VI | EN
67. Nhà sử học Lê Tung và lạc khoản trong một số bản thần phả hiện có (TBHNH 1997)
TBHNH 1997

NHÀ SỬ HỌC LÊ TUNG VÀ LẠC KHOẢN TRONG

MỘT SỐ BẢN THẦN PHẢ HIỆN CÓ

NGUYỄN QUANG TRUNG

Viện Sử học

LÊ KIM THUYÊN

Sở Văn hóa TT Phú Thọ

Trong khi đi sưu tầm tư liệu lịch sử ở địa phương tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Tây chúng tôi đã phát hiện một số bản thần phả (còn gọi là thần tích, ngọc phả) của các đình, đền, miếu có mang tên hai nhà sử học của địa phương là Lê Tung và Nguyễn Bính. Trong phạm vi bài viết này, trên cơ sở những nguồn tài liệu trong chính sử và trong những dòng lạc khoản có ở một số bản thần phả, chúng tôi chỉ đặt vấn đề bước đầu tìm hiểu về sự nghiệp của nhà sử học Lê Tung và những đóng góp của ông cho nền Sử học.

Như chúng ta đã biết, văn bản sớm nhất có tên người soạn Lê Tung là tấm bia đền “Cao Sơn đại vương” với chức danh: Đông các đại học sĩ kiêm Quốc tử giám Tế tửu. Bia được tạo năm Hồng Thuận thứ 2 (năm 1510) mang tên: “Cao Sơn đại vương thần từ bi minh”. Nguyên nhân của việc dựng bia này là do: Vào đời Lê, nghĩa quân của Lê Lợi trên đường đi dẹp giặc trú tại khu rừng núi Phụng Hóa (tên huyện thuộc phủ Thiên Quang đời Lê. Nay có tên là Nho Quan thuộc phủ Thiên quan, thấy ngôi miếu lợp tranh, có bia đá đề Cao Sơn đại vương, vua tôi làm lễ cầu thần rất linh nghiệm đánh dấu thắng đấy. Sau này thần lại linh thiêng giúp Lê Tương Dực lên ngôi vua. Nhớ ơn thần, vua Tương Dực bèn sai sửa miếu cho khắc bia ghi lại công lao của thần, dựng ở huyện Phụng Hóa vào năm 1510. Đến đời Lê Trung Hưng vào đời vua Hoằng Định (1600-1619) tấm bia được chuyển về bến sông Bồ Đề huyện Gia Lâm, sau lại đặt lên chùa. Hiện bia dựng ở đền thờ Cao Sơn đại vương, một tứ trấn của Thăng Long Hà Nội (nằm trên địa phận của đền làng Kim Liên, thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội ngày nay).

Văn bản thứ hai có tên Lê Tung là bia Tiến sĩ ở Văn miếu Hà Nội, mang tên: “Hồng Thuận tam niên Tân Mùi khoa Tiến sĩ đề danh ký”. (Bài ký đề tên Tiến sĩ khoa Tân Mùi năm Hồng Thuận thứ 3 (năm 1511) do Lê Tung, đang chức quan Thiếu bảo tước Đông Thư bá soạn. Nay là bia mang số 11 ở vườn bia Văn miếu Hà Nội. Bia được dựng ngày 15-3 năm Hồng Thuận thứ 5 (1513)(1).

Văn bản thứ ba là Việt giám thông khảo tổng luận được in trong phần mở đầu của bộ Đại Việt sử ký toàn thư với dòng lạc khoản: “Mùa thu tháng 8 năm Giáp Tuất niên hiệu Hồng Thuận thứ 6 (1514), người bề tôi là Tiến sĩ khoa Giáp Thìn, Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Thiếu bảo, Thượng thư bộ Lễ, Đông các Đại học sĩ kiêm chức tước Đôn Thư bá, trụ quốc là Lê Tung kính cẩn vâng theo sắc chỉ soạn”(2).

Cũng theo nội dung của Toàn thư, phần Bản kỷ - kỷ nhà Lê quyển 14 và 15, ta được biết tường tận về hành trạng của Lê Tung như sau:

Sau khi thi đỗ, ông làm quan Đô cấp sự trung Lại khoa (hàm chánh thất phẩm theo quan chế đời Hồng Đức ban hành năm 1471). Tháng 11 năm Đoan Khánh thứ nhất (năm 1505) đời vua Lê Uy Mục, ông được lấy làm quan ở Thừa tuyên xứ Thanh Hoa (nay là Thanh Hóa). Tháng 11 năm Đoan Khánh thứ 3 (năm 1507) được cử đi sứ nhà Minh. Tháng 11 năm Đoanh Khánh thứ 5 (1509), ông theo Giản Tu Công Oánh khỏi binh ở Tây Đô, rồi tiến ra Thăng Long. Đến tháng 12 khi Giảm Tu Công lên ngôi hoàng đế, ông cùng một số văn thần được sai làm biểu trần tình với nhà Minh.

Tháng giêng năm Hồng Thuận thứ 2 (1510) bàn luận công trạng những người ứng nghĩa, ông được phong làm Thượng thư bộ Lại (hàm Tòng nhị phẩm), tước Đông Thư bá, đổi gọi là Lê Tung.

Tháng 3 năm Hồng Thuận năm 1512 ông lại được gia phong làm Thiếu bảo (hàm Chánh nhị phẩm). Thượng thư bộ lễ. Tháng 4 năm Giáp Tuất niên hiệu Hồng Thuận thứ 6 (1514), trong kỳ thi Điện ông đượccử cùng một số văn thần trông coi việc thi. Tháng 9 năm ấy, ông được vua Lê Tương Dực sai soạn bài “Đại Việt thông giám tổng luận” như đã nhắc đến ở phần trên.

Năm 1779 Lê Cảnh Hưng thứ 40, trong khi biên soạn sách Đỉnh khế Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, nhóm tác giả Nguyễn Hoãn đã tóm lược và bổ sung sự trạng về ông với nguyên tên là Dương Bang Bản ở khoa Giáp Thìn (1484) như sau: ông người xã Yên Cừ, huyện Thanh Liêm, thi đỗ 33 tuổi(7), vâng mệnh đi sứ làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, Thiếu bảo, Đông các đại học sĩ kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tri Kinh diên sự, tước Đôn Thư bá, được ban họ nhà vua (Lê), đổi tên là Tung, viết “Việt giám thông sử tổng luận”(3).

Tóm lại chúng ta thấy Lê Tung chính tên là Dương Bang Bản, Tiến sĩ khoa Giáo Thìn đời vua Lê Thánh Tông (1484) người xã Yên Cừ, huyện Thanh Liêm (nay thuộc xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam là một nhà hoạt động chính trị ngoại giao và là một nhà sử học nổi tiếng ở cuối thế kỷ thứ XV đầu thế kỷ thứ XVI(4).

Tuy nhiên điều cần nghiên cứu xem xét ở đây là trong một số bản thần phả hiện còn ở lại trong địa bàn một số nơi thuộc tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang… ký tên người biên soạn bản chính là Lê Tung. Cụ thể như sau:

1- Ngọc phả đền Đông Lai, xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, với dòng Lạc Khoản: Hồng Đức nguyên niên mạnh xâm cát nhật Lễ bộ Thượng thư, Đông các Đại học sĩ, thần Lê Tung phụng soạn chính bản. Hoàng Triều Vĩnh Hựu lục niên, trọng thu cát nhật, Nội các bộ Lại tái tuân cựu chính bản, phụng tả. (Ngày tốt lánh tháng giêng năm Hồng Đức thứ nhất – 1470 - người bề tôi là Lê Tung, Thượng thư bộ lễ, Đông các Đại học sĩ vâng mệnh soạn bản chính. Ngày tốt lành tháng 8 năm Vĩnh Hựu thứ 6 Hoàng Triều (1741) Nội các bộ Lại vâng mệnh viết lại theo bản chính).

2- Ngọc phả đền Thượng xã Sơn Đông thờ Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn. Có phần lạc khoản: Hồng Đức nguyên niên mạnh xuân cát nhật (1470) Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần Lê Tung phụng soạn chính bản. Hoàng triều Vĩnh Hựu lục niên, trọng thu cát nhật (1740) Nội các bộ Laịi tái tuân cựu chính bản, phụng tả.

Như vậy là khoảng cách thời gian từ bản chính đến bản viết lại là 270 năm.

3- Ngọc phả Đỗ Khắc Chung thôn Quan Tử, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch. Có phần Lạc khoản ghi: Hồng Phúc nguyên niên mạnh xuân cát nhật (1572) Hàn lâm Lễ viện Đông các đại học sĩ, thần Lê Tung phụng soạn chính bản. Hoàng triều Vĩnh Hựu lục niên (1740) Nội các bộ Lại tái tuân cựu chính bản, phụng tả.

4- Ngọc phả xã Phúc Lâm, huyện Tế Giang, tỉnh Bắc Giang, lạc khoản ghi: Hàn lâm lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần Lê Tung phụng soạn, chính bản.

Do đó một vấn đề đặt ra là nhà Lê cả hai thời kỳ Lê sơ và Lê Trung Hưng niên hiệu của ba đời vua có chữ “Hồng” là:

- Hồng Đức – Lê Thánh Tông (1470-1497)

- Hồng Thuận – Lê Tương Dực (1509-1516)

- Hồng Phúc – Lê Anh Tông (1572-1573)

Do vậy về niên đại cả ba bản ngọc phả kể trên đều có sự mâu thuẫn. Với Hồng Đức nguyên niên (năm 1470). Năm này chưa có ông Lê Tung đỗ Tiến sĩ. Với Hồng Phúc nguyên niên năm 1572 năm đầu của niên hiệu thứ ba của đời vua Lê Anh Tông Duy Bang tức là sau khi ông Lê Tung đỗ Tiến sĩ tới 88 năm cũng là điều cần phải xem xét.

Các văn bản ngọc phả này đều là bản sao của người đời sau sao lại vì những lý do khác nhau đã làm sai lạc.

Có thể lấy một số ví dụ:

Năm Tự Đức thứ nhất (1848) nhân dân thôn Chàng Nam, xã Lâm Thượng(5) đã về nhà họ Tô ở xã Bằng Đắng, huyện Bạch Hạc sao lại sự tích Thành hoàng làng đem về thờ ở đình(6).

- Năm Tự Đức thứ 3 (1850) dân xã Bồng Lai, huyện Hoài Đức tỉnh Hà Đông cũng đã đến xã Bằng Đắng, huyện Bạch Hạc sao lại sự tích thành hoàng làng đem về thờ, đến năm sau thì cho dựng bia.

Bia Đại Lộc, xã Thành Hoàng “Hiền tích bia ký” còn cho biết việc nhân dân địa phương đến nhà họ Tô ở xã Bằng Đắng, huyện Bạch Hạc sao lại thần tích. Vì vào niên hiệu Vĩnh Hựu nhà Lê (1735-1740), dân vùng Sơn Tây tìm thấy một chiếc hòm bằng đồng trong đó có đựng thần tích tại nhà quan Quản giám bách thần vốn là người địa phương(7). “Tam sao thất bản”, lời của người xưa thật không sai.

Chúng tôi cho rằng về sự nghiệp của nhà Sử học Lê Tung và những đóng góp của ông cho nền sử học của đất nước thì đã khá rõ ràng, còn việc ông có là một nhà soạn giả đích thực của nhiều bản thần tích thần phả ở các địa phương hay không? Và mối quan hệ của ông với soạn giả Nguyễn Bính sau này như thế nào, với soạn giả Nguyễn Hiền như thế nào thì chắc chắn còn phải có thời gian tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu và hội thảo khoa học chúng ta mới có thể làm rõ được. Trước mắt một vấn đề đặt ra là việc giám định những văn bản thần tích qua các dòng lạc khoản cũng là một vấn đề nghiêm túc khoa học, vừa có ý nghĩa về phương pháp luận, vừa cần thiết cho việc bảo đảm tính khách quan khoa học và chân thực của sử học, trong việc biên soạn lịch sử dân tộc, trong việc lập hồ sơ khoa học xếp các di tích lịch sử của ngành văn hóa.

Chú thích:

1. Xem thêm bia số 1369 kho bia Viện Hán Nôm Hà Nội

2. Đại Việt sử ký toàn thư tập I, Nxb KHXH, 1967, t.10

3. Xem sách VHv.650-1 quyển 1 - tờ 30a Viện Hán Nôm, Hà Nội.

4. Xem thêm Ngọc phả đền Thượng Lâm huyện Chương Đức tỉnh Hà Tây. Sách VHv.42. Viện Hán Nôm, Hà Nội.

5. Nay là xã Trương Vương thành phố Việt Trì.

6. Xem thêm bia kho AJ.11-1 Viện Hán Nôm Hà Nội.

7. Xem thêm bia Đại Lộc xã Thành Hoàng “Hiền tích bia ký” số 20, 579-80 Viện Hán Nôm Hà Nội.

Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.664-670)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm