53. Một bài vè độc đáo trong tuồng Quần phương tập khánh (TBHNH 2012)
53. Một bài vè độc đáo trong tuồng Quần phương tập khánh (TBHNH 2012)
MỘT BÀI VÈ ĐỘC ĐÁO TRONG
TUỒNG “QUẦN PHƯƠNG TẬP KHÁNH”
NGUYỄN TÔ LAN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Tuồng là một trong những bộ môn nghệ thuật truyền thống tiêu biểu và đặc sắc của Việt Nam. Được coi là có mầm mống từ rất sớm trong lịch sử dựa trên nghệ thuật diễn xướng truyền thống dân tộc đồng thời hấp thu các yếu tố ngoại lai rõ rệt vào thế kỷ XVIII, tuồng từng bước được hoàn thiện, phát triển vào triều Nguyễn và diên trường sinh mệnh của nó cho tới ngày nay. Với tư cách là một loại hình sân khấu, tuồng được cấu thành bởi hai yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau là kịch bản và nghệ thuật biểu diễn. Trong khi nghệ thuật biểu diễn là đối tượng nghiên cứu của môn nghệ thuật học (âm nhạc, vũ đạo, trình thức v.v…) thì kịch bản với tư cách là một văn bản văn học lại là đối tượng của ngành văn học.
Khác với vai trò tương đối mờ nhạt trong văn học các triều đại trước đó, kịch bản tuồng dưới thời Nguyễn có một sinh mệnh khá mới mẻ. Được nuôi dưỡng từ thời các chúa Nguyễn, đến khi nhà Nguyễn thành lập (1802) và đặc biệt phát triển vào giai đoạn triều các vua Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847) Tự Đức (1848 - 1883) tuồng được coi là loại hình sân khấu thời thượng thu hút được lực lượng sáng tác gồm nhiều vương hầu, quý tộc, quan lại và trí thức xuất sắc đương thời. Lần đầu tiên trong lịch sử, văn bản tuồng được tập hợp, chỉnh lý và nhuận sắc dưới sự chỉ đạo của Hoàng đế. Hệ thống kịch bản tuồng cung đình được hình thành trên cơ sở những kịch bản tuồng dân gian đã qua nhuận sắc và các tác phẩm biên soạn theo yêu cầu của Hoàng đế. Những sáng tác theo “đơn đặt hàng” này thường được thực hiện bởi đội ngũ tác gia có trình độ, không những có giá trị cao về văn học và thẩm mỹ mà còn thể hiện đậm nét tính chất quan phương của triều đình. Được nhắc đến nhiều nhất trong mảng kịch bản tuồng này là bộ ba tuồng trường thiên Vạn bửu trình tường 萬寶呈祥, Quần phương tập khánh 群芳集慶, Học lâm 學林. Ngoài Học lâm hiện chưa tìm thấy văn bản, Vạn bửu trình tường và Quần phương tập khánh vẫn còn nhưng trong tình trạng tàn khuyết ở các mức độ khác nhau.
Chúng tôi sưu tập được năm hồi liên tiếp (từ hồi 1 tới hồi 5) của tuồng Quần phương tập khánh từ hai nguồn khác nhau là Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế (hồi 1) và Thư viện Viện Nghiên cứu Sân khấu (hồi 1 đến 5). Giữa hai bản có ít nhiều xuất nhập nhưng có thể nói là “đại đồng tiểu dị”. Có lẽ con số 5 hồi còn lại so với nhiều chục hồi của vở tuồng (con số được đưa ra trong nhiều tài liệu nghiên cứu) có vẻ là không tương xứng nhưng qua nghiên cứu 5 hồi này một mặt chúng tôi nhận thấy có thể hình dung đại thể về nội dung cốt truyện, phương thức triển khai, phong cách văn học của vở tuồng, nhất là về văn thể, chỉ trong 5 hồi hầu như các văn thể cơ bản từng xuất hiện trong các vở tuồng truyền thống từ trước tới nay cơ hồ đã đều trình hiện. Về cơ bản, văn thể của tuồng Quần phương tập khánh được xây dựng trên một khung gồm những câu song quan, trên khung đó, các văn thể khác được dẫn dụng gồm có văn thể xuất phát từ Hán văn (văn vần và văn xuôi), văn thể xuất phát từ Việt văn (lục bát, song thất lục bát và những mô thức gần với dân ca v.v...) và đặc biệt một văn thể chỉ tuồng mới có, mà chúng tôi tạm gọi là thể Nam, tất cả các yếu tố này tổ hợp thành văn thể tuồng có những đặc điểm riêng và yêu cầu khá chặt chẽ về mặt thể loại của nó. Bên cạnh đó, điều làm nên sức cuốn hút của tuồng Quần phương tập khánh là thứ ngôn ngữ văn chương sinh động, giàu màu sắc và mang đặc tính phương ngữ Huế rõ nét, thể hiện khuynh hướng kết hợp giữa văn chương bác học và văn học bình dân. Một thể loại rất hiếm gặp trong văn chương tuồng thể hiện rất rõ điều này đó là thể loại vè.
