VI | EN
61. “VIỄN HẢI QUY HỒNG” của Nguyễn Thượng Hiền vừa mới được phát hiện (TBHNH 2000)
TBHNH2000

“VIỄN HẢI QUY HỒNG” CỦA NGUYỄN THƯỢNG HIỀN
VỪA MỚI ĐƯỢC PHÁT HIỆN

CHƯƠNG THÂU

Viện Sử học

Sở dĩ gọi là tập sách, bởi vì từ trước đến nay, theo truyền ngôn, chúng ta mới biết Viễn hải quy hồng chỉ như là một bài thơ mà thôi. Bản văn bài thơ này, lần đầu tiên được đăng trên tạp chí Văn học số tháng 11-1963 là một bản sưu tầm ghi theo trí nhớ của một vị nhân sĩ lão thành, từng tham gia phong trào Đông du (1904-1909), nhưng vẫn thiếu nhiều câu và sai một số chữ. Từ đó, trong các tập Hợp tuyển thơ văn yêu nước, Tuyển tập, Tổng tập văn học… đều có in lại, nhưng không có gì thêm bớt cả.

Vừa qua, nhân dịp qua Pháp nghiên cứu một số vấn đề về lịch sử Việt Nam và sưu tầm thêm tư liệu về Phan Bội Châu, chúng tôi may mắn đã tìm thấy tập sách Viễn hải quy hồng do nhà sách Quan Căn Thạch, Tôkyô - Nhật Bản xuất bản năm 1908.

Tập sách vẫn còn nguyên Vẹn, có in rõ tên sách trên bìa đỏ, được lưu giữ trong cặp hồ sơ của Phủ Toàn quyền Đông Dương, chứa trong hộp carton ký hiệu S.P.C.E/351 của Trung tâm lưu giữ Hải ngoại (C.A.O.M) Aix-en-Provence. Sách dày 40 trang khổ 12 x 18cm. Ở bìa 4 có ghi rõ mấy dòng viết chữ viết tay: Sách của Nguyễn Thượng Hiền (Bắc Kỳ) viết và xuất bản; xếp vào Hồ sơ chung “Các nhà cách mạng Việt Nam và Phan Bội Châu”. Còn có thêm 2 dòng Phụ chú: Tài liệu này do Lãnh sự quán Pháp ở Hồng Kông giao nộp ngày 20-3-1913.

Tập sách Viễn hải quy hồng in bằng 3 thứ chữ Hán, Nôm và Quốc ngữ, gồm 3 bài:

- Bài thứ nhất: Xuất dương di đồng bào thư (nguyên văn chữ Hán 5 trang, diễn âm chữ Nôm 5 trang, chữ Quốc ngữ 9 trang viết tay với đầu đề Bài thơ đưa đồng bào, cũng chính là bài thơ. Viễn hải quy hồng (Chim Hồng từ biển xa về) đã được công bố (không đầy đủ) trước đây).

Bài thứ hai: Đông học thư thân ca (Toàn văn bằng chữ Nôm dài 10 trang).

Bài thứ ba: Bạt của Phan Bội Châu (chữ Hán, dài 8 trang).

Ở bài thứ nhất, nguyên văn tựa đề Xuất dương di đồng bào thư lẽ ra phải chuyển nghĩa theo tiếng Việt hiện đại là Thư gửi đồng bào trên đường xuất dương, thì tác giả lại diễn âm (chữ Nôm và chữ Quốc ngữ) là: Bài thơ đưa đồng bào để ghi nhớ và thấu tỏ nỗi lòng “vì nước, vì dân” của chính tác giả: Kể từ năm Ất Dậu (1885), chứng kiến cảnh “Kinh đô thất thủ”, đất nước bị giặc Pháp giày xéo, tác giả vô cùng phẫn uất, muốn ra tay hành động, quyết sống mái với quân thù. Nhưng vì chưa tập hợp được những người đồng tâm đồng chí và vì còn phải lo trọn đạo thần hôn đối với cha già còn tại thế, nên đánh nán chờ. Tác giả đã từng uất nghẹn kêu khóc một mình, khóc đến mức:

… dạt dào chan chứa

Khóc thảm thương vì sự dân mình.

Vì ai khốn khổ lênh đênh

Dù kêu ai có thương tình cho đâu!

Từ tiếng khóc uât hận đó, tác giả đã tìm được tìm thêm những người bạn đồng hành, đồng tâm đồng chí, nhằm kể với nhau, rằng:

… Nông nỗi kia càng nói càng đau,

Ai ơi! Y khí tương cầu

Nghe ra có nghĩ cho nhau chăng là…

Và đến nay, việc nhà đã thu xếp xong, đã có thể cùng nghĩa dân nghĩa sĩ mọi nơi để cùng lo toan đại sự cứu nước. Thế thì ta phải cùng nhau gắng sức. Tác giả kết luận:

Việc ta lo tính đã hay,

Cơ trời hẳn cũng đổi xây khó gì.

Mây mù ấy, quét đi chẳng để

Bóng tam quang rạng vẻ lưng trời

Mai sau hẳn được như lời

Non sông rửa thẹn, muôn đời tiếng thơm.

Ở bài thứ hai: toàn Nôm, nhan đề Đông học thư thân ca tức là Bài ca của học sinh Đông du, dài tới 168 câu, viết theo thể song thất lục bát. Bài này vốn là Nguyễn Thượng Hiền soạn ra để đọc trong buổi tiệc Hội Đông Á đồng văn và Lưu học sinh Việt Nam, tổ chức để “chào đón Nguyễn Thượng Hiền” tại trường Đồng Văn Thư viện ở Tôkyo ngày tháng 9-1908.

Trong Lời Bạt viết cho tập sách Viễn hải quy hồng khi xuất bản, Phan Bội Châu đã tóm tắt nội dung bài ca này, dịch như sau:

“Đại ý bài ca nói đến thảm cảnh mất nước, nêu lên nguyên nhân phấn chí xuất dương của đồng bào. Đoạn giữa nói đến việc học cần phải siêng năng, đức dục cần phải xem trọng, tình đoàn kết cần phải kiên định, đặc biệt nhấn mạnh đến việc cần phải chuộng công đứcgạt bỏ mọi tư kiến, lấy nghĩa ái quốc ái quân làm đầu. Và cuối cùng khuyên mọi người hãy lấy trung hiếu làm tôn chỉ duy nhất, hẹn ước với nhau ngày phục quốc sẽ đến. Ý nghĩa tinh tế của bài diễn từ thật đầy đủ. Đó là mưu kế cho lưu học sinh nước ta, là mưu kế cho người nước ta, là mưu kế cho non sông Tổ quốc ta ngàn vạn năm sau. Tất cả là ở đây! Tất cả là ở đây!”.

Nhờ có mưu kế đó mà đất nước ta sẽ là:

Bốn nghìn dặm sông vàng núi ngọc,

Cõi trường xuân mưa móc thuận hòa,

Cuộc đời sẽ hết phong ba

Dân an nước thịnh ai là không vui

Cơ hội ấy nhờ trời có chức

Xin đồng bào gắng sức làm ra

Để cho trăm họ âu ca

Xướng câu vạn tuế nước ta khải hoàn.

Việc phát hiện được tập sách Viễn hải quy hồng, trong đó chứa đựng những áng thơ văn nặng tình non nước nghĩa đồng bào của một nhà khoa bảng lớn, từng tham gia tích cực công cuộc vận động cứu nước của Duy tân hội và Việt Nam quang phục hội, chúng ta xúc động vì tấm lòng của tác giả. Đọc kỹ Viễn hải quy hồng, ta càng thấy rõ hơn ở đây, một nhà nho uyên bác, giỏi thơ văn chữ Hán, nhưng cũng rất điêu luyện trong thể thơ ca Quốc âm. Nguyễn Thượng Hiền đã có những tác phẩm thơ văn chữ Hán nổi tiếng như Nam chi tập, Danh nhân thi đề, Hát Đông thư dị, Tang hải lệ đàm… nhưng cũng lại có những tác phẩm thơ ca quốc âm như Hợp quần doanh sinh thuyết, Phú cải lương rất có giá trị. Nay, chúng ta lại có thêm tập Viễn hải quy hồng (Tác phẩm song ngữ Hán và Nôm) của ông nữa. Nó sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn thơ yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, cũng làm phong phú thêm “Kho tàng di sản Hán Nôm của Việt Nam” nữa. Hơn thế, nó cũng sẽ giúp cho giới học thuật thêm một văn liệu chính gốc để góp phần nghiên cứu đánh giá đúng đắn “Con người và thơ văn” của nhà yêu nước khả kính Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925).

Bài thơ đưa đồng bào

Tôi từ thuở Hàm Nghi Ất Dậu

Trong tháng năm thất thủ kinh thành

Non sông nổi trận bất bình

Những toan lựa nghĩa quyên sinh cho rồi

Khéo lơ lửng còn ngồi lại đó

Vì việc nhà trên có lão thân

Dễ niềm ái quốc chung quân

Lục nga trước phải đền ơn cho trọn

Nay đã vẹn thần hồn hai chữ

Bước chảng vu ai dư được mình

Tấc son thệ với trên xanh

Ra tay cứu vớt sinh linh phen này

Gò bánh lái đề mây cỡi gió

Cánh bướm vương thẳng chỗ bể khói

Quan sơn cách mấy dặm dài

Chúa thân còn gởi phương trời xa xa…

Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.473-483

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm