VI | EN
52. Nhầm lẫn không đáng có
tb2006

NHẦM LẪN KHÔNG ĐÁNG CÓ

ĐINH VĂN MINH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

đình xã Thọ Lão huyện An Lạc phủ Tam Đới (nay là xã Thọ Lão huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc) có tấm bia đá ghi công đức, hai mặt trước và sau đều có chữ Hán. Mặt trước, trán bia có dòng chữ lớn Cung(1) phụng công đức chi bi 供奉功德之碑; mặt sau cũng ở vị trí trán bia có dòng chữ lớn Thượng đẳng thần bi điền 上等神碑田Thác bản văn bia của tấm bia này hiện đang được bảo quản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu N06478-79(2). Văn bia được tuyển chọn, lược thuật và in trong sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam(3), tr.42, số thứ tự 32.

Đoạn văn lược thuật về bia (dưới đây gọi tắt là lược thuật) ngắn gọn, đầy đủ các yếu tố, đem đến cho người đọc những thông tin cần thiết, gồm hai phần. Phần miêu tả hình thức, chúng tôi lưu ý đến hai yếu tố chính là người soạn văn bia và năm dựng (tạo) bia. Phần này, lược thuật cho biết “Phạm Công Trứ 范公著 Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1763) soạn”, “Tạo năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763) nhà Lê”. Phần lược thuật nội dung, lược thuật ghi “Trí Xuyên hầu Lê Hữu Lộc là dòng dõi của vị khai quốc công thần Lê Văn Linh. Ông đã cúng số ruộng của tổ nghiệp ở Bờ Đá trước miếu để dân xã Thọ Lão làm nơi thờ các vị thần ở bản xã là Diên Hỗ đại vương và Lã Thị Thái vương. Bia ghi lại việc này và tên họ một số hội chủ cùng ông đóng góp cho dân xã.

Thực tình khi tiếp nhận những thông tin này, chúng tôi ngỡ ngàng, vì ở đây có nhiều điều phải bàn, phải đính chính.

Thứ nhất, về người soạn văn bia

Người soạn văn bia Cung phụng công đức chi bi là Phạm Công Trứ. Theo các tài liệu đăng khoa lục, như Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (ký hiệu VHv.6501/1-2), Đăng khoa lục sưu giảng (ký hiệu A.224), Đăng khoa lục hợp biên (ký hiệu A.2752/1-2) và các tài liệu về nhân vật chí, như Hải Dương phong vật chí (ký hiệu A.882), Lịch triều hiến chương loại chí - Nhân vật chí (ký hiệu A.1551/1-8). Thừa tướng Phạm công niên phả (ký hiệu A.1368) đều ghi Phạm Công Trứ trong danh sách 14 người đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa thi năm Mậu Thìn, năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Tộ, tức năm 1628; người đỗ đầu khoa thi này là Giang Văn Minh, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh. Bia ghi tên Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội: Vĩnh Tộ thập niên Mậu Thìn khoa Tiến sĩ đề danh bi (thác bản văn bia số N0 01303) cũng ghi tên Phạm Công Trứ trong danh sách Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (4) chép về khoa thi này như sau: “Mậu Thìn, Vĩnh Tộ, năm thứ 10/tháng 2 thi hội các sĩ nhân trong nước, lấy bọn Giang Văn Minh 18 người / Mùa hạ tháng 4 thi đình. Vua thân ra đầu đề văn sách, hỏi việc thiên hạ và chính sách của triều đình, cho Giang Văn Minh đỗ Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, bọn Dương Cảo 3 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọ Đăng Phi Hiển 14 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân”.

Các tài liệu bằng tiếng Việt khác đã in hoặc đã xuất bản, như Thư mục Hán Nôm - Mục lục tác gia(5), Các nhà khoa bảng Việt Nam(6), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam(7) đều ghi Phạm Công Trứ đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn, năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Tộ và chua rõ năm 1628.

