61. Bài phú Cổ kim danh thắng của Vũ Duy Thanh (TBHNH 1997)
BÀI PHÚ CỔ KIM DANH THẮNG CỦA VŨ DUY THANH
CHƯƠNG THÂU
Viện Sử học
Tiểu dẫn: Vũ Duy Thanh (1807-1858), tự Trung Phủ, hiệu Mai Khê, người làng Vân Bồng, huyện Gia Khánh tỉnh Ninh Bình. Ông thông minh, học giỏi. Năm 1842 đỗ Tú tài, khoa sau đỗ Giải nguyên; năm 1851, đỗ Phó bảng. Cũng năm đó, dự thi Chế khoa Hoành tài, vua Tự Đức chấm thi, lấy ông đỗ đầu. Sắc tứ “Bác học hoành tài, Đệ nhất giáp Cát sĩ cập đệ, đệ nhị danh”. Trên cờ biển vinh qui, có chữ của vua ngự bút “Chế khoa Bảng nhãn thị Trạng nguyên” (đỗ Bảng nhãn Chế khoa là Trạng nguyên). Do đó, mọi người gọi Vũ Duy Thanh là “cụ Bảng Bồng”. Cụ làm quan đến chức Tế tửu Quốc tử giám (như Hiệu trưởng Đại học Quốc gia ngày nay).
Cụ có lòng yêu nước thương dân sâu sắc. Gặp thời buổi binh thuyền của các nước tư bản phương Tây thường ra vào tìm cách gây hấn, tuy là một vị quan văn. Cụ hằng lo lắng tìm phương dẹp nội loạn, chống ngoại xâm, bàn nhiều kế sách với triều đình. Đặc biệt cụ đã sáng chế ra tàu thủy gọi là “Thủy xa mộc thành” giúp cho hải quân và cụ cũng đề nghị khai thác mỏ than đá ở Quảng Yên… Cụ cũng là người có tài về sáng tác văn thơ.
Khi phụng mệnh đi khảo sát hình thế kinh đô cũ của nhà Đinh là Hoa Lư, rồi làm bản tường trình, thay vì thảo văn xuôi, cụ lại lộng bút dâng trình một bản văn vần. Đó tức là bài phú Cổ kinh danh thắng lấy vần “Kể trong chính thống từ đây là đầu”. Toàn văn như sau:
Tượng đá ai xây: - Bức tranh trời vẽ.
Nét mực cố đô; - Dấu xe thịnh đế.
Có thành quách, có lâu dài;
- Có đăng uy, có đường bệ.
Sử hãy còn truyền; - Bia không xiết kể.
Nước cũ đang hồi mở vận, dựng nền độc lập cơ đồ;
Uy thiêng nay đã về thần, còn tưởng thái bình nghi vệ.
Đang khi: Cương kỷ rối bong; Giặc dấy như ong.
Kẻ giữ miền Bắc; - Người chiếm phương Đông.
Đất cõi tan tành, sứ tướng cắt chia từng mảnh;
- Lầm than tủi nhục, dân ta kết oán ở trong.
Vua Đinh thuở ấy là đấng anh hùng; - Mấy người tướng tá đều bậc tinh trung.
Cùng mưu hợp sức; - Nhân thế lập công.
Chiến trường muôn trận xông pha, trong hoàn vũ dẹp yên gió bụi;
- Cơ nghiệp năm năm cả định, hội minh lương được thấy mây rồng.
Chịu trời quyến mệnh; - Đường đường chính chính.
Mở mặt sơn hà; - Vào tay quyền bính.
Trời Nam riêng một triều đình; - Đất Việt không hai hiệu lệnh.
Phúc nước có người trị nước, buổi kinh luân hết thảy đều trông;
- Số kia đáng vị làm vua, nơi căn bản vậy nên trước định.
Định đô Tràng An; - Mở nền chính thống.
Một là tiện thế tôn nghiêm; - Hai là tiện đường triều cống.
Núi Mã nghìn trùng xanh ngắt, thành đắp đã cao;
- Sông Long một giải trong veo, hào đào cũng rộng.
Nào phủ tía, nào lầu son; - Nào đài lâu, nào gác phụng.
Nào trường tía trăm quan đô hội, ngựa ngựa xe xe;
- Dưới cờ đào muôn đạo nghĩa binh, chiêng chiêng trống trống.
Xét trong địa dư; - Đang buổi bây giờ;
Bên tây núi ngăn như mác; Bên đông bể lặng như tờ.
Nam giáp Châu Hoan Châu Ái; - Bắc giáp nước Sở nước Từ.
Cùng dòng chính sóc; - Cùng mối xa thư.
Ngẫm câu Nam đế Nam cư, khác hẳn những hồi thảo muội;
- Xem tượng Bắc thần Bắc cực, còn đâu bằng xứ Hoa Lư.
Phong cảnh tốt thay! - Đệ nhất là đây.
Phong Châu khôn sánh; - Phong Khê nào tày.
Xem như địa lý họa đồ thày tàu vẽ kiểu;
- Rõ được thiên nhiên hình thế thợ tạo khéo bày.
Tiếc cho một bức dư đồ âu vàng khôn mẻ;
- Những tưởng muôn năm cơ nghiệp bàn đá khôn lay.
Từ khi: Đỉnh hồ khuất; Ngân hải bóng lòa.
Sao dời vật đổi; - Gió táp mưa sa.
Thu giang rồng vắng đã lâu, nước xuôi cuồn cuộn;
- Hoa biểu hạc về những muộn, trăng xế tà tà.
Bàn cờ triều thị; - Giấc mộng quan hà.
Hồn quyên khắc khoải; - Tiếng dế thiết tha.
Xanh um hòa thử một màu, miếu Chu trước coi hình cũng vậy.
- Xơ xác tùng thu mấy khóm, lăng Đường xưa âu khác chi là.
Khách ở đời sau; - Viếng cảnh Thần chaâ.
Sẵn sách đèn ư một túi; Thi phong nguyệt ư lưng bầu.
Phú nên mấy vận, Thơ vịnh vài câu;
Đã trải bao nhiêu cuộc bể dâu,
Khiến nay còn nhớ chuyện cờ lau,
Một vùng sao rạng thanh gươm báu,
Năm sắc mây phong bộ áo chầu.
Công cả lưu truyền trong tám cõi,
Khí thiêng phảng phất dưới nghìn thâu.
Tràng An nước cũ hương nghi ngút,
Sùng bái ai ai cũng khấu đầu.
(Chương Thâu sưu tầm và giới thiệu)
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.599-602)