VI | EN
60. Góp phần lý giải vài điểm tồn nghi trên tấm bia đời Lý dựng tại chùa Đọi. (TBHNH 1997)
TBHNH 1997

GÓP PHẦN LÝ GIẢI VÀI ĐIỂM TỒN NGHI

TRÊN TẤM BIA ĐỜI LÝ DỰNG TẠI CHÙA ĐỌI

PHẠM VĂN THẮM

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Bài văn khắc trên tấm bia mang niên đại Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121) hiện dựng tại chùa Long Đọi, trên đỉnh núi Long Đọi (thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) đã được phiên âm dịch nghĩa và phân bố trong tập Thơ văn Lý Trần năm 1977. Tuy nhiên về mặt văn bản hiện có ba vấn đề đáng lưu tâm.

1- Về tình trạng văn bản

Trên thực tế bài văn khắc trên tấm bia này có nhiều chữ quá mờ và khó đọc, trong khi tiến hành đối chiếu với bản sao bi văn kí hiệu VHv.1167 và bản sao Đọi sơn tự bi A.854, dịch giả đã đoán định. Bia đã được khắc lại một hoặc hai lần(1).

2- Về tiêu đề tấm bia

Tiêu đề bia gồm 14 chữ thảo, tương truyền là thủ bút của Lý Nhân Tông. Trong đó có hai chữ mà bản sao bi văn ghi là 当 家 = đương gia, bản Đọi Sơn tự bi ghi là 李 朝 = Lý triều, dịch giả khi tiến hành khảo đính văn bản ghi là 当 家 = Đương gia(2).

3- Về niên đại đoạn văn mang niên hiệu vua Lý Nhân Tông.

Mặt sau tấm bia có khắc một đoạn văn ghi việc bà Linh Nhân cúng ruộng vào chùa, bên cạnh có dòng ghi niên đại Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121). Theo dịch giả “có một chi tiết khúc mắc, đó là việc bà Y La chết trước khi khởi công xây dựng chùa Long Đọi. Như vậy số ruộng nói trên, bà Ya Lan đã cúng vào từ khi Lý Nhân Tông dự định xây dựng chùa chăng?(3)/

Để đi sâu tìm hiểu những điểm tồn nghi nêu trên, từ năm 1996, trong công trình Tổng tập văn khắc, chương trình hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm với trường Viễn đông Bác Cổ Pháp, và Trường Đại học Trung Chính của Đài Loan, tôi được phân công biên tập văn bản của tấm bia nay. Trước khi đi vào thực hiện những thao tác kỹ thuật, chúng tôi xác định cần phải tiến hành khảo sát tấm bia trên thực địa và lấy thác bản của tấm bia đó làm nền(4). Để tiến hành khảo cứu. Kết quả khảo cứu cho thấy:

a- Tình trạng văn bản.

Tấm bia mang niên đại Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121) hiện dựng tại chùa Long Đọi trên đỉnh núi Long Đọi, thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam có kích cở cao 2,40m x 2,24m. Bia khắc chữ 2 mặt. Mặt trước phần trán bia có 14 chữ thảo được đóng khung trong hình chữ nhật; hai bên cạnh có hình lưỡng long chầu vào, đó là tiêu đề của bia. Diềm bia được trang trí giải hoa văn. Bài văn khắc trên bia gồm 55 dòng, các chữ phần trên bia quá mờ. Các chữ phần cuối bia bị che lấp bởi đế bia được gia cố. Dựa vào số chữ của những dòng còn đọc được gần đầy đủ, đối chiếu với bản đã công bố trong Thơ văn Lý Trần thì toàn bộ bài văn chừng 4200 chữ. Ngoài những chữ viết giản thể, chúng ta còn thấy nhiều chữ trên thác bản viết khác với chữ trong văn bản Thơ văn Lý Trần, ví dụ:

 

STT

Chữ trong

Thơ văn Lý Trần

Chữ khắc

Số

Chữ trong

Thơ văn Lý Trần

Chữ khắc

 

chữ

Trang

Dòng

Trên bia

TT

chữ

Trang

Dòng

Trên bia

1

389

27

11

392

4

2

-

32

 

12

-

2

3

-

32

13

-

3

 

4

-

32

貽 

14

-

22

5

390

14

鈞 

15

-

26

6

-

21

16

-

26

7

-

26

17

-

30

8

391

12

18

花 宇

393

14

華 字

9

-

14

19

-

25

10

-

2

 

 

 

 

 

Dựa vào kết quả khảo sát trên bia chúng tôi nhận thấy:

1. Khoảng phần chữ mờ là do bào mòn của tự nhiên.

2. Các dòng chữ còn đọc được có sự bố trí cần đối, chữ khắc đều đặn theo cùng một kiểu chữ chân phương.

3. Mặt bia không thấy có về đục, mài như một số bia khắc lại mà chúng tôi đã gặp(5).

Từ những cứ liệu nêu trên cho phép khẳng định những dòng chữ khắc trên mặt trước tấm bia, vẫn là những dòng chữ được khắc từ thời Lý, niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121). Bài văn kia không có dấu vết khắc lại.

b- Về tiêu đề trên trán bia.