Trong lịch sử khoa cử Việt Nam, có những 5 khoa thi Tiến sĩ mở vào năm Mậu Thìn, trong đó có 4 khoa thời Lê, 1 khoa thời Nguyễn. Loại trừ khoa Mậu Thìn năm thứ 21 niên hiệu Tự Đức (1868) và khoa Mậu Thìn năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Tộ (1628), 3 khoa thi còn lại ở triều Lê là Mậu Thìn năm thứ 6 niên hiệu Thái Hòa (1448), Mậu Thìn năm thứ 4 niên hiệu Đoan Khánh (1508) và Mậu Thìn năm thứ 9 niên hiệu Cảnh Hưng (1748), liệu còn ai tên là Phạm Công Trứ đỗ Tiến sĩ ở một trong 3 khoa thi này nữa không. Trong danh sách gần 3000 vị Tiến sĩ của khoa cử Việt Nam, chỉ có một người tên là Phạm Công Trứ, người làng Liêu Xuyên huyện Đường Hào.

Vậy là, người soạn văn bia đình Thọ Lão nói trên đây là Phạm Công Trứ, Tiến sĩ khoa Mậu Thìn năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Tộ (1628), chứ không phải một Phạm Công Trứ khác đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1763) như lược thuật đã thông tin. Giả sử có một người nữa tên là Phạm Công Trứ thì năm 1763 là năm Mậu Thìn thi khoa thi đó chẳng có ai là Phạm Công Trứ để mà nhầm.

Thứ hai, về năm dựng bia

Thông thường, ở cuối bài văn bài văn bia có phần lạc khoản. Phần này rất quan trọng, cho biết tên tự, tên hiệu người soạn văn bia cùng với học vị, chức tước của người đó. Kế tiếp là niên đại, tức ngày, tháng, năm (can chi), niên hiệu, triều đại. Niên đại ở đây là niên đại soạn văn bia, do chính tay người soạn viết ra. Niên đại này được coi là niên đại (tạo, dựng) bia, cho dù quá trình tạo, dựng còn phải tiếp tục, như viết chữ, khắc chữ lên bia. Niên đại bia (văn bia) phản ánh thời đại, bối cảnh lịch sử mà người soạn văn bia đang sống, trong đó có sự kiện lịch sử, đặc điểm ngôn từ, phong cách văn tự, mẫu thức hoa văn hoạ tiết. Cho nên, niên đại bia không thể là thời gian trước khi người soạn chào đời, cũng không thể là thời gian sau khi tác giả đã mất. Nếu niên đại bia là thời gian trước hoặc sau như thế, thì quả là một chuyện nực cười, chẳng khác gì “sinh cha rồi mới đẻ ông”, “ông cụ chết bảy mười đời mà vẫn viết văn”.

Sáng tác của Phạm Công Trứ không nhiều. Ông có 17 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục, 10 bài thơ vịnh cảnh Văn miếu Quốc tử giám có nhan đề là Phán Thủy thập vịnh được khắc vào bia đá dựng ở Văn hồ, để các quan mỗi khi đi thuyền ra chơi Văn hồ ngâm vịnh. Ông soạn ngót chục văn bia cho các địa phương Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương. Đương thời và các triều đại sau, người ta biết đến Phạm Công Trứ không phải vì sự nghiệp văn thơ của ông. Người ta biết đến ông vì ông là nhà chính trị xuất sắc, nhà sử học tên tuổi của thế kỷ XVII. Tư liệu về ông khá phong phú. Có tài liệu nói ông sinh năm 1599, nhưng gia phả họ Phạm ở Liêu Xuyên và “Thừa tướng Phạm công niên phả” đều chép rõ, ông sinh giờ Dần, ngày Canh Thân năm Canh Thìn, năm đầu niên hiệu Thận Đức, tức năm 1600, và mất vào năm Ất Mão (1675) thọ 76 tuổi. Sự kiện Phạm Công Trứ mất, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau: Năm Ất Mão/ Đức Nguyên/ năm thứ 2 / 1675/ mùa đông, tháng 10, Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ quốc lão tham dự triều chính Chưởng lục bộ sự, Thái bảo Yên quận công Phạm Công Trứ chết... (Công Trứ người làng Liêu Xuyên huyện Đường Hào)”(8).

Các tài liệu đều thống nhất, chép năm mất của Phạm Công Trứ là năm 1675. Đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Cho nên, lược thuật nói Cung phụng công đức chi bi “tạo năm Cảnh Hưng 24 (1762)” là điều không thể tưởng tượng được. Nếu Phạm Công Trứ sống đến năm 1763 soạn giúp xã Thọ Lão văn bia rồi chết, thì nhà sử học nổi tiếng này có tuổi thọ kỷ lục, 173 tuổi.

Nói gì thì nói, cuối cùng chúng tôi vẫn phải tiếp cận văn bản văn bia. Rất may, thác bản văn bia kí hiệu N06478-79 chữ rất rõ nét. Thác bản này mới đây được chụp ảnh bằng máy kĩ thuật số, in ở trang 476 và 477, tập 7, sách Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm (CORPUS DES INSCRIPTIONS ANCIENNÉ DU VIETNAM - CORS OF ANCIENT VIETNAMESE INSRIPTIONS) (9).

Tại đây, chúng tôi trực tiếp đọc văn bia. Trước tiên chúng tôi chú ý đến dòng lạc khoản cuối văn bia:

重刊

(Hoàng triều Cảnh Hưng nhị thập tứ niên tuế thứ Quý Mùi hạ quý cốc nhật trùng san). Hai chữ “trùng san” trong dòng lạc khoản đã phủ nhận thông tin lược thuật nói rằng bia “Cung phụng công đức chi bi” tạo năm Cảnh Hưng thứ 24 nhà Lê (1763). Điều đơn giản, dễ hiểu, năm Cảnh Hưng thứ 24 nhà Lê (1763) là năm khắc lại bia chứ không phải là năm tạo bia.

Hơn thế nữa, ở dòng thứ 4, trong phần dẫn nhập đầu văn bia, chúng tôi cũng thấy có hai chữ “trùng san” này:

(Hoàng triều Thần Tông Uyên Hoàng đế Khánh Đức nhị niên tuế thứ Canh Dần nhật nguyệt, công thần Lê quý hầu cung tiến bi điền dĩ vi phụng tự, gian dĩ lập bi từ sở. Đệ, lũy triều gia phong mỹ tự, dũ tục dữ trường, nhưng thử trùng san mỹ tự dĩ thị quan quang. Kỳ bi văn tịnh y cựu thức). Đoạn văn bia có tính chất dẫn nhập này giải thích rõ về tấm bia khắc lại (trùng san) này, như sau: Vào năm thứ 2 niên hiệu Khánh Đức đời Thần Tông Uyên Hoàng đế triều Lê (1650), vị công thần Lê quỹ hầu cung tiến ao và ruộng để dùng vào việc thờ tự. Sau đó đã dựng bia ở nơi thờ. Nhưng, trải qua các triều, gia phong mĩ tự càng nối tiếp nhau càng dài, [nay] vẫn theo như vậy, khắc lại các mỹ tự để [mọi người] chiêm ngưỡng. Còn văn bia thì đều theo cách thức cũ.

Như vậy là đã quá rõ, tiền thân của tấm bia đang nói ở đây là một tấm bia được dựng vào năm 1650 hoặc cách đó không lâu sau khi Lê quý hầu cung tiến ao và ruộng. Hơn 100 năm sau, mỹ tự mà Lê quý hầu được phong tặng dài thêm rất nhiều. Việc khắc lại bia chỉ xuất phát từ nhu cầu muốn có đầy đủ các mỹ tự mới được phong tặng trong hơn 100 năm đó.

Các quan viên chức sắc trong xã làm việc này muốn thể hiện lòng kính trọng Lê quý hầu, người đã có công đức với dân xã. Mục đích khắc lại bia ghi vào văn bia rất rõ ràng. Hai chữ “trùng san” (khắc lại) hiện diện rành rành, lặp đi lặp lại hai lần ở những vị trí then chốt của văn bia, nhưng lược thuật đã “bỏ qua”.

Thứ ba, về chữ nghĩa

Đọc kỹ văn bia, chúng tôi hiểu được rằng đình xã Thọ Lão thờ 4 vị đại vương chứ không phải chỉ 2 vị như lược thuật thông tin cho người đọc. Việc thờ các vị thần thì đã có nơi có chốn, tức là đã có đình, và đương nhiên đình tọa lạc trên thửa đất được chọn kỹ về phong thủy, chứ không phải đất chỗ nào cũng cắm được đình. Lược thuật thông tin cho người đọc: “Ông (chỉ Lê quý hầu) đã cúng số ruộng của tổ nghiệp ở Bờ Đá trước miếu để dân xã Thọ Lão làm nơi thờ các vị thần...”. Thực ra không phải như thế. Lê quý hầu cung tiến ao và ruộng cho dân xã, để dân xã dùng vào việc thờ cúng. Có nghĩa là, ao thì thả cá, ruộng thì cấy lúa, lấy hoa lợi chi dùng cho việc thờ cúng thần ở đình xã.

Hai chữ “bi điền” (陂田) trong văn bia có nghĩa “ao và ruộng” chứ không phải là “ruộng Bờ Đá”. Theo Từ nguyên, chữ “bi” ngoài các nghĩa “bờ ngăn nước” “ngăn lấp” “dốc núi”, “bên cạnh”, còn có nghĩa như “trì đường 池塘 ”, là ao chuôm. Ngay trong văn bia, ở cuối dòng thứ 12 và đầu dòng 13, có mấy chữ “bi nhất khẩu điền nhất sở 陂一口田一所 ” (một cái ao và một thửa ruộng) chứng minh chữ “bi” ở đây nghĩa là cái ao.

Cuối cùng, lược thuật thông tin cho người đọc “Bia ghi lại sự việc này và tên họ một số hội chủ đã cùng ông đóng góp cho dân xã”. Lại một lần nữa, thông tin không chính xác. Chúng tôi thấy, đoạn cuối văn bia liệt kê danh sách gồm 64 tên người. Những người này chẳng phải là hội chủ của hội nào, mà cũng chẳng có công đóng góp gì cho dân xã cả, tự nhiên lược thuật tôn vinh họ, ghi công cho họ. Thực ra, họ là quan viên, văn võ tướng thần, xã hương trưởng thay mặt dân xã đứng ra nhận ao và ruộng do Lê quý hầu cung tiến.

Thay lời kết

Chúng tôi cho rằng nhầm lẫn vừa nêu là những nhầm lẫn không đáng có trong lược thuật văn bia, bởi quá đơn giản, chỉ cần tiếp cận văn bản với tinh thần thực sự cầu thị thì ai cũng làm được. Nguyên nhân nào dẫn đến những nhầm lẫn này, chúng tôi không lạm bàn.

Để tránh hậu quả “dĩ ngoa truyền ngoa”, thiết tưởng cần phải đính chính lược thuật văn bia Cung phụng công đức chi bi.

Chú thích:

(1) Lược thuật chép nhầm thành chữ “cộng” ().

(2) Kí hiệu đã ghi nhầm thứ tự hai mặt trước sau của tấm bia.

(3) Nguyễn Quang Hồng (chủ biên), Nxb. KHXH, H. 1992. Công trình được Toyota Foudation (Nhật Bản) tài trợ.

(4) Sách đã dẫn, tập III, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.332.

(5) Ban Hán Nôm, H. 1977.

(6) Ngô Đức Thọ (chủ biên) Nxb. Văn học, H. 1993.

(7) Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế (chủ biên), Nxb. KHXH, H. 1991.

(8) Sách đã dẫn, tập III, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.298.

(9) Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Viễn đông Bác cổ, Viện Cao học Thực hành phát hành, H. 2005./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.502-508)

Đinh Văn Minh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm