VI | EN
53 . Một bản văn chầu Thổ công Táo quân bằng chữ Nôm mới tìm thấy ở Bắc Ninh. (TBHNH 1998)
TBHNH 1998

MỘT BẢN VĂN CHẦU THỔ CÔNG TÁO QUÂN

BẰNG CHỮ NÔM MỚI TÌM THẤY Ở BẮC NINH

NGUYỄN THỊ TRANG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tục thờ Thổ công Táo quân ở nước ta có tự lâu đời. Ở nông thôn Việt Nam, dường như ở mọi nhà đều có lập ban thờ thờ cúng Thần linh, Thổ công, Táo quân, những mong thần linh che chở để có cuộc sống bình yên. Hình thức lập đàn tế lễ cũng rất đa dạng, có nơi xây am dựng miếu thờ Thổ công, có nơi đặt ban thờ lộ thiên tuần tiết hương khói. Về văn tế thần cũng rất phong phú, phần lớn soạn bằng Hán văn, viết theo lối biền ngẫu, thi thoảng cũng có một số bài văn nôm. Hiện trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn giữ được hàng chục bản văn tế Thổ công Táo công, song hầu hết cũng chỉ là văn tế bằng Hán Văn, các bài văn tế bằng chữ Nôm cũng chỉ là đếm trên đầu ngón tay mà thôi.

Gần đây trong một chuyến đi thực địa ở vùng quê Bắc Ninh, chúng tôi tìm thấy một bản văn chầu Thổ công Táo quân ở xã Bồ Sơn huyện Quế Giàng nay thuộc phường Bồ Sơn thị xã Bắc Ninh. Nguyên bản viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát. Tất cả gồm 95 câu.Thực ra chỉ có 94 câu, còn câu cuối cùng là lời nhắc nhở mọi người tun hô vạn tuế bằng Hán văn. Sách không ghi tên tác giả và niên đại biên soạn, niên đại sao chép, song căn cứ vào ngôn từ và thể thơ lục bát, chúng tôi đoán định rằng bản văn chầu này ra đời từ rất sớm, có thể là vào thế kỷ 18. Bởi lẽ:

Trong văn bản còn lưu giữ được một số từ cổ mà ngày nay ít dùng. Ví dụ:

- Từ “ngõ ngang” có nghĩa là “tài giỏi”:

Thỉnh thày trai cúng ngõ ngang

Triện hương quả thực cúng dàng Thổ công

(Câu 16)

- Từ “đề đa” có nghĩa là dồi dào, phong phú:

Tín chủ buôn bán gần xa

Thổ công vâng hộ đề đa bạc vàng

(Câu 38)

- Từ “dà dà” có nghĩa là tốt lành:

Sinh con quế từ lan tôn

Tì xưng tì xí phượng loan dà dà

(Cầu 86)

Hai là lối thơ lục bát còn chưa được nhuần nhuyễn, có câu lạc vận:

Lại mời Thổ công tây phương

Thiện là Trương Tử ngày rày lai lâm.

(Câu 26)

Thậm chí có câu còn sai cả vần điệu:

Lại thỉnh Thổ công nam phương

Ân cần báo ứng lưu tại bản đàn.

(Câu 24)

Về thể thơ lục bát tuy nhiều chỗ còn trúc trắc, lạc vần nhưng vẫn có thể coi đây là văn bản Nôm góp phần cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu quá trình phát triển của chữ Nôm và tiếng Việt, đồng thời có thể giúp các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thêm tư liệu nghiên cứu về tập tục thờ Thổ công Táo quân, một tập tục từ lâu vốn đã rất quen thuộc đối với mỗi gia đình người Việt. Do vậy chúng tôi xin phiên âm, giới thiệu toàn văn bản văn chầu này để bạn đọc tham khảo:

Lập đàn sám tạ Thổ công

Này lời bảo kết gia trung yên lành

Trời đất sinh khắc ngũ hành

Hồng mông thuỷ phán mới sinh tam tài.

5. Vốn xưa Tí hội khai thiên

Địa tịch ư Sửu nhân sinh ư Dần

Đặt ra Thổ công Táo quân

Cho nên bảo trị vạn dân cửa nhà

Diệt trừ chúng quỉ tà ma

10. Phù hộ chủ nhà sức khoẻ bình an

Tạo tác gia ốc (mỗi) niên

Tín chủ bái tạ hương diện thuở này

Người giầu kẻ khó bằng nay

Tín chủ cầu khẩn ngày rày lễ nương

15. Thỉnh thầy khoa cúng ngõ ngang

Triện hương quả thực cúng dàng Thổ công

Táo quân nghe thấy đùng đùng

Thổ công giáng hạ đến chưng đàn này

Tín chủ lòng đã tin thay

20. Trong nhà cầu khấn khi nay cúng dàng.

Cảm khất Thổ công Đông phương

Hiệu là Tiên Luyện giáng chưng bản đàn

Lại thỉnh Thổ công Nam phương

(tên là Thái tử Lương)

Ân cần báo ứng lưu tại bản đàn.