Trên trán bia có 14 chữ thảo. Các chữ đọc được là 大 越 國 X X 第 四 帝 崇 善 延 齡 塔 碑 = Đại Việt quốc x x đệ tứ đế Sùng Thiện diên linh tháp bi. Sau các chữ Đại Việt quốc có hai chữ. Hai chữ này bản Bi văn VHv.1167 đọc là đương gia = 當 家, còn bản Long Đọi tự bi A.854 đọc là Lý triều. Lý giải cách đọc hai chữ này có thể đi khảo cứu theo 2 hướng: một là cần tìm hiểu người sống đời Lý gọi triều đại mình là 當 家 = đương gia hay 李 朝 = Lý triều, hay một cách xưng hô nào khác. Hai là người đời sau triều Lý gọi nhà Lý theo cách xưng hô nào.

Đi sâu khảo cứu hướng thứ nhất, gần đây, chúng tôi được một nhà sư trụ trì tại chùa Phật Linh thuộc thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm Hà Nội nhờ in dập một dòng chữ nổi trên một viên gạch. Theo nhà sư viên gạch này nằm trong số những hiện vật cổ đào được khi làm móng nhà trong khuôn viên chùa cũ(6). Viên gạch cỡ 37cm x 22,5cm, dày 7cm. Các dòng chữ nằm trong một ô khổ 12cm x 5,5cm, chia làm 2 dòng. Dòng thứ nhất gồm các chữ 李 家 第 三 章 = Lý gia đệ tam đế chương 3 chữ 第 三 帝  =  đệ tam đế rất mờ, chữ chương chỉ nhận diện được bộ lập (立). Dòng thứ 2 là các chữ 聖 嘉 慶 七 年 造 = Thánh Gia Khánh thất niên tạo, dòng chữ này không được rõ nét so với dòng đầu. Các chữ này đều viết chân phương. Rõ nét nhất là hai chữ Lý gia (李 家).

Chúng ta biết rằng Chương Thánh Gia Khánh là niên hiệu của Lý Thánh Tông, ông vua thứ ba thời Lý, bắt đầu từ năm 1059 đến năm 1065. Căn cứ vào dòng chữ nổi trên một viên gạch đã được xác định của thời Lý có dòng chữ 李 家 第 三 帝  điều này cho phép chúng ta có thể liên hệ với dòng tiêu đề của tấm bia đời Lý dựng trên núi Long Đội có các chữ 第 四 帝 = đệ tứ đế.

Chúng ta có thể nhận thấy:

- Viên gạch ghi: 李 家 第 三 帝... Lý gia đệ tam đế.

- Tiêu đề bia ghi x x 第 四 帝  = x x đệ tứ đế

Từ cách thức ghi chép theo một công thức này cho phép chúng tôi suy luận chữ đứng trước cụm từ 第 四 帝 = đệ tứ đế là hai chữ 李 家 = Lý gia. Và tiêu đề đầy đủ của tấm bia là 大 越 國 李 家 第 四 帝 崇 善 延 齡 塔 碑.

c- Về niên đại đoạn văn mang niên hiệu vua Lý Nhân Tông.

Mặt sau tấm bia có khắc chữ. Căn cứ vào tự dạng chúng tôi nhận thấy mặt sau tấm bia có 7 đoạn văn như sau, kể từ phải qua trái.

Đoạn 1: Văn ước của các bậc quan viên xã thôn trưởng của ba giáp thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, phủ Lý Nhân. Đoạn văn này có 11 dòng, mỗi dòng 284 chữ. Bài văn được khắc vào ngày 7 tháng 10 năm Chính Hòa 19 (1689).

Đoạn 2: Bài thơ của Lê Thánh Tông, khổ chữ lớn được khắc vào năm Quang Thuận 8 (1467).

Đoạn 3: ghi số ruộng công đức vào chùa của ông Lãng phó chức Cai đội doanh quân Hòa Hậu, tước Gia Mưu hầu, người xã Đổng Lâm, huyện Gia Định, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc. Căn cứ vào cụm từ chỉ địa danh “đạo Kinh Bắc”, có thể đoán định đoạn văn này được khắc thời Lê.

Đoạn 4: ghi việc bà Thái hậu Linh Nhân cúng ruộng vào chùa. Đoạn văn mang dòng chữ “Thiên Phù Duệ Vũ nhị niên”.

Đoạn 5: Đoạn văn ghi việc dựng lại bia, mang niên hiệu Hưng Trị 5 (1591) đời Mạc.

Đoạn 6: ghi việc ông bà Lê Sỹ thôn Giáp Nhị cúng năm sào ruộng vào chùa.

Đoạn 7: Đoạn văn khắc phía dưới bài thơ của Lê Thánh Tông, kéo đến phía dưới bài văn mang niên đại nhà Mạc gồm 41 dòng, mỗi dòng ghi họ tên người công đức tiền, ruộng vào chùa. Đoạn văn này không ghi niên đại.

Trong số 7 đoạn văn nêu trê, chúng tôi đi sâu khảo cứu đoạn văn thứ 4. Đây là điểm tồn nghi như đã trình bày ở trên.

Đoạn văn này gồm 3 dòng cộng 111 chữ nằm ở khoảng giữa hàng chữ 光 順 八 年 và 殿 將 軍 臣 黎 文 奉 寫. Nguyên văn đầy đủ đoạn văn này như sau:

西(7)(8)(9)啟 乞 奉 得 寬 赦(10) 粗 稅

Phiên âm: Hoàng Việt Lý triều đệ tứ đế Hoàng tỷ Phù Thánh linh nhân Thái hậu cúng điền tại Thượng Hoòng phủ Cẩm Giang huyện Cẩm Trục Thu Lãng nhị xã Mãn Để xứ nhất khu tương liên thất thập nhị mẫu. Đông cận Đường Tẩy, tây cận Đường Bạn, nam cận dân điền, bắc cận Phiên Côn dĩ di hương đăng vĩnh vi vạn đại. Hoặc bản xã lục đình, thập phương đẳng nhược hậu nhật hà nhân thủ tam bảo điền dĩ vi sinh lệ bản tự chí tư sự, nguyện Hoàng Thiên thập bát long thần chu chi diệt chi kỳ giá điền cúng tam bảo điền dĩ hữu khải khất phụng đắc khoan sá tô thuế.

Thiên Phù Duệ Vũ nhị niên Tân Sửu thất nguyệt sơ lục nhật.

Dịch nghĩa:

Bà Thái hậu Phù Thánh linh nhân, mẹ của vua thứ 4 triều Lý nước Hoàng Việt cúng ruộng một khu liền khoảnh 72 mẫu ở xứ Mạn Để, đông giáp Đường Tẩy, tây giáp Đường Bạn, nam giáp ruộng dân, bắc giáp Phiên Côn thuộc hai xã Thu Lãng Cẩm Trục, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng dể làm [ruộng] đèn nhang, lưu mãi cho muôn đời. Hoặc giả trong làng xã thập phương nếu sau này người nào chiếm ruộng tam bảo để sinh sống kể cả bản tự chỉ dùng vào việc riêng thì xin hoàng thiên, Thập bát long thần chu diệt. Còn số ruộng cúng vào tam bảo này đã dâng tờ Khải xin được khoang sá tô thuế.

Ngày 6 tháng 7 năm Tân Sửu niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121)(11).

Chúng ta có thể nhận thấy:

1. Đoạn văn này nhắc đến tên thụy của bà Ỷ Lan Hoàng Thái hậu. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép:

Đinh Dậu thứ 7 (1117) mùa thu tháng 7 ngày 25 Ỷ Lan Hoàng Thái hậu băng, hỏa táng, bắt 3 người thị nữ chôn theo, dâng thụy là Phù Thánh Linh nhân Hoàng thái hâu(12). Như vậy việc ghi số ruộng của bà cúng vào chùa sau khi bà đã mất. Nhưng việc ghi đó vào khi nào? Nếu căn cứ vào dòng ghi niên đại của đoạn văn, thì việc cúng ruộng vào chùa của bà Phù Thánh linh nhân vào năm Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121) tức là năm tháp Sùng Thiện Diên Linh xây dựng xong là hợp lôgic. Nhưng thông qua đoạn văn này chúng tôi nhận thấy:

1- Như phần tiêu đề của tấm bia, chúng tôi đã trình bầy, có thể người đương thời gọi triều đại mình là 李 家 = Lý gia, chứ không phải là Lý triều. Từ Lý triều là do người chép sử đời sau ghi về triều Lý. Đoạn văn có từ Lý triều (李 朝) chứng tỏ đoạn văn có thể không được khắc vào năm Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121).

2. Về cụm từ chỉ địa danh “Thượng Hồng Phủ”.

Chúng ta biết rằng Lý Công Uẩn lên ngôi vua, đã chia cả nước ta làm 24 lộ. “Lộ” là đơn vị hành chính. Sách toàn thư và sách cương mục chỉ chép có mười hai lộ, đó là: Thiên Trường lộ, Quốc Oai lộ, Long Hưng lộ, Kiến Xương lộ, Khoái lộ, Hoàng Giang lộ, Hải Đông lộ, Bắc Giang lộ, Trường Yên lộ, Hồng lộ, Thanh Hóa lộ, Diễn Châu lộ. Xét quan chế đời Lý có chức Tư phủ, Phán phủ cai trị một phủ. Sách Lãnh Ngoại đại đáp của Chân Khứ Phi đời Tống thì Giao Chỉ có 4 phủ, 13 châu, 3 trại. Bốn phủ đó là phủ Đô Hộ, phủ Đại Thông, phủ Thanh Hoa, phủ Phú Lương. Theo Mat-pê-rô trong bài nghiên cứu về địa lý lịch sử thời Lý-Trần-Hồ cho rằng phải có thêm phủ Bắc Giang tức là 5 phủ(13). Từ đây có thể nhận thấy thời Lý không có phủ Thượng Hồng. Đời Trần, sử cũ chép nhà Trần vẫn giữ đơn vị hành chính “lộ” của đời Lý và đến năm Quang Thái 10 (1397) Lê Quí Ly làm phụ chính thái sư, sửa đổi chế độ hành chính đổi lộ, làm trấn. Sách Cương mục (chính biên quyển 21) khi chép về trấn Hải Dương đã chú rằng đời Trần [Trấn Hải Dương] là các lộ Hồng Châu Thượng, Hồng Châu Hạ, Nam Sách Thượng, Nam Sách hạ, năm Quang Thái 10 (1397) đổi làm trấn Hải Đông(14). Căn cứ vào sử cũ thì thời Trần cũng không có phủ Thượng Hồng.

Đời Lê, sau khi Lê Lợi đánh đuổi quân Minh thống nhất đất nước đã chia cả nước ra làm 5 đạo, chia các lộ, trấn, phủ châu huyện thuộc vào các đạo, đến năm Quang Thuận 7 (1486), Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo, Thừa tuyên(15). Đến đây chúng ta thấy đạo Hải Dương có 3 phủ, trong đó có phủ Thượng Hồng, huyện Cẩm Giang do phủ Thượng Hồng thống chạt(15).

Từ hai cứ liệu đã trình bầy, chúng tôi đoán định rằng, đoạn văn thứ 4 khắc phía sau tấm bia có mang dòng chữ Thiên Phù Duệ Vũ 2 chỉ có thể được khắc vào năm Quang Thuận 7 (1466) hoặc các năm sau đó mà thôi.

Chú thích:

1. Thơ văn Lý Trần. Nxb.KHXH, H.tr.411

2. Sđd, tr.388

3. Sđd, tr.491

4. Thác bản văn bia do Nguyễn Hữu Mùi, Nguyễn Thị Trang và Phạm Thị Thoa cán bộ của Viện Hán Nôm in dập.

5. Xem: Tấm bia Hậu Phật bi ký được khắc lại mang niên hiệu đại Chính Hòa (1680) hiện dựng tại chùa xã Nam Tiến, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

6. Theo giáo sư sử học Trần Quốc Vượng, những hiện vật này đang được trưng bày tại bảo tàng cổ vật thành phố Hồ Chí Minh.

7. Bản TVLT ghi 貳

8. Bản TVLT ghi 有

9. Bản TVLT không ghi 3

10. Bản TVLT ghi 免

11. Chúng tôi sử dụng bản dịch của cố giáo sư Đỗ Văn Hỷ in trong Thơ văn Lý Trần. Nxb. KHXH, H.1977, tr.491 có sửa đôi chỗ cho phù hợp văn khắc trên bia (P.V.T)

12. Xem Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb, KHXH. H.1972, tr.218

13. Đào Duy Anh - Đất nước Việt Nam qua các đời. Nxb. KHXH, H. 1964, tr.90-91.

14. Đào Duy Anh, Sđd, tr.140

15. Đào Duy Anh, Sđd, tr.131.

16. Đào Duy Anh, Sđd, tr.140

Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.589-598)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm