VI | EN
67. Bản kê khai phong tục làng Mậu Lương viết bằng chữ Nôm. (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

BẢNG KÊ KHAI PHONG TỤC LÀNG MẬU LƯƠNG
VIẾT BẰNG CHỮ NÔM

NGUYỄN THỊ TRANG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Làng Mậu Lương có tên Nôm là làng Mầu thuộc xã Trung Thanh Oai tổng Thượng Thanh Oai huyện Thanh Oai trấn Sơn Nam, nay thuộc phường Kiến Hưng quận Hà Đông thành phố Hà Nội. Làng nằm sát bên bờ sông Nhuệ, đất đai phì nhiêu mầu mỡ. Cư dân lâu đời ở đây chuyên canh tác nông nghiệp trồng cấy lúa nước và hoa mầu, xóm làng trù phú, nền nếp thuần hậu. Phong tục tập quán của làng được xây dựng từ rất sớm, hiện ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ một bản Hương ước làng Mẫu Lương viết bằng chữ Hán lập năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) gồm 15 điều. Ngoài ra ở Thư viện Viện Thông tin Khoa học Xã hội còn lưu giữ một bản Phong tục làng Mẫu Lương viết bằng chữ Nôm lập năm Duy Tân thứ 9 (1915) gồm 23 điều.

Nội dung bản phong tục nói về việc thờ phụng thần linh và các quy định sống của cộng đồng cư dân trong làng. Có rất nhiều điều khoản quy định chặt chẽ về cách ứng xử với nhau, về sự quan tâm đùm bọc lẫn nhau. Tuy là viết bằng chữ Nôm, song bản phong tục làng Mẫu Lương đã cách chúng ta hàng thế kỷ rồi, do vậy trong văn bản còn ghi lại nhiều từ cổ, nhiều nếp sống của người xưa như có trở sự, nghĩ phạt, lúa sương, tàu tát nước, ngòi lúa... Nhận thấy đây là một tư liệu quý giúp chúng ta tìm hiểu về phong tục của người xưa ở ngay trong vùng đất nội thành Hà Nội ngày nay. Chúng tôi phiên âm giới thiệu một phần trong bản phong tục ấy.

Điều thứ 1: Bầu cử hội đồng.

Trong làng xin đặt một chiếu hội đồng để bàn định việc công dân. Mỗi họ phải chọn một người cẩn thận, tử tế, bầu làm Tộc biểu. Trong hội ấy lại đặt lên một người làm Chánh hội trưởng, một người làm Phó hội trưởng để coi xét cả các việc hội đồng. Người ấy phải thuần cẩn, mẫn cán và học thức huynh trưởng(1) mới được làm. Một người biết chữ bầu làm Thư ký, một người vật lực (có 3 mẫu ruộng trở lên) mà cẩn thận bầu làm Thủ quỹ, hai người khoẻ mạnh mà tinh hanh bầu làm Lục lộ. Những người ấy mấy Tiên Thứ chỉ, Lý dịch gọi là Toà hội đồng, chuyên quản cố những khi việc quan, mấy việc cai trị trong làng.

Người Thư ký giữ sổ sách công dân, đồng niên dân cấp 3 đồng bạc mấy 3 đồng bút chỉ. Một bản sổ thu bạc, một bản sổ phát bạc, khi thu phát phải ghi vào sổ cho minh bạch, đến khi Hội đồng chiếu tính không hợp thì phạt 5 hào sung công.

Người Thủ quỹ giữ tiền bạc công dân, đồng niên cấp cho 6 đồng bạc. Khi dân có tiền thu vào hay là có việc phát ra thì phải biên nhận rành mạch, hễ đem tư tiêu, bất thì Hội đồng kiểm tra thiếu bao nhiêu phải đền đủ số mà phạt mỗi đồng bạc thiếu 1 hào sung công. Người ấy ba lần phải phạt thì tước vị thứ ấy đi bầu người khác. Những khi dân có tiền thu vào hay có việc tiêu đi thì Thủ quỹ phải biên nhận, Thư ký phải vào sổ mấy Chánh Phó hội, Lý trưởng cùng đều ký kết biên nhận mới được.