Ở hồi 4, tr. 25b, 26a, khi Lôi Bội, một viên tướng trấn giữ thành Bách Hợp, trong lời xưng danh của mình đã viện dẫn tới thể loại này.
Nguyên văn đoạn xưng danh đó như sau:
Lôi Bội nói:
Trấn nhất phương chức ngõ,
Thành Bách Hợp cõi xa.
Như tôi, lại cho nhân tài nội Hán Đường Trấn Tống, ai ai dám bì. Hào kiệt thẩy nhường ta,
Anh hùng đều thua mỗ.
Á quân chẳng tin, tao kể cho bay nghe:
Đi chơi khắp chỗ, là ngươi Chu Du,
Làm bánh quạt hồ, là ngươi Chu [26a] Bột,
Làm quan ăn đút, là ngươi Tào Tham,
Chẳng biết việc làm, là ngươi Bất Thức,
Làm chi không được, là ngươi Bất Vi,
Trục tiếng làm đi, là ngươi Như Hối,
Lâm râm tin vái, là ngươi Huyền Linh,
Nói đại bất kình, là ngươi Lý Trách,
Một khiên nặng trịch, là ngươi Vọng Chi,
Túng nước khó đi, là ngươi Lý Bí,
Thày tu làm đĩ, là ngươi Phạm Tăng,
Thối miệng sún răng, là ngươi Ung Xỉ,
Trật vò đổ bể, là ngươi Hoắc Quang,
Mắng chó đuổi mang, là ngươi Triệu Quát,
Cưỡi voi nằm bẹp, là ngươi Sầm Bành,
Đông kẻ phụ huynh, là ngươi Anh Bố,
Nợ đòi không có, là chú Uất Trì,
Giã gạo đâm trà, là ngươi Tần Cối,
Biết chi mà nói, là ngươi Vô Tri,
Ăn ở ngoan ngùy, là ngươi Đổng Trác,
Không làng không mạc, là ngươi Lưu Linh,
Tách ra một mình, là ngươi Nhiếp Nhất,
Trèo lên nằng nặc là ngươi Trương Thang,
Đánh mõ la làng, là ngươi Đào Cốc,
Bạt thuyền suy dục, là ngươi Tùy Hà,
Thuốc tễ điều hoà là ngươi Lý Mật,
Hay làm bánh ngọt là ngươi Phùng Đường,
Thày bói dò đường là ngươi Bốc Thức,
Kể quàng kể cáo,
Kể chẳng đặng hung,
So tài rất lung tung,
Vốn mỗ xưng Lôi Bội.
Bài vè vốn là một lời “tự ngạo” về tài năng bản thân của một viên võ tướng trấn ải xa. Qua lời tự bạch thế này, hình ảnh viên võ tướng hiện lên không với vẻ uy tráng mà với một thần thái dí dỏm, gần gụi với dân gian. Bởi thủ pháp được sử dụng chính ở bài vè này là “triết tự dân gian”, tức là “đọc Nôm” những tên chữ Hán của các nhân vật lịch sử, Việt có, Hán có.
Thử làm một bảng so sánh thì thấy tổng cộng có 28 nhân vật được nhắc tới bao gồm 27 nhân vật trong lịch sử Trung Quốc và 1 nhân vật lịch sử Việt Nam là Lý Bí. Căn cứ vào nội dung bài vè có thể thấy việc sử dụng hay lựa chọn nhân vật phần nhiều không dựa vào lai lịch xuất xứ hay chính tích của các nhân vật mà chủ yếu vào khả năng đọc nghĩa Nôm của những chữ Hán tên các nhân vật đó và cũng vì vậy, việc khai thác ý nghĩa của tên nhân vật cũng ở nhiều mức độ khác nhau như:
-Vận dụng ý nghĩa của toàn bộ tên nhân vật và chuyển dịch sang nghĩa Nôm một cách nhuần nhụy như Chu Du (đi chơi khắp chỗ), Ung Xỉ (thối miệng sút răng), Anh Bố (đông kẻ phụ huynh), Huyền Linh (lâm râm tin vái). Tuy nhiên số lượng này không nhiều do không phải chữ Hán nào đặt cạnh nhau trong nhân danh lại có thể đọc Nôm một cách có ý nghĩa.
-Vận dụng một bộ phận của tên nhân vật, như đọc Nôm tên nhân vật: Chu Bột (dùng bột để làm bánh, để quấy hồ), Tào Tham (tham lam, ăn của đút), Lý Bí (bí nước đi), Triệu Quát (quát mắng), Tần Cối (cối để giã gạo đâm trà), Trương Thang (thang để trèo lên), Phùng Đường (đường ngọt làm bánh), hoặc đọc Nôm họ của nhân vật: Bốc Thức (bốc có nghĩa là xem bói, người xem bói, kẻ xem bói thường khiếm thị bởi vậy mới phải dò đường). Nhưng có thể thấy tỉ lệ đọc Nôm họ không nhiều. Điều này có lẽ phụ thuộc vào tính chất giới hạn và khó liên tưởng về mặt ý nghĩa của họ, khác với tên của nhân vật.
-Chỉ đưa ra một bộ phận của tên nhân vật hữu dụng để đọc Nôm như Bất Vi (nguyên tên là Lã/Lữ Bất Vi), Uất Trì (không rõ là muốn nói tới nhân vật nào của dòng họ này, nổi tiếng nhất có Uất Trì Cung, Uất Trì Kính Đức v.v…)
Lược qua đoạn xưng danh của nhân vật Lôi Bội có thể thấy việc đọc Nôm tên các nhân vật lịch sử ít nhiều có tính trào lộng, bởi những “đức tính” được nêu ra ở đây không phục vụ một mục đích ca ngợi hay tôn xưng phẩm chất của người xưng danh mà khá lộn xộn, phần nhiều là những tính cách tiêu cực. Khó có thể thành thật mà tin rằng một người lại tự “tố” bản thân như vậy. Thủ pháp này được sử dụng phần nhiều để gây tiếng cười trong trường đoạn này, vì chính nhân vật cũng tự tổng kết là “kể quàng, kể xiên”. Có thể thấy, bài vè này là một minh chứng sống động nữa cho nhận định của Bùi Minh Đức trong Từ điển tiếng Huế rằng: người Huế có “cách dùng điển tích ngay trong câu chuyện hàng ngày của họ...; dùng các chữ Hán thông thường ngay trong lời ăn tiếng nói hằng ngày”. Tiếp cận từ một phương diện khác thì thấy người Huế rất sính chữ, thích nói chữ và có lẽ chính vì vậy, khả năng liên tưởng của họ cũng được vận dụng cao độ để biến những thứ vốn nằm trong sách vở trở nên sống động trong ngôn ngữ dân gian thường nhật. Có lẽ đây cũng là một yếu tố khiến cho tuồng có một sức sống mãnh liệt xuyên thời đại ở nơi đây. Khi mà những rạp hát xưa cũ đã vang bóng một thời thì những câu văn tuồng vẫn còn mãi trong lời ăn tiếng nói của dân gian bởi ở thời đại của nó có lẽ lời ăn tiếng nói dân gian đã đi vào tuồng một cách tự nhiên và bình dị nhất. Và Quần phương tập khánh là một trường hợp như vậy chăng?.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.859-873)