58. Thêm một số tư liệu về các nhà khoa bảng Việt Nam qua văn bia ở Thái Bình (TBHNH 2000)
THÊM MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ
CÁC NHÀ KHOA BẢNG VIỆT NAM QUA VĂN BIA Ở THÁI BÌNH
NGUYỄN THANH
Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình
I – Trong hệ thống văn bia ở Thái Bình có một số trường hợp ghi tên tác giả là Tiến sĩ nhưng đối chiếu trong các sách đăng khoa lục và các nguồn sử liệu có liên quan không thấy tên các tác giả này. Xin nêu một số trường hợp:
1 – Đình làng Phất Lộc (Thái Thụy) hiện có hai tấm bia hậu. Một tấm dựng vào năm Long Đức 1 (1732) ghi tên người soạn là Bùi Khiêm, Tiến sĩ khoa Ất Mùi (1715). Một tấm dựng năm Long Đức 3 (1734) ghi tên người soạn là Nguyễn hiệu Khiêm Trai, Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1721).
2 – Bia hậu ở chùa Thuận An (Vũ Thư) dựng năm Gia Long 15 (1816) ghi tên người soạn là Ngô Doãn Thăng, Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi triều Lê (?) người Cát Đằng, Vọng học sĩ. Cũng tại xã Thuận An, bia đặt tại từ chỉ dựng năm Minh Mệnh (1820) ghi tên người nhuận là Ngô hiệu Doãn Thăng tước Nghĩa phái hầu.
II – Văn bia ở Thái Bình có nhiều trường hợp tác giả là những nhà khoa bảng, trong số đó có tác giả vốn là những tác giả từng có danh tiếng trong các lĩnh vực văn học, sử học nhưng cũng có những tác giả chưa được biết đến nhiều. Chúng tôi xin nêu một số trường hợp.
1- Bia chùa Từ Ân làng Đồng Hải (Đông Hưng) dựng năm Xương Phù 6 (1382). Người soạn là Hồ Tông Thốc, đỗ thái học sinh đời Trần, chức Hàn lâm viện học sĩ.
2 – Tấm bia có nhan đề Gia Thục Công Chúa chi mộ ký hiệu ở chùa An Phúc (Vũ Thư) dựng vào năm Hồng Đức 14 (1483). Người soạn là Lương Thế Vinh, đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời Lê Thánh Tông quê thôn Cao Hương huyện Thiên Bản nay là thôn Cao Phương xã Liên Bảo huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định. Làm quan đến chức Hàn lâm viện thị giảng chưởng viện sự, nhập thị kinh diên, tri sùng văn quán.
3 – Bia đặt tại đình làng Hà Nguyên (Hưng Hà) có nhan đề Nguyên Kiều bi ký, dựng năm Đại chính 2 (1531). Người soạn: Đặng Ất, đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Dần niên hiệu Quang Thiệu 3 (1518) đời Lê Chiêu Tông. Người làng Hải Triều huyện Ngự Thiên nay thuộc xã Tân Lễ huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình. Làm quan đến chức Giám sát ngự sử, tước Liệt đại phu.
4 - Ở chợ Nguyên Xá (huyện Đông Hưng) trước đây có tấm bia mang nhan đề Quỳnh Hoa, Linh Xuân, Phúc Ấm, Vạn Minh, Kệ Khê, Vô Nam Đẳng tự kiều bi, dựng năm Hoằng Định 12 (1611). Người soạn: Nguyễn Lễ, đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Sùng Khang 3 (1568) đời Mạc Mậu Hợp. Người làng Kiệt Đặc huyện Chí Linh, nay là thôn Kiệt Đoài xã Văn An huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương.
5 - Tại chùa Keo (huyện Vũ Thư) còn khá nhiều bia đá, trong đó đáng chú ý là hai tấm bia đều mang tên Thần Quang tự bi. Một tấm dựng vào năm Long Đức 4 (1632). Người soạn: Nguyễn Thực, đỗ Đình Nguyên Hoàng giáp khoa Ất Mùi niên hiệu Quang Hưng 18 (1595) đời Lê Thế Tông. Người làng Vân Điềm huyện Đông Ngàn, nay thuộc xã Vân Hà huyện Đông Anh thành phố Hà Nội. Làm quan đến chức Tán trị công thần, Tham tụng, Lại bộ thượng thư… tước Lan quận công. Một tấm dựng năm Chính Hòa 19 (1698). Người soạn: Đỗ Viết Hồ, Tiến sĩ khoa Đinh Sửu niên hiệu Chính Hòa 18 (1697) đời Lê Huy Tông. Người xã Xuân Phổ huyện Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa. Làm quan đến chức Tự Khanh.
6 – Chùa Vô Song (huyện Đông Hưng) có tấm bia mang nhan đề Hoa Nghiêm tự bi, dựng năm Dương Hòa 2 (1636). Người soạn: Giang Văn Minh, đỗ Hội nguyên, Đình Nguyên Thám Hoa khoa Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628). Người làng Mông Phụ huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây tỉnh Hà Tây. Làm quan tới chức Tự Khanh tước Vinh quận công. Một danh sĩ nổi tiếng trong chuyến đi sứ sang nhà Minh.
7 – Bia hậu tại đình làng Hoằng Mỹ (huyện Hưng Hà), dựng năm Vĩnh Trị 5 (1680). Người soạn: Hồ Sĩ Dương, Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn niên hiệu Khánh Đức 4 (1652) đời Lê Thần Tông. Người làng Hoàn Hậu huyện Quỳnh Lưu, nay là xã Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Làm quan tới chức Tham tụng, Hình bộ thượng thư tước Duệ quận công.
8 – Bia hậu tại đình làng Hưng Quang (huyện Đông Hưng) dựng năm Chính Hòa 10 (1689). Người soạn: Trần Thiện Thuận, Tiến sĩ khoa Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa 4 (1683) đời Lê Hy Tông. Người làng Bát Tràng huyện Gia Lâm nay là xã Bát Tràng huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội.
9 – Bia hậu tại đình thôn Kinh (huyện Đông Hưng) dựng năm Chính Hòa 24 (1703). Người soạn: Hà Đôn Phú (còn tên là Hà Tông Mục), Tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Chính Hòa 9 (1688). Người làng Tinh Thạch huyện Thiên Lộc, nay thuộc xã Hậu Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Làmq quan đến chức Tả thị lang bộ Hình, tước Nam.
10 – Bia hậu đình Phât Lộc (huyện Thái Thụy) dựng năm Long Đức 2 (1733). Người soạn: Chu Nguyễn Lâm, Tiến sĩ Khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời Lê Dụ Tông. Người làng Cát Động huyện Thanh Oai nay thuộc xã Kim An huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây. Làm quan đên chức Hán lâm viện thừa chỉ.
11 - Tại đồng làng Phú Nông (huyện Hưng Hà) có tấm bia mang nhan đề Phú Nông xã bi ký, dựng năm Cảnh Hưng 13 (1752). Người soạn: Trịnh Tĩnh Tâm (còn tên là Trịnh Tuệ), Trạng nguyên khoa Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736), đời Lê Ý Tông. Người làng Bất Quần huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa. Làm quan đến chức Tham tụng, Thượng thư bộ Hình… Người nhuận sắc bài văn bia này là Hà Tông Huân, Đình nguyên Bảng nhãn khoa Giáp thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời Lê Dụ Tông. Người làng Kim Vực huyện Yên Định nay thuộc huyện Thiệu Yên tỉnh Thanh Hóa. Làm quan đến chức Tham tụng, Thượng thư bộ Binh, tước Huy Xuyên hầu.
12 - Tại ngôi miếu làng Cao Mỗ (huyện Đông Hưng) có tấm bia mang nhan đề Cao Mỗ xã miếu bi ký, dựng năm Cảnh Hưng 33 (1772). Người soạn: Nguyễn Nghiễm, Hoàng Giáp khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời Lê Duy Phường. Người làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh là thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du. Làm quan trải nhiều chức tước quan trọng như Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ Hộ, Đại tư đồ tước Xuân quận công…
13 - Tại chùa Bộ La (huyện Vũ Thư) có tấm bia hậu, dựng năm Bảo Đại 5 (1930) và chùa Kỳ Bá (Thị xã Thái Bình) có bia hậu, dựng năm Khải Định 4 (1919). Cả hai tấm bia này đều của tác giả Phạm Văn Thụ, Phó bảng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Thành Thái 4 (1892). Người làng Bạch Sam huyện Mỹ Hào nay thuộc huyện Mỹ Văn tỉnh Hưng Yên. Làm quan đến Thượng thư bộ Hộ.
Ngoài ra trên một cuốn thư, văn chuông, thiên đài… còn ghi tên tác giả là những nhà khoa bảng. Chúng tôi sẽ có dịp trình bày trong một bài viết khác.
Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.459-463