49. Bài văn tế cụ Cử Lương Văn Can của Phan Bội Châu (TBHNH 2010)
BÀI VĂN TẾ CỤ CỬ LƯƠNG VĂN CAN CỦA PHAN BỘI CHÂU
CHƯƠNG THÂU
Viện Sử học
1. Tiểu dẫn:
Lương Văn Can (1854 - 1972) quê ở làng Nhị Khê huyện Thường tín, Hà Nội, là một chí sĩ yêu nước, sớm thi đậu Cử nhân Hán học năm 21 tuổi, nhưng không có chí làm quan, mà ở nhà dạy học - Năm 1907, cụ cùng một số sĩ phu yêu nước như Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Hữu Cầu, Lê Đại v.v... lập ra trường Đông kinh Nghĩa thục và cụ làm Thục trưởng, hoạt động từ tháng 3 đến tháng 11-1907 và đã khuấy động lên một phong trào cải cách văn hóa - xã hội rầm rộ trên một địa bàn rộng lớn của đất nước, phối hợp với phong trào Đông du của Phan Bội Châu và phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh ở miền Trung rất sôi nổi. Nhưng rồi thực dân pháp đã ra lệnh đóng cửa trường Đông kinh Nghĩa thục, theo dõi sát sao các hoạt động của các sĩ phu yêu nước. Chúng đã bắt giam tù đầy các chí sĩ yêu nước này. Cụ Lương Văn Can cũng bị đầy biệt xứ sang Nông Pênh - Cam Pu Chia. Đến năm 1921 mới được trả tự do. Trở về Hà Nội cụ lại tiếp tục mở trường dạy học và trước tác thơ văn yêu nước. Cụ mất ngày 12-6-1927. Được tin này, Phan Bội Châu đã viết bài văn tế bằng chữ Quốc ngữ pha chữ Nôm, chữ Hán đặc biệt này.
2. Nguyên văn:
Trời ơi! Trời ơi! Trời sinh ra cặp mắt cho Phan Bội Châu há có lẽ chỉ cáp cho một cái quyền khóc mà thôi ư? Kể trong 30 năm nay, khóc nhà rồi khóc nước, khóc đồng bào, khóc đồng chí, khóc đồng sự, khóc cùn hết bao nhiêu bút, khóc rách hết bao nhiêu giấy, mà cái kiếp khóc không bao giờ thôi!
Năm xưa, nhờ ơn Nhà nước bắt về vào ở Hỏa Lò, những chắc rằng kiếp khóc đến bây giờ là xong hẳn, mà nào ngờ đã có phúc hạnh thế đâu! Giọt nước mắt cha mẹ tôi di truyền cho tôi hãy còn một ngày, thời tiếng khóc tôi ngày càng náo nức.
Tháng hai năm Bính Dần, cụ Phan Tây Hồ, đã tạc cho tôi một gánh nợ khóc, bắt tôi phải khóc huỷ khóc hoài, khóc điên khóc đảo!
Than ôi! Góc nhà che mặt, mà đại chúng vẫn cười kha kha, trước mồ giẫm chân, mà nhà oan càng reo rắc rắc!
Khóc có ích gì đâu! Khóc tội khóc tình, ai bảo mày khóc thế?
Khái tam sao cụ Lương ôi! Nhẫn tình sao cụ Lương ôi!
Tình cảnh tôi bây giờ mà cụ còn biếu cho tôi một phần khóc nữa?...
Người xưa có câu: “nhân chi vân vong bang quốc điệu tuỵ” sao cụ không rốn ít nhiều năm nữa, hoạ may Phan Bội Châu chết trước, mà cái nợ khóc đó còn có kẻ gánh giùm cho.
Ô hô! Sinh bình vô bán diện chi thức, nhi hữu thiên thu chi giao. Tiếu đàm, vô nghĩa địch chi duyên, như hữu hải sơn chi khế. Nhu huyết hiếm hào, lâm phong huy thế, khởi vị tiên sinh lệ tai!
Ức Thành Thái Ất tỵ niên đông, tiên sinh ái tử: Lập Nham chữ Nghị Khanh, tiên hậu trung Châu ư Hoành Tân, Châu tri tiên sinh thực thỉ thị tuế!
Lãm điển hình ư bút trát huyết sái Đỗ Quyên. Thân mộng mỵ ư quan hà, hồn oanh Tinh Vệ. Vô kỷ hà. Đông Kinh Nghĩa thục lập, nhi tiên sinh chi viễn vận anh danh, hựu phong truyền ư hải duệ.
Đương thử chi thời dĩ vi tại ngoại hữu Châu bối tại nội hữu tiên sinh đẳng chư đồng bào, thống ẩm Long Thành khả đán tịch kế.
Bất bình giả sự hận kích cức chi hoành sinh Nan tranh dữ thiên. Khái phong vân chi bất thế.
Cự kim thập nị niên tiều văn tiên sinh đắc lưu Nam vang thành, nhi Chấn thị niên chính tại tù hệ.
Chân xuất ngọc hậu, hựu văn Lập Nhan huynh tựu nghĩa ư Thái nguyên, nhi Chân thị thời bôn tẩu Hỗ. Việt tế.
Sở phương giai tuý, ngâm Sở trạch chi tự thương Tần cánh vô nhân, khấp tần đình nhi hạt tế.
Nhiêu thả. Tình thành cảm xúc, trượng súc địa dĩ thành linh. Thanh khí tượng cầu, hoặc văn thiên nhi công lệ.
Khải Định Giáp Tý hạ, tiên sinh dĩ tiểu chiếu tặng Châu thả đính tâm thệ.
Ba ba dinh thủ, tri phát đoản nhi tâm tường
Quýnh quýnh song đồng, thất phong mai dữ vân ế. Ngận duy nhất lão. Đẩu Nam thượng hữu tư nhân. Quyển thổ trùng lai. Giang Đông ninh tâm tử đệ.
Nhi kiến dĩ hĩ. Thử sự thử tâm, vị chi hà tại, hồ thiên hồ đế!
Nay viết: Nhị Hà phỉ thâm, Nồng sơn phỉ cao sơn khả, bạt hề, ngô chí bất khả dao, Thủy khả trọc hề, ngô tâm bất khả hào.
Thương mang tứ cố hề, đồ sư dư phủ, ưng nhi trường hào.
Y lai dã, kỳ hữu tác hề, vạn cổ vân tiêu nhớt vũ mao!
3. Dịch nghĩa:
Ô hô! Đời người chưa một lần gặp mặt, nhưng lại có nghìn thuở giao tình. Nói cười tuy khôn có duyên chiếu nghiên, sống lại có tình bạn dài lâu núi biển. Dầm máu ép ngòi, lệ trào trước gió. Nghĩa khí này do tiên sinh khích lệ.
Nhớ mùa đồng năm Ất Tỵ Thành Thái, hai câu con yêu của tiên sinh: Lập nham và Nghị Khanh trước sau theo Châu ở Hoành Tân Châu biết được tiên sinh kể từ năm đó!
Biết điều hình qua trang giấy bút, máu nhỏ Đỗ Quyên.
Thân mộng mỵ ở chốn quan hà, hồn quanh Tinh Vệ, chẳng bao lâu trường Đông Kinh Nghĩa Thục thành lập, tên tuổi của tiên sinh vang dậy xa gần, truyền đến tai cháu con nơi hải ngoại.
Lúc bấy giờ, bên ngoài thì có bọn Châu, bên trong thì có các tiên sinh và đồng bào, chuốc chén mừng ở Long Thành chỉ còn sớm tối.
Việc bất bình xẩy đến, hận là gai góc tự sinh, khó mà tranh với trời, bực một nỗi thế thời không thể khác!
Cách đây mười hai năm trước, nghe tin tiên sinh bị giữ ở thành Nam Vang, còn Châu tôi, năm đó vẫn ở trong nhà tù.
Sau khi Châu xuất ngục, lại nghe tin Lập Nhan huynh tựu nghĩa ở Thái Nguyên, bấy giờ Chân tối đang bôn tẩu ở khoảng Thượng Hải - Quảng Đông.
Trời Sở đều say, ngâm ở đầm Sở mà tự thương! Xứ Tần chẳng có một ai, khóc ở sân Tần không nên gì cả! Song, tinh thành cảm xúc, gậy rút đất để nên thiêng thanh khí tương cầu, hác trời nghe cùng cất tiếng.
Mùa hạ năm Giáp Tý Khải Định, tiên sinh tặng tôi một tấm hình nhỏ, tâm thệ có kèm lời.
Vuốt nhẹ đầy tay, biết tóc ngắn nhưng tình dài
Ánh bừng đôi mắt, thấy mà bay và mây vén.
Chỉ một danh lão, đây là ngôi sao Phương Nam còn lại. Cuốn đất lại sang, đã có Giang Đông tử đệ sẵn lòng.
Ngày nay đã khác, việc ấy lòng này còn biết nói sao hỡi trời, hỡi chúa!?
Than ôi! Nhị Hà chẳng sâu! Nùng Sơn chẳng cao!
Núi có thể sạt, chí ta chẳng đổi nào!
Sông có thể đục, tim ta không đổi màu!
Nhìn đất trời mênh mang. Ta chỉ biết vỗ ngực kêu dài!
Ôi! Cái đến cũng có giá trừ.
Muôn thuở một vũ mạo trên trời cao!
(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.351-355)