Người Lục lộ coi xét các đường xá, đồng niên dân cấp mỗi người 2 đồng bạc. Đường trong làng chỗ nào huỷ liệt(2), bảo sở tại phải sửa sang (ô uế cũng thế). Đường ngoài đồng chỗ nào xẻ róc, bảo Tuần phiên phải bồi bổ. Đã bảo rồi mà không tuân, Lục lộ phải báo Hội đồng thì phạt 2 hào sung công, mà bắt chỉnh trị ngay. Người Lục lộ không siêng năng để huỷ liệt mà không biết cũng phạt Lục lộ 2 hào sung công.

Đường quan lộ mấy đường khuyến nông mỗi năm các giáp tận suất(3) phải bồi đắp lại (Lão đại(4) đương chức được trừ). Hễ đắp đường khuyến nông, đinh(5) đi đắp 3 công điền phải chịu mỗi mẫu 1 hào để phụ cho đinh. Đắp trên thì ruộng trên phải chịu, đắp dưới thì ruộng dưới phải chịu, các đường ấy cấm không ai được cuốc, xẻ, Lục lộ bắt được thì phạt 2 hào sung công, mà bắt đắp lại ngay. Nếu ai làm tàu(6) tát nước, tát xong rồi phải đắp lại ngay, không thì phạt 2 hào sung công.

Mỗi tháng hai kỳ sóc vọng những người có chân Hội đồng phải ra đình sở có việc gì bàn định cho thoả đáng rồi mới thi hành. Lý trưởng đem sổ sinh tử, giá thú mà biên vào cho dân. Ai có những việc ấy đến kỳ không ra khai thì phạt 3 hào sung công.

Khi có việc quan phải đi, Tiên thứ chỉ, Hội đồng phải đi, dân chi mỗi người mỗi ngày 2 hào 5 xu. Mỗi kỳ Hội đồng dân chi 3 hào phù trà(7). Ai có trở sự(8) hay là đi vắng thì phải cáo thiếu, nếu ở nhà mà không ra Hội đồng thì phạt 2 hào sung công. Ai ba kỳ thiếu liền thì trình quan tước ngôi Hội đồng ấy đi. Khi bất thì(9) có việc quan hệ mà người Chánh Phó hội hoặc Lý trưởng cho báo, Hội đồng cứ nghe ba hồi trống phải ra cả công sở bàn định. Nếu ai thiếu thì cũng thế.

Tộc biểu lệ ba năm một lần bầu lại, ai mẫn cán, không can phạt gì mà họ đều bằng lòng thì lại bầu. Ai nhũng lạm mà hay phải phạt thì tước ngay đi không cứ lệ ấy.

Điều thứ 2: Bầu Chánh Phó Lý trưởng, Khán thủ.

Những người ấy khi có khuyết thấy giấy bầu(10) thì Hội đồng cho thông báo cả dân ra đình sửa soạn lấy một người mẫn cán, vật lực, thức tự(11) để dự bầu. Hễ hai, ba người cùng muốn làm thì Hội đồng phải so xem ai hơn thì được, ai kém thì thôi. Nếu cùng như nhau thì bắt phải gắp phiếu, ai được phiếu thì khi công cử chỉ bầu một người ấy thôi, không được tranh nhau. Ai không gắp được phiếu mà viện đảng(12)cố tranh, phạt người ấy 2 đồng bạc, mấy trong đảng ấy mỗi người 2 hào sung công mà không cho người ấy dự bàn việc dân nữa. Bầu xong rồi Lý trưởng phải nạp lệ dân 30 đồng bạc, Phó lý 20 đồng bạc. Còn như cỗ bàn, rượu chè nên chước(13). Khán thủ 5 đồng bạc. Lý trưởng giữ việc binh lương các hạng.

Kỳ sưu thuế Lý trưởng lãnh bài chỉ rồi cho thông báo, Hội đồng định ngày bổ sưu thuế, cho mõ rao, thượng hạ đều hội tại đình đem bài chỉ chiếu tính thuế đinh, quân bổ nội ngoại đinh, thuế điền phân hạng, bổ thượng hạ đẳng điền. Mấy dân có chi tiêu việc gì phải biên vào sổ bổ cho minh bạch rồi trình quan phê chiếu.

Đồng niên dân cấp lương cho Lý trưởng 40 đồng bạc, còn như các tiết lễ quan mấy các việc bất thì, nhu phí ứng tạm thì dân bù trả, không được nhũng lạm gì nữa.

Ai làm mười năm không can Tây, Nam án toà(14) mấy việc cách bãi(15) gì, dân thưởng cho một tên nhiêu(16), tịnh trừ(17) tạp dịch. Hễ người nào từ việc phải đem sổ điền thuế ra đình chiếu tính mấy dân cho đủ số rồi giao cho người Lý trưởng mới. Nếu thiếu bao nhiêu phải đền trả dân bấy nhiêu. Phó lý, Khán thủ giữ việc canh phòng, những việc quan bất thời như lấy rơm, lấy tre, cùng là đê điều các hạng, cũng được ăn một phần lúa sương(18). Với tuần mà bất cẩn việc gì cũng phải đền, với tuần hễ trì trệ nhũng lạm thì Hội đồng trình quan nghiêm trị.

Điều thứ 3: Tuần tráng canh phòng.

Tuần tráng cắt những người ba mươi tuổi trở về trừ những người chức sắc kỳ cựu, thí trúng(19) khảo trúng thông ký(20), còn những người đi học, làm việc quan, nghề nghiệp buôn bán, đi vắng luôn và người đau ốm thì phải nộp lệ dân 2 đồng bạc, mỗi lượt 10 người, cứ luân lưu mỗi người một năm theo mấy Lý dịch (Lý phó mỗi người một tên phòng để tùy phái canh phòng cũng được hưởng một phần lợi mấy Tuần nếu không có thì thôi) nhật dạ canh phòng cho cẩn mật, từ trong làng cho đến ngoài đồng, không cứ lớn nhỏ, ai mất đâu phải đền đấy (Như mất trâu phải đến 6 đồng bạc, bò đền 3 đồng bạc, lúa mỗi sào 3 gánh bó, mười mầu(21) sào một đồng bạc, còn như các hạng tòng trung chiết bán(22). Hễ ai mất phải tường Lý dịch, Hội đồng đến khám có thực tang(23), nếu vu khống phạt 5 hào sung công.

Lệ cho Tuần lúa sương mỗi sào 5 ngòi(24)(phụ canh 7 ngòi), lúa nước vụ chiêm mỗi sào 3 ngòi, mầu mỗi sào 4 thú. Vụ trồng phải làm điếm giữa đồng coi giữ cho cẩn. Ai rỡ khoai, cắt bí các hạng mầu vật trước phải trình Tuần đưa tiền mấy được lấy, ai không trình phạt 1 hào. Cho Tuần đồng nước coi giữ cho cẩn mật, cánh nào(25) nên tháo phải tường Hội đồng biết. Đường khuyến nông phải cần bồi đắp những chỗ róc chảy, nếu để đồng điền cạn khô thì phạt Tuần 1 đồng bạc sung công (đại hạn thì thôi). Ngoài đồng, ruộng trên nước đầy phải tát xuống ruộng dưới trước, không được tháo. Ai mà tháo trộm nước hay là tát trộm Tuần bắt được phạt 3 hào sung công.

Ai thả trâu bò chăn ăn lúa má hoa mầu Tuần bắt được phạt 3 hào cho Tuần, ai mất bao nhiêu, người có trâu bò phải đền bấy nhiêu. Tuần không bắt được Tuần phải đền mà phạt Tuần 3 hào sung công.

Ai nuôi vịt cò phá hoại đồng điền, hai con trở lên thì cho Tuần đánh chết mà phạt người nuôi mỗi con 5 xu sung công. Trâu bò vịt cò của người làng khác thì phải bắt giữ rồi tường Hội đồng phân xử. Ai đi tuần mà gian tham, hễ bắt được phạt 1 đồng bạc sung công. Dẫn về Tuần tước ngôi trung đình hai năm, do vào sổ thuỷ thụ(26), dừng vọng lão một năm.

Điều thứ 4: Xử đoán thưa kiện.

Ai đánh nhau, chửi nhau hay là có sự bất bình mà đi thưa kiện phải đem hai chục khẩu lưu(27) tường Lý trưởng cho báo Hội đồng phân xử, bên nào trái thì Hội đồng nghĩ phạt(28), những hạng phạt ấy lệ từ 2 hào cho đến 1 đồng bạc. Nếu sự trái lắm người đàn anh thì lại tước ngôi mấy tháng người đàn em, lại đem phát lạc mấy tiên(29) mà trình quan nghiêm trị.

Ai đánh nhau mà đến trọng thương thì Hội đồng bắt người đánh giải trình phạt 1 đồng sung công.

Ai có việc thưa kiện, Hội đồng đã xử rồi không nghe, lại đi thưa chỗ khác cũng xử như thế, với người có việc không tường Hội đồng mà đi thưa chỗ khác ngay thì đều phạt 1 đồng bạc sung công, tước ngôi trung đình một năm, do vào sổ thuỷ thụ, dừng vọng lão một năm.

Người bất hiếu bất mục mà có cha chú chứng thực phạt 1 đồng bạc sung công mà trình quan nghiêm trị…

Người nào ở chốn công sở say rượu, chửi càn, nói láo thì phạt 3 hào sung công. Người có chân Hội đồng mà như thế phạt bội nhị (30), không nghe trình quan nghiêm trị.

Người nào đương đêm mà kêu gào nỏ bắt ra hỏi không phải việc quan hệ thì phạt 3 hào sung công( do ai thưa kiện thì bên nguyên biện dầu đèn, bên bị biện 2 hào cho Tuần mõ, có việc mà Hội đồng phải trình hay khai thì phí tổn hai bên phải chịu).

Điều thứ 5: Thế lính(31).

Khi có giấy lính Lý trưởng cho thông báo Hội đồng ra cả đình sở gọi ai có hai con trai thì cắt một người mạnh khoẻ đi tuyển, người có văn bằng thì chờ. Ai được tuyển rồi dân cấp cho ruộng 3 mẫu (Làng nhà 2 mẫu, phụ canh 1 mẫu). Ai tái đăng hay là ứng mộ mà ngạch lính đã đủ thì dân không cấp ruộng cho nữa. Ai không nghe đi kêu quan phí tổn đến dân, đồng dân thuận tình không ngồi với người ấy nữa, mà phí tổn bắt người họ ấy phải chịu.

Điều thứ 6: Cắt tráng.

Khi nhà nước có bắt tráng đào sông, hộ đê, mọi việc quan hệ thì Lý dịch cho Mõ rao tận suất phải đi mà Tộc biểu, Giáp trưởng phải hiệp với Lý dịch cùng phải đốc bắt cả, ai mà thiếu phạt 2 hào để thuê. Cón tráng bất thì như đi khiêng, đi tải, canh phòng quanh làng thì về phần tráng hạng, như canh điếm tổng thì cả Nhiêu xã phải đi, những người chức sắc kỳ cựu, thông ký, thí trúng, khảo trúng (xin nhiêu lệ nhà nước) được trừ. Mỗi đầu năm Lý dịch với Tộc biểu kê giấy cắt lượt. Ai đến lượt không đi thì phạt 2 hào để thuê, những hạng phạt ấy ai không chịu thì do vào sổ thuỷ thụ, dừng vọng lão một năm mà trình quan nghiêm trị.

Điều thứ 7: Tu bổ công sở.

Các chỗ công sở khi nào đổ nát phải tu bổ lại thì Hội đồng phải họp lại đấu giá hoặc sẵn tiền công quỹ hoặc trình quan bán nhiêu(32). Phải cắt người xem xét, mua bán cho cẩn thận, ai tham lam bao nhiêu dân trích ra phải đền bấy nhiêu, phạt 1 đồng bạc sung công. Tự hậu(34) có việc gì không được xem sóc nữa.

Điều thứ 8: Sửa sang các luỹ.

Trong làng luỹ sông cho đến luỹ đồng, về địa phận nào phải trồng tre cho cẩn đáo, nếu bỏ tồi tàn người Lục lộ bảo đến hai lần mà không tuân,thì dân bắt Tuần tráng sửa sang để lấy làm luỹ công dân, hễ không chịu thì trình quan nghiêm trị.

Điều thứ 9: Cứu giúp hoạn nạn.

Khi trong làng bất hạnh có thuỷ tai hoả hoạn thì thượng thông hạ đạt(34), phải đi ứng cứu tất cả. Khi đêm trộm cướp hễ nghe thấy có tiếng kêu và Lý dịch, Tuần tráng động hiệu thì phải đi ứng cứu tất cả. Bắt được một đứa ăn trộm (như trộm trâu bò, đào nghạch, cắt vách hay là những người làng khác mới được) thì thưởng 2 đồng bạc. Bắt được sống hay là đánh chết được một đứa kẻ cướp thì thưởng 20 đồng bạc, hoặc có đánh nhau mấy cướp mà thương đến chết cũng được thưởng như thế, lại cho một tên nhiêu nam nữa. Người chết không có con thì cho người thừa tự.

Điều thứ 10: Nghiêm cấm phạm pháp.

Trong làng ai nấu rượu lậu, buôn bán thuốc phiện lậu cùng là các việc phạm quốc luật thì Hội đồng phải bắt giải trình, tước ngôi trung đình hai năm. Trong làng ai đi ăn trộm từ buồng cau, nải chuối, con cá, lá rau, lúa má, mầu vật các thứ thì phạt 2 hào sung công. Ai đẵn bẻ cây cối, cắt trộm tre măng các lũy công tư, bắt được phạt 3 hào sung công. Mỗi lần phạt do vẫn vai(35) vào sổ thuỷ thụ, hễ ba lần phải phạt thì tước ngôi các món đi. Còn như đào ngạch, cắt vách ăn trộm trâu bò, các việc quan hệ bắt được lập tức giải trình mà tước ngôi các món đi.

Gái hoang dâm, trai bợm nữ, hễ bắt được thực tang thì phạt 1 đồng bạc mà sai Tuần dắt đi các điếm xỉ nhục cho xấu hổ.

Ai có khách lạ phải trình Lý trưởng, đi vắng thì trình Phó lý, Trương tuần cũng được. Không trình phạt 2 hào sung công.

 

Chú thích:

(1)Học thức huynh trưởng: trình độ học vấn bậc đàn anh.

(2)Huỷ liệt: sụt lở hư hỏng.

(3)Các giáp tận suất: toàn bộ suất đinh trong các giáp.

(4)Lão đại: người già cả.

(5)Đinh: Đinh tráng, suất đinh.

(6)Tàu tát nước: trước đây khi tát nước từ thấp lên cao phải khơi sâu một hố cho nước dồn vào, rồi mới dùng gầu để tát. Chỗ khơi sâu đó gọi là tàu.

(7)Phù trà: trầu cau, nước chè.

(8)Có trở sự: có việc hiếu phải để tang.

(9)Bất thì: không định kỳ, bất thường.

(10)Ý cả câu nói: khi trong Hội đồng có vị trí bỏ khuyết, lại có sức báo ở trên cho bầu bổ sung.

(11)Thức tự: biết chữ

(12)Viện đảng: bè phái tranh chấp.

(13)Chước: miễn cho.

(14)Không can Tây Nam án tòa: Không phải ra tòa xử tội ở tòa án của Tây và của nước Nam ta.

(15)Cách bãi: cách chức, bãi chức.

(16)Tên nhiêu: người được miễn trừ phu phen tạp dịch.

(17)17: Tịnh trừ: đều miễn trừ cả.

(18)Lúa sương: lúa nộp cho phiên tuần đi canh đồng trong đêm sương.

(19)Thí trúng: thi đỗ, ở đây nói về những người thi đỗ nhất trường hoặc nhị trường ở làng.

(20)Thông ký: chức danh phiên dịch thư ký.

(21)Mầu: ruộng trồng hoa mầu.

(22)Tuỳ trung chiết bán: giảm bớt một nửa trong tổng số.

(23)Thực tang: có tang vật cụ thể.

(24)Ngòi lúa: lượm lúa.

(25)Cánh nào: cánh ruộng nào.

(26)Thuỷ thụ: mới bắt đầu được nhận ngôi thứ.

(27)Khẩu lưu: miếng trầu.

(28)Nghĩ phạt: xử phạt.

(29)Phát lạc mấy tiên: đánh cho mấy roi.

(30)Phạt bội nhị: tăng phạt nhiều gấp đôi.

(31)Thế lính: đi lính thay.

(32)Bán Nhiêu: Nhiêu là danh hiệu ở làng xã, được miễn trừ một số khoản lao dịch công ích và đóng góp làng xã khi cần tiền chi việc công thì bán danh hiệu này. Người nào muốn được danh hiệu “Nhiêu” thì phải bỏ một khoản tiền ra mua

(33)Tự hậu: từ nay về sau.

(34)Thượng thông hạ đạt: ý nói các vị chức sắc thông báo việc gì thì toàn dân trong làng phải hưởng ứng.

(35)Vẫn vai: vẫn ghi vào sổ thuỷ thụ./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.929-938)

Nguyễn Thị Trang
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm