69. Về một sưu tập văn thơ Hán Nôm của Đông Kinh nghĩa thục
VỀ MỘT SƯU TẬP VĂN THƠ HÁN NÔM CỦA
ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC
CHƯƠNG THÂU
Viện Sử học
Trường Nghĩa Thục đứng đầu dạy dỗ,
Khắp ba mươi sáu phố Hà thành.
Gái trai nô nức học hành,
Giáo sư tám lớp, học sinh non ngàn
Đông Kinh nghĩa thục xuất hiện ở Hà Nội từ tháng 3-1907 đến tháng 12-1907 dưới hình thức một trường học hợp pháp và mở rộng hoạt động ra các tỉnh xung quanh với trên các lĩnh vực: văn hóa, xã hội, kinh tế… như một phong trào cải cách tư tưởng- văn hóa khá rầm rộ ở nước ta đầu thế kỉ XX.
Tuy chỉ tồn tại được 9 tháng, Đông Kinh nghĩa thục đã xốc lên một phong trào yêu nước mạnh mẽ ở Bắc Kì mà trung tâm là Hà Nội. Do đó, Đông Kinh nghĩa thục cũng đi vào lịch sử dân tộc với tư cách là một trong những phong trào dân tộc - dân chủ đầu tiên của thời đại mới, hướng tới việc giải phóng dân tộc, trước hết bằng những hoạt động có tính chất cải cách dân chủ, đổi mới tư tưởng kết hợp với những biện pháp thực hiện cụ thể về giáo dục, xã hội, kinh tế,…
Hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục cũng gắn liền với xu hướng bạo động của Phan Bội Châu và xu hướng cải lương ôn hòa của Phan Châu Trinh thời bấy giờ.
Từ trước đến nay đã có khá nhiều người chú ý nghiên cứu về Đông Kinh nghĩa thục và phong trào Nghĩa Thục. Riêng cá nhân chúng tôi cũng đã viết một số bài về Đông Kinh nghĩa thục đăng trên các báo chí ở trong và ngoài nước. Năm 1982, nhân kỉ niệm 75 năm Đông Kinh nghĩa thục, chúng tôi đã cho xuất bản tập sách chuyên khảo, tựa đề là Đông Kinh nghĩa thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỉ XX. (Nxb. Hà Nội, 1982, 252 tr.) và tái bản có bổ sung năm 1997 (Nxb. Văn hóa - Thông tin , H. 1997, 530 tr.).
Ở đây, khỏi phải nhắc lại nội dung chi tiết của công trình nghiên cứu trên, mà với bài viết "thông báo" sơ lược này, chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của Đông Kinh nghĩa thục và giới thiệu với bạn đọc một danh mục tài liệu Hán Nôm gồm các sách giáo khoa và các thơ ca tuyên truyền do Đông Kinh nghĩa thục phổ biến, coi đây là một đóng góp nhỏ vào việc "Kỉ niệm 100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục" (1907-2007).
*
Từ sau khi phong trào Cần vương thất bại cho đến những năm đầu thế kỉ XX, nhìn chung, những hoạt động vũ trang chống Pháp tạm thời có lắng xuống. Một phong trào yêu nước chống Pháp với những biểu hiện về hình thức khác nhau được phát động rầm rộ và những năm đầu thế kỉ, phong trào Duy Tân ở Trung và Nam Kì 1903-1908; phong trào Duy Tân hội - Đông Du của Phan Bội Châu 1904-1909 và phong trào Đông Kinh nghĩa thục từ 1907-1913, nhưng về tính chất, về xu hướng tư tưởng gần như thống nhất với nhau: hướng theo hệ tư tưởng tư sản, làm cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước theo hướng tư bản chủ nghĩa. Trong giai đoạn lịch sử có "tính chất quá độ" này, các phong trào yêu nước tuy mang nhiều màu, nhiều vẻ khác nhau, nhưng đều thống nhất với nhau trong mục đích chung "giành độc lập dân tộc" và "hạnh phúc, tiến bộ" cho nhân dân, dù là xu hướng hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu hay cải cách ôn hòa của Phan Châu Trinh và cả Đông Kinh nghĩa thục nữa cũng không ra ngoài mục đích tối thượng đó.
Đông Kinh nghĩa thục với thời gian hoạt động tuy ngắn ngủi vẫn cho ta thấy tính chất phong phú, đa dạng của cuộc vận động chính trị của buổi giao thời, chuyển tiếp giữa hai phạm trù cách mạng cũ và mới. Tuy mang tính chất ấu trĩ, ngỡ ngàng trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, Đông Kinh nghĩa thục cũng đã chứa đựng nhưng sinh khí của thời đại mới. Những hoạt động mở đầu cho phong trào dân chủ tư sản của Đông Kinh nghĩa thục sau này sẽ được phát triển mạnh mẽ trong các cuộc vận động chính trị của thập kỉ tiếp theo. Những tư tưởng dân chủ tư sản này về sau đã được giai cấp tiểu tư sản cách mạng và giai cấp vô sản Việt Nam kế thừa, phê phán khi nó phải làm một nhiệm vụ lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền thay cho giai cấp tư sản dân tộc vốn rất yếu ớt và bất lực ở nước ta, và từng bước đưa cuộc cách mạng Việt Nam vào đúng quĩ đạo của cách mạng thế giới hiện đại.
Đông Kinh nghĩa thục đã cho ta thấy tác dụng của hệ tư tưởng tư sản, những tư tưởng tiến bộ đối với việc hình thành và phát triển của phong trào cách mạng đầu thế kỉ, đối với việc hướng dẫn phong trào cách mạng đấu tranh chống lại các thế lực phản động, lạc hậu ngăn cản sự phát triển của lịch sử. Những tư tưởng mới này tuy chưa phải là một hệ thống lí luận hoàn chỉnh, nó cũng đã đáp ứng được phần nào những nhu cầu của thời đại, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng bị áp bức bóc lột đang phải sống cuộc đời tối tăm dưới ách thống trị nặng nề của đế quốc và phong kiến.
Trong khi giương lên chiêu bài "khai hóa văn minh", thực dân Pháp cố tình áp dụng chính sách ngu dân, kìm hãm dân tộc ta trong vòng lạc hậu về kinh tế, chính trị, văn hóa…, thì Đông Kinh nghĩa thục đã thể hiện tinh thần ý chí tự lập, tự cường kiên quyết đứng lên chống lại mọi sự nô dịch của kẻ thù xâm lược, xây dựng một đất nước độc lập, giàu mạnh. Việc tấn công vào sự "ngu dốt", "yếu hèn" do chế độ thực dân phong kiến để lại, việc đả phá chế độ khoa cử từ chương, bài trừ hủ tục mê tín, đề cao chữ Quốc ngữ và lối học mới có tổ chức trường lớp, ban lãnh đạo, quản lí chu đáo… đã là những hành động tích cực, tiến bộ, huống nữa lại thông qua những hành động cụ thể, biến nó thành những phong trào đấu tranh của quần chúng như diễn thuyết, bình giảng thơ văn yêu nước, tổ chức ra các nhóm, các hội hoạt động công khai và bí mật ở nhiều địa phương… đều là những việc làm "cách mạng" hết sức mới mẻ mà ở các phong trào yêu nước trước đó chưa từng có.
Tuy chỉ tồn tại trên dưới 9 tháng, Đông Kinh nghĩa thục đã đi vào lịch sử như là một cuộc vận động chính trị, một quá trình chuẩn bị về tinh thần, về tư tưởng cho cuộc đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng dân tộc. Đông Kinh nghĩa thục là một trong những phong trào yêu nước đầu tiên của thời đại mới, nó đã chứng minh tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam ta.
Dù trong hoàn cảnh rất khó khăn, khi thực dân Pháp câu kết với giai cấp phong kiến, đặt nền thống trị tương đối vững chắc trên cả nước, khi giai cấp phong kiến đã phản động và đầu hàng giặc ngoại xâm, mà giai cấp tiên tiến lúc đó là giai cấp tư sản thì chưa hình thành, một bộ phận nho sĩ yêu nước đã phải đứng ra lãnh đạo Đông Kinh nghĩa thục giương cao ngọn cờ chủ nghĩa yêu nước, thức tỉnh nhân dân làm nhiệm vụ quang vinh của mình trước lịch sử. Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, các nhà lãnh đạo Đông Kinh nghĩa thục đã tiếp cận tư tưởng tư sản và đưa phong trào hướng theo tư tưởng dân tộc- dân chủ tư sản.
Về sau, cũng từ chủ nghĩa yêu nước, mà vào những năm 20 của thế kỉ XX này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến chủ nghĩa Mác - Lênin và đã lãnh đạo dân tộc ta theo đúng con đường của người, cũng là con đường của giai cấp vô sản Việt Nam, lãnh đạo toàn dân tộc làm nên những thắng lợi vẻ vang của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, của chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng tháng 5-1954 và của chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng ngày 30-4-1975, kết thúc hơn một thế kỉ đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất toàn vẹn đất nước Việt Nam. Trong mỗi thắng lợi của cách mạng đã giành được, chúng ta không bao giờ quên ghi công cho các nhà yêu nước tiền bối, cho phong trào Đông Kinh nghĩa thục, vì Đông Kinh nghĩa thục đã góp phần quan trọng xây dựng nên truyền thống yêu nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam, mà Thủ đô Hà Nội có vinh dự là trung tâm hoạt động sôi nổi nhất đã được lịch sử ghi nhận trên bảng vàng truyền thống.
*
Với ý nghĩa lịch sử và tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhằm phục dựng lại gương mặt đích thực rất đáng được tôn vinh của Đông Kinh nghĩa thục, từ nhiều năm nay, tiếp nối sự nghiệp nghiên cứu khoa học của các bậc đàn anh đi trước, chúng tôi đã chú ý sưu tập tối đa những tài liệu (những sản phẩm thành văn) của Đông Kinh nghĩa thục.
Số thơ văn này dưới thời Pháp thuộc bị coi là “yêu thư yêu ngôn”, là thứ “quốc cấm” không được phép lưu hành phổ biến, do đó đã bị mai một, quên lãng..., đến nay rất khó bề sưu tầm, tập hợp được đầy đủ.
Giáo sư Đặng Thai Mai đã từng nhận xét: “Những thi ca do Đông Kinh nghĩa thục phát động và phổ biến có một ý nghĩa rất quan trọng. Tuy vậy, sau khi nhà trường phải đóng cửa, các chủ não bị tù đày, thì toàn bộ văn thơ của Đông Kinh nghĩa thục đã bị tịch thu và cấm không được lưu hành tàng trữ. Trường Viễn đông Bác cổ của Pháp cũng không hề để ý bảo tàng thứ thơ văn đó. Cho nên ngày nay, các tập sách giáo khoa bằng chữ Hán của Đông Kinh nghĩa thục cũng chỉ còn được vài bốn bộ mà thôi.” (Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nxb. Văn hóa, H. 1961).
Đúng như vậy, trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu Đông Kinh nghĩa thục mấy chục năm qua, chúng tôi đã cố gắng nhưng cũng chỉ mới sưu tầm được thêm một số, xin lược kể như sau:
A. Sách chữ Hán: 9 cuốn, trong dó có 7 cuốn do chính Đông Kinh nghĩa thục biên soạn và ấn hành, có in biểu tượng “Em bé đội quả địa cầu” ở bìa sách:
1. Văn minh tân học sách, tác giả khuyết danh (in kèm theo hai bài Cáo hủ lậu văn và Thỉnh khán Cao Ly vong quốc thảm trạng). Hiện sách được lưu trữ ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ký hiệu sách A.567, 40 trang.
2. Quốc dân độc bản (Thượng biên và Hạ biên), gồm một bản chính và có mấy bản Tân đính. Sách dày 196 trang. Tác giả khuyết danh. Sách được khắc in nhiều lần, phát hành với số lượng rất lớn (lên tới hàng vạn bản), phổ biến tại Đông Kinh nghĩa thục và các Nghĩa thục ở địa phương. Văn bản gốc chữ Hán hiện được lưu giữ ở ba nơi:
- Trung tâm lưu trữ quốc gia I (Cục lưu trữ nhà nước), trong Hồ sơ số 56.247, phông Thống sứ Bắc Kỳ.
- Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ký hiệu sách: A.174.
- Trung tâm lưu trữ Hải ngoại (CAOM) ở Aix-en-Provence, trong hộp Hồ sơ SPCF/351.
3. Cải lương mông học quốc sử giáo khoa. Tác giả khuyết danh. Hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ký hiệu: A.169, 128 trang.
4. Nam quốc vĩ nhân truyện. Tác giả khuyết danh. Hiện lưu trữ tại hai nơi:
- Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ký hiệu sách: A.3207, 44 trang.
- Thư viện quốc gia Pháp. Ký hiệu BN.A22.
5. Nam quốc giai sự. Tác giả khuyết danh. Hiện lưu trữ tại hai nơi:
- Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ký hiệu sách: A.3207b, 32 trang.
- Thư viện quốc gia Pháp. Ký hiệu BN. A80.
6. Luân lý giáo khoa thư. (Có cả bản Tân đính Luân lý giáo khoa thư). Tác giả: Phạm Tư Trực. Hiện lưu trữ tại hai nơi:
- Bản gốc lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I (Cục lưu trữ nhà nước), trong Hồ sơ số 2529, phông Tòa Công sứ tỉnh Nam Định. 72 trang.
- Gia đình ông Phạm Tư Phóng ở Nguyên Xá, Vũ Thư, Thái Bình.
7. Nam quốc địa dư giáo khoa thư. (Có cả bản Tân đính Nam quốc địa dư giáo khoa thư ).
Tác giả: Lương Trúc Đàm.
Hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ký hiệu sách: A.75, 154 trang.
Trong số sách chữ Hán Nôm được lưu hành tại Đông Kinh nghĩa thục còn có 2 cuốn (ngoài luồng) được in phát hành tại đây nhưng không có biểu tượng “Em bé đội quả địa cầu” trên bìa sách:
8. Việt Nam vong quốc sử. Tác giả: Phan Bội Châu, nhưng mang bìa giả là Đại Nam văn minh khởi điểm sử. Nguyên văn dài 28 trang, bản in xuất bản ở Thượng Hải (Trung Quốc) năm 1905. Kèm theo một bản dịch tiếng Việt viết tay của dịch giả khuyết danh (đây là bản dịch của Việt Nam quốc sử sớm nhất ở Việt Nam ).
Sách hiện lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Hải ngoại (CAOM) ở Aix-en-Provence, trong hộp Hồ sơ SPCF/354.
9. Hải ngoại huyết thư. Tác giả: Phan Bội Châu. Viết năm 1906 tại Nhật Bản. Đông Kinh nghĩa thục ấn hành nguyên văn chữ Hán kèm theo bản dịch chữ Nôm của dịch giả Lê Đại theo thể thơ song thất lục bát và bản viết tay chữ quốc ngữ. Sách in bằng thạch trên giấy dó, đã rất cũ nát, chữ bị nhòe.
Sách hiện lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Hải ngoại (CAOM) ở Aix-en-Provence, trong hộp Hồ sơ SPCE/354 (bản do Đông Kinh nghĩa thục ấn hành năm 1907).
Một bản khác, tái bản Hải ngoại huyết thư (gồm 3 thứ chữ: Hán, Nôm, Quốc ngữ) lưu tại Tokyo (Nhật Bản ) năm 1909. Hiện lưu trữ tại Thư viện Ngoại vụ tỉnh (tức Bộ Ngoại giáo) Nhật Bản . Ký hiệu A. 670- 1.1.1.1.
B. Sách chữ Quốc ngữ: có 4 cuốn, trong đó có 1 cuốn (số 10) có biểu tượng của Đông Kinh nghĩa thục.
10. Tối tân Quốc văn tập đọc, Đông Kinh nghĩa thục biên soạn, dày 40 trang. Do nhà in Tân Tiến, 244 Hàng Bông, in bằng thạch, chữ Quốc ngữ viết tay. Gồm 19 bài thơ ca Đông Kinh nghĩa thục kèm theo “Sách học vần” và bản cửu chương. Hiện lưu trữ tại hai nơi:
- Bản gốc lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I (Cục lưu trữ nhà nước), trong Hồ sơ số 2705, phông Công sứ Hà Đông.
- Một bản gốc khác lưu trữ tại Thư viện Ngoại vụ tỉnh (tức Bộ Ngoại giao) Nhật Bản. Ký hiệu A.670- 1.1.1.1.
11. Đại Việt địa dư (ca lục bát)
Tác giả: Lương Văn Can, biên soạn trước năm 1907, nhưng đến năm 1925, nhà in Nghiêm Hàm mới chính thức xuất bản.
Sách hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia , ký hiệu P 28.298
12. Tỉnh quốc hồn ca (song thất lục bát)
Tác giả: Phan Châu Trinh. Sách được phổ biến ở Đông Kinh nghĩa thục và có in thành một tập sách nhỏ, bản gốc đã thất truyền, nhưng nay có thể tìm đọc trong Phan Châu Trinh toàn tập, T1, Nxb. Đà Nẵng, 2005.
13. Hợp quần doanh sinh thuyết (thơ song thất lục bát kèm bài Phú cải lương)
Tác giả: Nguyễn Thượng Hiền, vốn cũng được Đông Kinh nghĩa thục in thành một tập sách nhỏ, bản gốc đã thất truyền, nhưng nay có thể tìm đọc trong Tuyển tập thơ văn Nguyễn Thượng Hiền, Nxb. Lao động, H. 2004.
C. Ngoài hệ thống sách giáo khoa (14 đơn vị sách) viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ kể trên, Đông Kinh nghĩa thục còn phổ biến một số thơ ca, tựa, bạt... khác, tức là những bài nhỏ lẻ của các tác giả như: Phan Bội Châu, Phạm Tư Trực, Dương Bá Trạc, Nguyễn Quyền, Nguyễn Phan Lãng, Đào Nguyên Phổ v.v...
Đặc biệt, có nhiều bài của các tác giả khuyết danh rất được truyền tụng như: Bài ca cổ động, Tình phu phụ, Gọi tỉnh giấc mê, Vong quốc nô phú, Tà khí ca v.v... được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ cũng đã được sưu tập và công bố trong các sách như:
Đặng Thai Mai: Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nxb. Văn hóa, H. 1961.
Nguyễn Hiến Lê: Đông Kinh nghĩa thục, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn, 1968.
Chương Thâu: Đông Kinh nghĩa thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX. Nxb. Hà Nội, 1982 và Nxb. Văn hóa, H. 1997.
Cục lưu trữ nhà nước và Viện Viễn đông Bác cổ Pháp: Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục. Nxb. Văn hóa, H. 1997.
Thơ văn Hán Nôm của Đông Kinh nghĩa thục và phong trào Nghĩa thục cho đến nay sưu tập được, cũng đã tương đối khả quan. Tuy vậy, “thống kê danh mục” trên đây cũng còn một số tác phẩm khác như Nam quốc lịch sử của Phạm Tư Trực; Việt sử toát yếu của Đào Nguyên Phổ v.v... được chỉ dẫn từ các bài Tựa, bài Bạt của một số tác giả để lại thì hiện nay vẫn chưa sưu tầm được.
Nhân bản “thông báo” này, chúng tôi xin kiến nghị với Viện Nghiên cứu Hán Nôm có kế hoạch “sưu tầm bổ sung” thêm các tác phẩm của Đông Kinh nghĩa thục và tập hợp những tác phẩm đã có để lập một phông về văn thơ Hán Nôm Đông Kinh nghĩa thục tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm để tiện ích cho bạn đọc và những người nghiên cứu về Đông Kinh nghĩa thục và phong trào Nghĩa thục có ý nghĩa to lớn đối với nền văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, cách nay vừa đúng 100 năm.
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.686-695)