25. Lại mời Thổ công Tây phương

Hiện là Trương Tử ngày rày lai lâm

Bản đàn hương khói âm thầm

Bắc phương chi kính đại đầy trung ương

Lại mời ngũ phương các vì

30. Vạn phúc tiền hậu vậy thì phu nhân

Lại thỉnh Thổ công Táo quân

Đều thời giáng hạ hương đăng ngày rày.

Tín chủ (mỗ) bằng nay

Lòng tin khấn vái ăn chay phát nguyền

35. Khất cầu mọi vật đều thành

Đi ra buôn bán của nên đầy nhà

Tín chủ buôn bán gần xa

Thổ công vâng hộ đề đa bạc vàng

Mục kê ngưu khuyển lợn dương

40. Thổ công vâng hộ của nên đầy đàn

Từ rày tín chủ bình an

Đắc thú thanh nhàn thủ phận vui chơi

Sinh con loan phượng gái trai

Vì chưng kính lễ sớm mai thìn lòng

45. Hương đăng phụng sự thổ công

Khử trừ chúng quỉ tà hung mọi loài

Đừng cho xâm phạm vãng lai

Cửa nhà vườn tược trong ngoài tứ vi

Chớ cho nó đến làm gì

50. Thổ công Thổ chủ ở thì cho thiêng

Phù hộ tín chủ cho yên

Trong nhà sức khỏe nay càng bình yên

Cửa nhà hoặc có cầu quan

Tự nhiên liền được sắc vàng vua phong

55. Sĩ thời chiếm được bảng rồng

Đăng khoa cập đệ nên công học hành

Võ thời thượng tướng lãnh binh.

Ân vua tước lộc hiển vinh sang giầu

Nông thì làm ruộng bằng nay

60. Chốn cao chốn thấp tốt thay lạ lùng

Thương thì buôn bán xa đường

Dù thuỷ dù bộ bạc tiền đề đa.

Nhờ xem con lợn đàn gà

Trầu bò dê vịt nhà ta yên lành

65. Nam nữ tuổi được trường sinh

Vạn vật giai thành phú quí vinh hoa

Khử trừ tai phạm gần xa

Kim lâu Mộc ách La hầu Kế đô

Khử trừ bạo tặc hung đồ

70.Chớ cho xâm phạm đến nhà làm chi

Nam thương Cố khí, Phục thi

Chơ cho quyến luyến động hề sinh nhân

Bốn mùa xuân hạ thu đông

Sớm mai phù hộ sinh nhân thái hòa

75. Đi thời lánh chốn phong ba

Ngược xuôi buôn bán ôn hòa dư trăm

Nhờ đức Thổ công tiên sư

Phù hộ tín chủ lộc du vô cùng

Hoặc là có kẻ gian hung

80. Đánh cho tối mặt chớ dung làm gì

Tín chủ dầu có việc chi

Khẩn cầu báo ứng tức thì anh linh

Ở cho chính trực, thông minh

Phù hộ trạch chủ yên lành gia môn

85. Sinh con quế tử lan tôn

Tì xương tì xí phượng loan dà dà

Hộ gìn mọi vật trong nhà

Tứ thời bát tiết cửa nhà bình yên

(Tín chủ) sớm khuya ngày rảy

90. Phần hương lễ khấn đêm ngày cho thiêng

Đồng gia nam nữ giầu sang

Tuế diên thọ trường các bảo bình yên.

Tử tôn kế thế hiển vinh

Vui chơi lan huệ tử tôn đời đời.

95. Các xướng: Thiên thu vạn vạn tuế

Lễ xong.

Chú thích:

(Chúng tôi chú thích theo số thứ tự của câu thơ trong bài)

2. Gia trung: trong nhà

4. Hồng mông: mờ mịt, mông lung. Ý nói thuở ban đầu vũ trụ lúc mới khai thiên lập địa còn mờ mịt, hỗn mang.

Thuỷ phán: mới bắt đầu chia ra Tam từ.

5. Tí hội: vận hội năm Tí

Khai thiên: mở ra trời

6. Địa tịch: theo quan niệm của Đạo giáo, trời mở ra ở vận hội Tí, dất mở ở vận hội Sửu, người mở ra ở vận hội Dần.

11. Mỗ niên: năm nào đó

15. Ngõ ngang: tài giỏi

26. Lai lâm: đến để chứng giám

28. Chí kính: cung kính

35. Khất cầu: cầu xin

38. Đề đa: nhiều

68. Kim lâu, Mộc ách, La hầu, Kế đô: tên các sao xấu, nếu chiếu vào cung mệnh thì người sẽ bị ốm đau thua thiệt.

71. Nam thương, Cố khí, Phục thi: tên các sao xấu

86. Tì xương tí xí: càng thêm tốt lành

Dà dà: tốt lành

92. Các bảo bình yên: ai nấy đều bình yên

95. Các xướng: ai nấy hô vang.

Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.415-421)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm