duy trì trật tự quy định trời cao đất thấp, dương tôn âm tỳ… khiến vạn vật sinh thành theo đúng bản năng của nó). Từ đây ta có thể nhận thấy mệnh đề luôn được khai thác ở các cấp độ khác nhau và các hướng khác nhau. Điều này làm cho việc nghiên cứu Kinh Dịch là vô cùng tận./.

(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.348-350)

Phạm Văn Thắm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm