VI | EN
59. Về lai lịch tập II, III, IV của bộ Thiên Nam dư hạ tập (10 tập) hiện còn. (TBHNH 2010)
(TBHNH 2010)

VỀ LAI LỊCH TẬP II, III, IV CỦA BỘ

THIÊN NAM DƯ HẠ TẬP (10 TẬP) HIỆN CÒN

NGUYỄN THANH TÙNG

Đại học Sư phạm Hà Nội

Như chúng ta đều biết, Thiên Nam dư hạ tập 天南南下集 là bộ sách được các triều thần có học vấn biên soạn dưới thời Hồng Đức theo chỉ thị của vua Lê Thánh Tông năm 1483 [Đại Việt sử kí toàn thư]. Bản gốc đầy đủ của bộ sách hiện nay không còn, chỉ còn một truyền bản gồm 10 tập hiện đang được tàng trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm với kí hiệu A.334/ 1-10. Tình hình khái quát về văn bản và giá trị của truyền bản bộ sách này đã được một số nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu, công phu đầy đủ nhất là Trần Văn Giáp trong sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - Nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, có nhiều vấn đề cần bổ sung cũng như trao đổi lại(1). Thêm nữa, những vấn đề cụ thể của toàn bộ văn bản vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu để khai thác một cách tốt nhất những gì hiện còn(2). Trong bài viết này, chúng tôi xin bước đầu giải quyết vấn đề nguồn gốc của ba tập II, III, IV của bộ sách.

Theo Trần Văn Giáp, “Nói về nội dung sách Thiên Nam dư hạ [tập], lời chép cụ thể về tinh thần của việc soạn sách ấy trong các sử cũ đều nói rõ, sách này chỉ là một bộ sách ghi chép các điển lệ, chế độ v.v... giống như các sách Hội yếu đời Đường, Tống, sách Hội điển đời Minh Thanh. Sách Thiên Nam dư hạ [tập] không phải là một bộ sách bách khoa như một số lớn chúng ta vẫn thường phỏng đoán. Nó cũng không cùng một lối với các bộ sách Nghệ văn loại tụ đời Đường, Thái bình ngự lãm đời Tống hay Vĩnh Lạc đại điển đời Minh hay Cổ kim đồ thư tập thành đời Thanh,... Bộ Thiên Nam dư hạ [tập] không thể có các bài thơ hay bài văn, hoặc của Lê Thánh Tông, hay của các từ thần khác của triều Lê”(3). Ông cũng chứng minh rằng các sách sử có trích dẫn Thiên Nam dư hạ tập đều dẫn phần nói về chế độ, điển cáo, tuyệt không nói đến phần thi văn, bình luận. Vì vậy, đối với các tập II, III, IV, Trần Văn Giáp nhận xét: “Trong ba tập sách này, toàn là thơ văn hay phê bình về thơ văn, về sử Trung Quốc, v.v... không có gì về điều luật Việt Nam, không hợp với tinh thần biên soạn sách Thiên Nam dư hạ [tập]. Ta có thể khẳng định: ba tập này (tập II, III, IV) là bản chép giả tạo, không phải sách thật”(4). Tuy nhiên, Trần Văn Giáp chưa chỉ ra được nguồn gốc của 3 tập sách đó bằng các “thiết chứng” xác đáng mà mới dựa hoàn toàn trên sự biện luận từ những “bàng chứng”. Mặc dù vậy, nhận xét của Trần Văn Giáp đã chỉ ra hướng tìm tòi đúng đắn cho lai lịch của các tập sách này. Ông gợi ý: “Những thơ văn ấy do người ta đem vào sau này cùng với một số thơ văn khác của đời sau và gán ghép cho nó cái tên là Thiên Nam dư hạ [tập](5).

Nhìn chung, ba tập sách có phần xa lạ, khác với các tập sách khác (hoặc nói về điều luật, điển chế hoặc ít nhất có những tác phẩm nhiều khả năng của Lê Thánh Tông). Những phần “bình thơ”, “bình văn”, “khảo sử” (Trung Hoa) xuất hiện ở Đại Việt vào thế kỉ XV là điều khó tin bởi lẽ truyền thống “khảo”, “bình” như vậy phải đến thế kỉ XVIII trở đi mới thực sự phát triển. Trước đó, chỉ có những lời bình luận lẻ tẻ, tản mạn(6). Điều đáng chú ý nữa là 3 quyển này đánh chung số tờ, từ số 1 đến 184, cả ba tập đều ghi “Hồng Đức Nhâm Dần niên chế thư” (sách làm năm Nhâm Dần niên hiệu Hồng Đức). Đầu các quyển đều có đề: “Lê triều Thánh Tông Thuần hoàng đế ngự chế” (vua Thánh Tông, thụy Thuần hoàng đế triều Lê làm ra) và chua rõ: “Hàn uyển thần Đỗ Nhuận, Nguyễn Trực đẳng đồng phụng sắc hiệu chú” (Các văn thần là Đỗ Nhuận, Nguyễn Trực,... vâng sắc hiệu chú).

