55. Về bài minh văn trên bia trụ chùa Khánh Long xã Vĩnh Ngọc huyện Đông Anh (TBHNH 2010)
Thứ Bảy, 19/10/2013 15:46
(TBHNH 2010)
VỀ BÀI MINH TRÊN BIA TRỤ CHÙA
KHÁNH LONG XÃ VĨNH NGỌC HUYỆN ĐÔNG ANH
NGUYỄN THỊ TRANG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Chùa Khánh Long là ngôi chùa cổ ở thôn Vĩnh Thanh xã Vĩnh Ngọc huyện Đông Anh thành phố Hà Nội. Tương truyền chùa được xây dựng từ đời Trần, trên khu đất khoáng đạt của làng. Chùa trông ra đê sông Hồng, đứng trên bờ đê nhìn sang bên kia sông thấy gần trông vào con đường Lạc Long Quân ở quận Tây Hồ. Ngôi Tam bảo của chùa đã bị đổ nát trong kháng chiến trống Pháp. Sau ngày hòa bình lập lại, nhân dân địa phương mới tôn tạo khu Tam bảo khá khiêm tốn. Hiện nay di vật cũ của chùa còn lại là tấm bia đá hình trụ để ở ngoài sân. Bia có kích cỡ khá lớn cao 150cm, rộng 90cm. Cả bốn mặt bia đều khắc chữ, song do để lâu ngoài trời nên hai mặt bia bị mưa trời bào mòn gần hết không còn nhận ra nét chữ. Chỉ còn mặt chính ghi là Quốc sư tự bi và mặt bên ghi lại bài ký văn dài 60 câu. Mặt bên ghi rõ bia được dựng năm Chính Hòa thứ 19 (1698). Mặt chính còn cho biết Hòa thượng được triều đình nhà Lê sắc phong là Quốc sư, Hòa thượng có tên là Nguyễn Đức Trung, từng được ban chức trong coi các danh lam thắng tích trong nước, được ban hành Kim tử Vinh lộc Đại phu, trụ trì chùa Báo Thiên ở phủ Trung Đô nước Đại Việt. Sau lại được đưa sang trụ trì chùa Khánh Long làng Vĩnh Thanh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn trấn Kinh Bắc, nay thuộc xã Vĩnh Ngọc huyện Đông Anh thành phố Hà Nội. Cuối thế kỷ XVII, Hòa thượng cùng mọi người trong làng hưng công tu sửa lại chùa Khánh Long, nhân đó cho dựng tấm bia trụ đá này. Đặc biệt ở cuối bài ký văn có bài minh thể thơ 4 chữ, gồm 60 câu. Bài minh cũng tóm tắt lại toàn bộ sự nghiệp công đức của Hòa thượng được ban hiệu Quốc sư này. Nhận thấy đây là tư liệu giúp cho biết thêm về tư liệu liên quan đến chùa Báo Thiên ở Kinh thành Thăng Long xưa, do vậy chúng tôi tiến hành phiên âm, dịch nghĩa văn bia này.
Phiên âm:
Vi cư Tây trúc
Bắc phương phúc cảnh
Hoằng thâm đức lực
Trung nguyên Giáp Tý
Sơ tam chi lục
Quân thần khánh hội
Quốc phong Đệ nhất
Trụ trì kinh quốc
Danh lam danh tự
Thọ an quốc mạch
Tố bách dư tương
Khắc công văn tập
Phúc lưu trường viễn
Tư sơn tây đạo
Nhân giai kính mộ
Thôn dân tạo tượng
Tọa liên song vị
Kính tự nhân vọng
Tư tài tác phúc
Y bồ tiến cúng
Đệ niên xuân thủ
Thập ngũ nhật hạn
Hành lễ kỵ tiết
Sóc vọng tuế nguyệt
Vô cùng vĩnh vĩnh
Hà nhân vi thị
Thiên hình tru diệt
Năng tuân ước giả
Nhân khang vật phụ
Nhân minh vu thạch
Tích hiện Nam thiên
Đong huyện danh thiền
Quảng đại thiện duyên
Nguyệt quý hạ thiên
Nhân quả phúc viên
Sự nghiệp gia truyền
Hòa thượng Báo Thiên
Kiêm tri lâm tuyền
Nội ngoại tăng thiền
Vĩnh vĩnh miên miên
Kiến cửu phẩm liên
San thủy lục thiên
Đức nghiệp đoàn viên
Hữu triêm trạch triền
Tâm đức tổ thiền
Phật đường hậu liên
Phụng tự ức niên
Nãi xuất gia tiền
Hứa dân huệ điền
Hương hỏa vĩnh diên
Nhị nguyệt hội diên
Nhị thập tứ bàn
La bái tọa tiền
Phối hưởng nhất biên
Võng cực miên miên
Tại bỉ tội khiên
Địa ngục phọc triền
Nguyện sáng phuc yên
Phúc lộc trăn biền
Dĩ thọ kỳ truyền.
Dịch nghĩa:
Phật sinh miền Tây trúc
Phương Bắc hưởng phúc lớn
Đức lớn mênh mang lắm
Tiết Trung nguyên Giáp Tý
Ngày mồng 3 tháng 6
Vua tôi cùng tụ hội
Nước phong hàng Đệ nhất
Trụ trì nơi Kinh quốc
Các danh lam danh tự
Lo giữ yên quốc mạch
Để lại cho hậu thế
Ghi công vào văn tập
Phúc lớn lưu trường viễn
Ở phía tây ngọn núi
Nhân dân đều kính mộ
Dân thôn cùng tô tượng
Thờ chung cả hai vị
Nhân dân đều tôn kính
Tiền tài đem làm phúc
Dấu tích ở Nam thiên
Huyện Đông có danh thiền
Mở rộng thêm thiện duyên
Ngày hè tháng hoa sen
Nhân quả đã mãn viên
Sự nghiệp được lưu truyền
Hòa thượng chùa Báo Thiên
Lại kiêm cả lâm tuyền
Khắp mọi chốn tăng thiền
Mãi mãi được lâu bền
Xây đài cửu phẩm liên
San khắc thủy lục thiên
Đức nghiệp thực mãn viên
Có một ngôi chùa tiên
Tâm đức của Tổ thiền
Phật đường nối hậu liên
Phụng sự ức vạn niên
Liền góp của góp tiền
Lại cho dân huệ điền.
…
(Thông báo Hán Nôm học 2010, tr.387-391)
Nguyễn Thị Trang