68. Bước đầu hiểu về 10 bài thơ vịnh Phán thủy của tiên sinh họ Phạm
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ
10 BÀI THƠ VỊNH PHÁN THỦY CỦA
TIÊN SINH HỌ PHẠM
PHẠM VĂN THẮM
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Tại hồ Văn ở phía trước Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội có một tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 18 (1865). Bài văn khắc trên bia do Tiến sĩ Lê Hữu Thanh giữ chức Bố chính sứ Hà Nội soạn có đoạn:
文廟 之 前 有 大 湖,湖 之 中 有 金 州。 景 治 年 間, 參 從 范 先 生 嘗 作 泮 水 十 詠 以 誌 其 景。 歲 久 , 泥 沙 渟 積,湖心 日 就 淺 窄。 嗣 德 癸 亥 秋,余 與 臬 臺 鄧 良甫 起 進 士 提 名 碑 亭, 既 乃 治 湖, 窄 者 廣 之, 淺 者 深 之, 委 翳 除 清,明 出 湖 山,面 目 為 之 改 觀。 乙 丑 之 秋,鄧 使 君 又 出 家 資建 瓦 亭 於 州 上。 亭 成 命 曰 文 湖 亭,追 刻 泮 水 十 詠, 屬 余 記 之...
Phiên âm:
Văn miếu chi tiền hữu đại hồ, hồ chi trung hữu Kim Châu. Cảnh Trị niên gian, Tham tụng Phạm tiên sinh thường tác Phán Thuỷ thập vịnh dĩ chí kỳ cảnh. Tuế cửu, nê sa đình tích, hồ tâm nhật tựu thiển trá. Tự Đức Quí Hợi thu, dư dữ Niết đài Đặng lương phủ khởi tiến sĩ đề danh bi đình, ký nãi trị hồ, trá giả quảng chi, thiển giả thâm chi, ủy ế trừ thanh, minh xuất hồ sơn, diện mục vi chi cải quan. Ất Sửu chi thu, Đặng sứ quân hựu xuất gia tư, kiến ngõa đình ư châu thượng. Đình thành, mệnh viết Văn hồ đình, truy khắc Phán Thủy thập vịnh, chúc dư ký chi...
Dich nghĩa:
Phía trước Văn miếu có một hồ lớn, giữa hồ có [đảo] Kim Châu. Khoảng năm Cảnh Trị, Tham tụng Phạm tiên sinh đã sáng tác 10 bài thơ về Phán Thủy để ghi lại phong cảnh này. Năm tháng qua đi, bùn cát ứ đọng, lòng hồ ngày càng cạn hẹp. Mùa thu năm Quý Hợi niên hiệu Tự Đức (1863), ta cùng với quan Án sát họ Đặng khởi công xây dựng nhà che bia đề danh tiến sĩ, rồi sửa sang lại hồ, chỗ hẹp thì mở rộng ra, chỗ nông thì đào sâu thêm, dọn dẹp cỏ rác, [mặt hồ] lộ ra một hòn đảo, cảnh quang của hồ vì thế được thay đổi. Mùa thu năm Ất Sửu, Sứ quân họ Đặng lại bỏ tiền riêng xây dựng một ngôi đình lợp ngói trên đảo. Đình xây xong đặt tên là đình Hồ Văn, truy khắc 10 bài thơ về Phán Thủy, dặn ta ghi lại.
Đoạn văn nêu trên có nhiều thông tin quý giá, trong đó tác giả cho biết vào năm Cảnh Trị (1663-1672) Tham tụng họ Phạm đã sáng tác 10 bài thơ vịnh cảnh Phán Thủy.
Tham tụng họ Phạm tức Phạm Công Trứ, người Liêu Xuyên huyện Đường Hào, Hải Dương, thi đỗ Tiến sỹ khoa Mậu Thìn niên hiệu Lê Vĩnh Tộ thứ 10 ( 1628).
Theo sử sách ghi chép, thời Tiền Lê không đặt chức Tham tụng, từ thời Trung hưng về sau mới đặt chức ấy để giúp việc nước. Năm Cảnh Trị đời vua Lê Huyền tông, chúa Trịnh Tạc mở phủ đã tiến phong Phạm Công Trứ đang giữ chức Thượng thư Bộ Lễ và Thượng thư Bộ Lại làm Tham tụng(1), ông cần kiêm Đông các Đại học sĩ, nắm giữ công việc của 6 bộ, được phong Thiếu bảo, Quốc lão, tước Yến quận công, thọ 71 tuổi, khi mất được tặng Thái tể.
Sử sách cũng ghi chép quan Tham tụng họ Phạm rất quan tâm đến nền văn hóa nước nhà. Năm 1662 thời Lê Trung hưng, Tham tụng Phạm Công Trứ đó đứng ra trông coi việc tu sửa Văn miếu và làm 10 bài thơ vịnh Phán Thủy. Phán Thủy là tên gọi chung của trường học thời xưa.
Qua tìm hiểu, chúng tôi đã may mắn thấy 10 bài thơ này được sao chép trong sách NhịHoàng di ái lục, ký hiệu A.1382. Mở đầu là bài vịnh cây quế:
劲节雄资访雪霜,
四寺不改些清光,
亭亭玉树千般绿,
簇簇金花十里香。
高对王孙三品异,
荣联窦老五枝芳,
欲知仙友清奇处,
自有骚人为发扬。
Phiên âm:
Kính tiết hùng tư phỏng tuyết sương,
Tứ thời(2) bất cải thử thanh quang,
Đình đình ngọc thụ thiên bàn lục,
Thốc thốc kim hoa thập lý hương.
Cao thụ Vương Tôn tam phẩm dị,
Vinh liên Đậu lão ngũ chi phương,
Dục tri tiên hữu thanh kỳ xứ,
Tự hữu tao nhân vị phát dương.
Dịch nghĩa:
Tiết tháo kiên trinh trước gió sương,
Bốn mùa không đổi vẻ thanh quang,
Cây cổ xum xuê một mầu biếc,
Hoa thơm từng dẫy nở ngát hương,
Cao quí khác xa Vương tam phẩm(3),
Vinh hoa họ Đậu quế năm cành(4),
Muốn biết bạn tiên nơi thanh tú,
Chỉ có tự mình với nhà thơ.
Hoặc như bài vịnh cây cam đường.
木德原从天笃生,
森然数柿占春荣 .
枝枝挺秀清光玉,
盖盖高标绿蘸琼 .
麦憩召曾施美政,
睹思诗独记香名 .
这才不减豫樟大,
施用同为国干桢。
Phiên âm:
Mộc đức nguyên tòng thiên đốc sinh,
Sâm nhiên sổ thị chiếm xuân vinh,
Chi chi đĩnh tú thanh quang ngọc,
Cái cái cao tiêu lục tiều quỳnh,
Mạch Khệ triệu tăng thi mĩ chí,
Đổ tư thi độc ký hương danh,
Gia tài bất giảm dự chương đại,
Thi dụng đồng vi quốc can trinh.
Dịch nghĩa:
Cây đức nguyên từ trời phú ban,
Sum xuê muôn khóm sắc xuân xanh,
Cành lá vươn cao đượm ánh nắng,
Phủ che rợp bóng sắc mầu quỳnh.
Thiệu [Bá] đã từng làm việc tốt,
Đổ Tư thơ chỉ nói sự hay.
Điều này không giảm công to lớn,
Cầm quyền đồng nghĩa trụ cột nhà.
Có thể nhận thấy tên của 10 bài thơ do quan Tham tụng Phạm Công Trứ sáng tác được đặt theo các loài cây như sau: 1- Quế; 2- Tùng; 3- Mai; 4- Trúc; 5- Hòe; 6- Cam đường; 7- Thạch lựu; 8- Liễu; 9- Mẫu đơn; 10- Bách.
Trong văn học cổ, tên mỗi loài cây thường được mang các nét nghĩa biểu trưng vềphẩm chất và khí tiết của người quân tửnhư cây quế, cây hòe biểu trưng cho sự quý phái và danh dự; cây tùng, cây bách biểu thị khí tiết cứng rắn, sức sống mãnh liệt; cây trúc là biểu trưng cho khí tiết và đức hạnh trong sạch của người quân tử. Cây cam đường là biểu thị sự kỳ vọng về người làm quan phảicó phẩm hạnhthanh liêm và hết lòng vì dân.
Quan Tham tụng Phạm tiên sinh lấy tên 10 loài cây để đặt tên cho các bài thơ vịnh cảnh không chỉ là để miêu tả các loài cây mà chính là nhưngười xưa đã nhận xétlà muốn tìm về ngọn nguồn của Nho học, chắt lọc lấy điều tinh túy để giữ gìn và duy trì giáo lý của đương thời vậy(5).
Chú thích:
(1) Xem Việt sử cương mục tiết yếu. Nxb. KHXH, H. 2000, tr.470.
2) Nguyên vănviết thiếu nét. Đây là một cách viết kiêng tên húy nhà vua.
3- Tức Vương Hộ: người đời Tống làm quan, văn chương nổi tiếng một thời. Ông tự tay trồng 3 cây hòe ở sân nhà, và nói con cháu ta làm quan đến chức tam công, ba cây hòe này nêu chí của ta. Về sau con thứ của ông là Vương Đán làm quan đến Tể tướng, thiên hạ gọi là Tam hoè vương thị.
4- Tức Đậu Vũ quân: người đời Tống có danh vọng lớn, làm quan đến chức Tả gián nghị đại phu, gia pháp nhà ông một thời làm mẫu mực cho thiên hạ. Ông thích sưu tập sách vở cổ, hậu đãi người hiền sĩ, lại có 5 con trai kế tiếp nhau thi đỗ, làm quan to.
5- Xem Nhị Hoàng di ái lục. A.1382./.
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.680-685)