Điều này cho thấy sự “thống nhất”, “riêng biệt” của ba tập sách này so với các tập còn lại. Nó cũng gián tiếp báo hiệu rằng, ba tập sách có cùng xuất xứ. Về niên đại Nhâm Dần (1482) và miếu hiệu Thánh Tông, Trần Văn Giáp đã chỉ ra tính bất hợp lí của chúng: “một hai năm trước khi Thánh Tông nghĩ ra việc làm sách Thiên Nam dư hạ [tập] và sai các từ thần biên soạn… Không kể phần tên tác giả mà biên miếu hiệu Lê Thánh Tông là một điều quá sơ đẳng đã đáng ngờ. Thật ra miếu hiệu một ông vua chỉ có thể có sau khi vua đã chết”(7). Tất nhiên, đây có thể là ghi chú của người thời sau, không nhất thiết là người đương thời ghi chép, nên điều đó cũng không mấy quan trọng, nhất là với một văn bản đã trải qua quá trình thất tán, sao chép nhiều lần như Thiên Nam dư hạ tập. Quan trọng là nội dung văn bản, lai lịch văn bản? Trong quá trình khảo sát tư liệu thi luận, văn luận Việt Nam thời trung đại, chúng tôi đã may mắn phát hiện ra lai lịch của chúng, đó là từ bộ Khốn học kỉ văn của Vương Ứng Lân.

Vương Ứng Lân 王應麟 (1223-1296), tự Bá Hậu 伯厚, hiệu là Thâm Ninh cư sĩ 深寧居士, là một chính trị gia, một học giả, nhà văn có tiếng thời Nam Tống. Ông vốn quê tại Tuấn Nghi (phủ Khai Phong, tỉnh Hà Nam), sau đổi sang sống tại huyện Cần, phủ Khánh Nguyên (nay thuộc Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang), đỗ Tiến sĩ năm 1241, làm đến chức Thái Thường tự Chủ bạ. Sau được bổ làm Thông phán Thai Châu, rồi làm Thị giảng kiêm Bí thư Thiếu giám. Vì Giả Tự Đạo, Đinh Đại toàn đố kỵ, ông lại bị đổi đi Huy Châu, đến khi Giả Tự Đạo mất chức mới chuyển về giữ chức Lễ bộ Thượng thư kiêm Cấp sự trung. Khi nhà Nam Tống mất (1276), ông ẩn cư ở nhà dạy học cho đến hết đời. Vương Ứng Lân rất tinh thông kinh sử, địa lý, thông thuộc các điển chế, khảo cứu tỉ mỉ, tác phẩm có những cuốn nổi tiếng như: Ngọc hải 玉海, Ngọc đường loại cảo 玉堂類稿, Thi địa lí khảo 詩地理考, Thâm Ninh tập 深寧集, Tam tự kinh 三字經, Khốn học kỉ văn 困學紀聞, v.v... Cuốn Tam Tự kinh của họ Vương là cuốn sách nổi tiếng, lưu hành phổ biến ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam(8).

Về Khốn học kỉ văn, sách gồm 20 quyển, nội dung từng quyển như sau: Q.I: Dịch, Q.II: Thư, Q.III: Thi, Q.IV: Chu lễ, Q.V: Nghi lễ, Q.VI: Xuân thu, Q.VII: Công Dương truyện, Q.VIII: Mạnh Tử, Q.IX: Thiên đạo, Q.X: Địa lí, Q.XI - XVI: Khảo sử, Q.XVII: Bình văn, Q.XVIII: Bình thi, Q.XIX: Bình văn, Q.XX: Tạp thức. Ba tập II, III, IV của Thiên Nam dư hạ tập lấy nguyên xi 5 quyển (XVI, XVII, XVIII, XIX, XX) của bộ Khốn học kỉ văn. Phương thức “ngụy tạo” khá tinh vi, từ việc ghi chép thêm tiêu đề cho 3 tập (đã trình bày), hoặc biến đổi tên quyển (Tạp thức > Liệt truyện tạp thức) cho đến việc chèn, sửa nội dung bên trong (mà chủ yếu là việc chèn, sửa chữa, bổ sung để có thêm được “phụng bình”, “phụng chú”, “cẩn án” của Nguyễn Trực, Đỗ Nhuận; những phần “phụng bình”, “phụng chú”, “cẩn án” được cố ý viết nhỏ để phân biệt với “chính văn”). Có nhiều chỗ, sách Thiên Nam dư hạ tập bổ sung được nhiều chú thích mới, tường tận hơn Khốn học kỉ văn nhưng có chỗ thì sửa làm sai lạc nguyên bản (VD: từ “bản triều” - Tống > “Minh sơ”). Để làm được điều đó hẳn người “ngụy tạo” Thiên Nam dư hạ tập đã tham khảo thêm một số tư liệu khác, chẳng hạn trong phần “bổ sung” có kê các sách như: Thế thuyết (tân ngữ), Đạo Nguyên hạ gián, v.v… (Xem Phụ lục: Bảng so sánh một số đoạn trong 2 sách Thiên Nam dư hạ tập Khốn học kỉ văn).

Như vậy, ba tập II, III, IV của bộ Thiên Nam dư hạ tập rõ ràng là một sản phẩm giả mạo, được ngụy tạo nhằm một số mục đích mà theo chúng tôi có lẽ chủ yếu là để “trục lợi”. Chúng ta được biết rằng, đầu thế kỉ XX, Trường Viễn đông Bác cổ đã cho thuê sưu tầm, sao chép nhiều văn bản Hán Nôm Việt Nam. Để kiếm lợi, nhiều người được thuê đã làm giả nhiều tài liệu. Bộ Thiên Nam dư hạ tập thuộc số đó. Ngoài ra, cũng có thể do động cơ hiếu kì, do tư tưởng sùng bái cá nhân, ngụy tạo lịch sử ở một số cá nhân nào đó! Bản thân bộ sách này đã nhiều lần bị thất lạc ở thời Trung đại (thời Lê sơ, Lê Trung hưng, Lê mạt, Nguyễn) và gần như đã thất truyền. Với tình hình đó, văn bản Thiên Nam dư hạ tập vốn đã khá phức tạp. Việc làm giả trên càng làm phức tạp vấn đề. Với việc phát hiện ra lai lịch của 3 quyển trên, chúng ta đã có thể chắc chắn loại 3 tập này khỏi bộ Thiên Nam dư hạ tập để tiếp tục nghiên cứu các tập còn lại.

 

Chú thích

(1) Chẳng hạn, về nhân vật Nguyễn Trực, Trần Vãn Giáp dựa vào sách Trạng nguyên Hu Liêu tiên sinh tập chứng minh Nguyễn Trực mất nãm 1483 nên không thể tham gia biên soạn Thiên Nam dý hạ tập ðýợc. Tuy nhiên, việc Nguyễn Trực có tham gia biên soạn Thiên Nam dý hạ tập cũng ðýợc ghi nhận trong thý tịch cổ. Không phải ðâu xa, ðó chính là sách Ðại Việt sử kí toàn thý (bản in nãm Chính Hòa thứ 18 - 1697). Sách này ghi lại lời bàn của sử thần Vũ Quỳnh (1452 - 1516) nhý sau: “Vua (Lê Thánh Tông - NTT) từ trời cao siêu, anh minh quyết ðoán, có hùng tài, ðại lýợc, giỏi võ vãn hay mà cái học của thánh hiền lại ðặc biệt siêng nãng, tay không lúc nào rời quyển sách. Các tập kinh, sử, các lịch toán, những việc thánh thần, không cái gì không bao quát tinh thông. vãn thõ thì výõjt trên cả khuôn mẫu của các vãn thần. Cùng với bọn Nguyễn Trực, Vũ Vĩnh Mô, Thân Nhân Trung, Quách Ðình Bảo, Ðỗ Nhuận, Ðào Cử, Ðàm vãn Lễ biên soạn bộ Thiên Nam dý hạ [tập] (chúng tôi nhấn mạnh - NTT), tự ðặt hiệu là “Thiên Nam ðộng chủ”, “Ðạo am chủ nhân”…” [Toàn thý, Bản kỉ tục biên, tờ 78b]. Ta biết Vũ Quỳnh là một sử thần rất uyên bác và nghiêm túc, nên lời ông nói có lẽ không thể nhầm ðýợc. Hõn nữa ông sống và làm quan ở thời Hồng Ðức, nên ðýợc chứng kiến những sự kiện trên. Qua ghi chép này ta thấy thêm ðýợc một số tên tuổi cụ thể tham gia biên soạn Thiên Nam dý hạ tập là Vũ Vĩnh Mô và Nguyễn Trực. Và nhý vậy, phải xem lại ðộ chính xác và tin cậy của bản Trạng nguyên Hu Liêu tiên sinh gia phả (A.646) mà Trần Vãn Giáp ðã dẫn, cũng có nghĩa là có thể ðiều chỉnh nãm mất của Nguyễn Trực. Cũng có nghĩa là những ghi chép trên ðầu quyển Thiên Nam dý hạ tập không phải là sự “bịa ðặt” ngây ngô, Nguyễn Trực có tham gia soạn Thiên Nam dý hạ tập, và phải chãng Nguyễn Trực cũng sống cho ðến thời ðiểm nãm 1483? Hoặc giả, ông ðang tham gia biên soạn thì mất chãng? Theo ghi chép của Toàn thý thì nãm 1483 là nãm Lê Thánh Tông ra sắc lệnh “toản tu” (biên tập, tu soạn) Thiên Nam dý hạ tập, vậy phải chãng là sách ðã ðýợc soạn trýớc ðó và nãm 1483 là nãm cho tu soạn lại? Ðây là những vấn ðề cần tiếp tục nghiên cứu thêm.

(2) Xem phần giới thiệu Thiên Nam dư hạ tập của Trần Kim Anh trong Một số văn bản và điển chế pháp luật Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ trì, Nxb. KHXH, H. 1985. Nguyễn Công Việt: Bước đầu tìm hiểu về Nguyễn Trực, một tài năng nhiều mặt giữa thế kỷ XV, Nghiên cứu Hán Nôm năm 1985. Lâm Giang: Thân Nhân Trung - Con người và tác phẩm, Tạp chí Hán Nôm số 1/1988.

(3) Trần Văn Giáp (1970). Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - Nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam, Thư viện Quốc gia xuất bản, Hà Nội, tr.208.

(4) Trần Vãn Giáp, Tlðd, tr.209.

(5) Trần Vãn Giáp, Tlðd, tr.212.

(6) Xem Nguyễn Thanh Tùng: Lýợc khảo về thi thoại ở Việt Nam thời trung ðại, Tạp chí Khoa học, số dành riêng cho Hội thảo Khoa học cán bộ trẻ Trýờng ÐHSP Hà Nội. 2008.

(7) Trần Vãn Giáp, Tlðd, tr.209.

(8) Tuy nhiên, các nhà khảo chứng gần đây lại cho rằng Tam tự kinh do Khu Thích Tử (cuối thời Tống) làm ra./.

Phụ lục 1:

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ SÁCH KHỐN HỌC KỈ VĂN


Phụ lục 2:

BẢNG SO SÁNH MỘT SỐ ĐOẠN TRONG KHỐN HỌC KỈ VĂN VÀ THIÊN NAM DƯ HẠ TẬP

Khốn học kỉ văn (Vương Ưng Lân)

Thiên Nam dư hạ tập (A.334/3)

Điều 1: “Thơ của Đào Uyên Minh, (cũng như) Phục Hi, Thần Nông bỏ ta lâu rồi, ở đời ít kẻ quay về với cái chân, (đâu) miệt mài (như) ông già nước Lỗ, bồi đắp cho sự mộc mạc đó, lại nói: ở trong đó có chân ý, muốn phân biệt cho ra lẽ thì đã quên mất lời rồi. Tô Đông Pha nói: “Đào Uyên Minh muốn làm quan thì ắt làm không lấy sự truy cầu làm ngại, muốn về ẩn thì ắt về ẩn không lấy sự truy cầu làm cao, đói thì gõ cửa mà xin ăn, no thì giết gà, thổi cơm mà đón khách. Xưa nay điều đáng quý ở người hiền là sự chân thực của họ. Cát Lỗ Hương làm bài tán, La Đoan Lương làm bài kí. La Nguyện tự là Đoan Lương, có bài Đào lệnh từ đường kí cũng đều khởi nguồn từ ý này. Tiêu Thống (đời Lương thì bảo vệ cái nhàn tình của ông, Đỗ Tử Mĩ thì chê bai sự nợ nần của ông, Vương Ma Cật thì bàn bạc cái việc xin ăn của ông, nào có gì thương hơn mặt trăng mặt trời chăng? Cái ý thuật một bài thơ về rượu chỉ có Hàn Tử Thương là biết vậy”.

1 - “Thơ của Đào Uyên Minh, (cũng như) Phục Hi, Thần Nông bỏ ta lâu rồi, ở đời ít kẻ quay về với cái chân, (đâu) miệt mài (như) ông già nước Lỗ, bồi đắp cho sự mộc mạc đó, lại nói: ở trong đó có chân ý, muốn phân biệt cho ra lẽ thì đã quên mất lời rồi. Tô Đông Pha nói: “Đào Uyên Minh muốn làm quan thì ắt làm không lấy sự truy cầu làm ngại, muốn về ẩn thì ắt về ẩn không lấy sự truy cầu làm cao, đói thì gõ cửa mà xin ăn, no thì giết gà, thổi cơm mà đón khách. Xưa nay điều đáng quý ở người hiền là sự chân thực của họ. Cát Lỗ Hương làm bài tán, La Đoan Lương làm bài kí Thần Nguyễn Trực vâng chú rằng: La Nguyện tự là Đoan Lương, có bài Đào lệnh từ đường kí cũng đều khởi nguồn từ ý này. Tiêu Thống (đời Lương thì bảo vệ cái nhàn tình của ông, Đỗ Tử Mĩ thì chê bai sự nợ nần của ông, Vương Ma Cật thì bàn bạc cái việc xin ăn của ông, nào có gì thương hơn mặt trăng mặt trời chăng? Cái ý thuật một bài thơ về rượu chỉ có Hàn Tử Thương là biết vậy”.

- Liệt nữ truyện chép thơ (xướng hoạ) của hai người là Thức, Vi, kiểu liên cú bắt đầu từ đó. Bì Nhật Hưu nói: liên cú có ở trong thể bách lương thất ngôn, Văn tâm điêu long nói: Liên cú cùng vần là việc ngoài thể bách lương. Ngao, Đào canh ca với nhau, không phải là gốc của liên cú hay sao?

- Liệt nữ truyện chép thơ (xướng hoạ) của hai người là Thức, Vi, kiểu liên cú bắt đầu từ đó. Thần Nguyễn Trực vâng chú rằng: Bì Nhật Hưu nói: liên cú có ở trong thể bách lương thất ngôn, Văn tâm điêu long nói: Liên cú cùng vần là việc ngoài thể bách lương. Thần Đỗ Nhuận cẩn án: Ngao, Đào canh ca với nhau, không phải là gốc của liên cú hay sao?

- Bài thơ Họa Nghiêm võ quân thành tảo thu của Đỗ Thiếu Lăng: “Dĩ thu Trích Bác vân gian thú/ Cánh đoạt Bồng Bà tuyết ngoại thành” (Đã thu quân đi thú trong mây trên đỉnh Trích Bác/ Liền đoạt ngôi thành nằm bên ngoài núi tuyết Bồng Đà). Đỉnh Trích Bác, tại Dung Châu. Xem sách Vĩ Cao truyện: núi Bồng Bà, tại Thạch Châu. Xem Nguyên Hòa quận huyện chí.

- Bài thơ Họa Nghiêm võ quân thành tảo thu của Đỗ Thiếu Lăng: “Dĩ thu Trích Bác vân gian thú/ Cánh đoạt Bồng Bà tuyết ngoại thành” (Đã thu quân đi thú trong mây trên đỉnh Trích Bác/ Liền đoạt ngôi thành nằm bên ngoài núi tuyết Bồng Đà). Đỉnh Trích Bác, tại Dung Châu. Thần Nguyễn Trực vâng chú: Xem sách Vĩ Cao truyện: núi Bồng Bà, tại Thạch Châu. Thần Nguyễn Trực vâng chú: Xem Nguyên Hòa quận huyện chí.

- Đỗ Thiếu Lăng đề cao Lưu Thứ Luật, nhưng một bài Bi trần đào không vì ông ta mà làm xuê xoa; Hàn Xương Lê đề cao Liễu Tử Hậu, nhưng một bài thơ Vĩnh Trinh hành không vì ông ta mà tránh né. Công luận không thể yểm đi là như thế.

Đỗ Thiếu Lăng đề cao Lưu Thứ Luật, nhưng một bài Bi trần đào không vì ông ta mà làm ổn thỏa; Hàn Xương Lê đề cao Liễu Tử Hậu, nhưng một bài thơ Vĩnh Trinh hành không vì ông ta mà tránh né. Công luận không thể yểm đi là như thế. Thần Nguyễn Trực vâng chú: Khi làm bài Vĩnh Trinh hành, nỗi oán của Lưu, Liễu chưa nguôi ngoai.

- Công An tiễn Lí Tấn Túc vào Thục, ấy là cha của Lí Hạ đó.

- Công An tiễn Lí Tấn Túc vào Thục, ấy là cha của Lí Hạ đó. Thần Đỗ Nhuận kính cẩn xét: Gốc gác Lí Hạ là từ hậu duệ của Trịnh vương. Trịnh vương tên là Lượng, con thứ tám của Đường Thái tổ, không phải là con của Đường Cao tổ (tên Nguyên Ý), xưng là Tiểu Trịnh vương, hoặc gọi là Huệ Trịnh chủ vậy.

- Thơ tuyệt cú của bản triều có bài ngũ ngôn Vịnh Hán Cao Tổ của Hiệp Sái, là thơ của người con trai út của Đường Vu. Lại có Bài thơ tuyệt cú của Kinh công [Vương An Thạch] tên là Vịnh Thúc Tôn Thông, cũng thấy ở trong sách Tống Cảnh Văn Công tập.

- Thơ tuyệt cú thời Minh sơ có bài ngũ ngôn Vịnh Hán Cao Tổ của Hiệp Sái, là thơ của người con trai út của Đường Vu. Lại có Bài thơ tuyệt cú của Kinh công [Vương An Thạch] tên là Vịnh Thúc Tôn Thông, cũng thấy ở trong sách Tống Cảnh Văn Công tập.

Sách Tả truyện có “Ngu tân”, sách Trang tử có “Phí âu”. Thể văn ca không phải bắt đầu từ vị khách của Điền Hoành.

Sách Tả truyện có “Ngu tân”, sách Trang tử có “Phí âu”. Thể văn ca không phải bắt đầu từ vị khách của Điền Hoành. Thần Nguyễn Trực phụng án: Gốc từ lời chú sách Thế thuyết của Lưu Tuấn…

42. Đông Phương Sóc có làm thơ bát ngôn, thất ngôn. Khảo phần Phong, Nhã (trong Kinh Thi), thấy có câu “thượng chi dĩ quỳnh, hoa hồ nhi”, là thất ngôn vậy; câu “ngã bất cảm hiệu ngã hữu tự dật” là câu bát ngôn vậy.

Đông Phương Sóc có làm thơ bát ngôn, thất ngôn. Khảo phần Phong, Nhã (trong Kinh Thi), thấy có câu “thượng chi dĩ quỳnh, hoa hồ nhi”, là thất ngôn vậy; câu “ngã bất cảm hiệu ngã hữu tự dật” là câu bát ngôn vậy. Thần Đỗ Nhuận cẩn án: câu “Tống ngã hồ Kì chi thượng hĩ” (Tiễn ta lên trên núi Kì vậy) và “Thập nguyệt tất suất nhập ngã sàng hạ” (tháng 10, loài dế chui vào dưới giường ta), lại còn có trước nữa.

47. Sách Thi uyển loại cách nói: Thể hồi văn là từ sáng tác của vợ Đậu Thao. Văn tâm điêu long nói: Sự hưng thịnh của thể hồi văn thì bắt đầu từ Đạo Nguyên. Lại công hàm truyền có thơ qua lại viết bằng thể hồi văn. Ôn Kiều có thơ hồi văn, đều có trước vợ Đậu Thao. Bì Nhật Hưu nói: công hàm qua lại hưng thịnh, hồi văn của Ôn Kiều cũng hưng thịnh”

- Sách Thi uyển loại cách nói: Thể hồi văn là từ sáng tác của vợ Đậu Thao. Văn tâm điêu long nói: Sự hưng thịnh của thể hồi văn thì bắt đầu từ Đạo Nguyên. Thần Đỗ Nhuận cẩn án: sách Đạo Nguyên hạ gián chú: căn cứ vào đây không thể khảo xét được. Lại công hàm truyền có thơ qua lại viết bằng thể hồi văn. Ôn Kiều có thơ hồi văn, đều có trước vợ Đậu Thao. Thần Nguyễn Trực phụng chú: Bì Nhật Hưu nói: công hàm qua lại hưng thịnh, hồi văn của Ôn Kiều cũng hưng thịnh”

v.v,…

v.v,…

(Thông báo Hán Nôm học 2010, tr.405-416)

Nguyễn Thanh Tùng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm