71. Ngữ âm Huế và sự truyền bản Truyện Kiều (TBHNH 2003)
NGỮ ÂM HUẾ VÀ SỰ TRUYỀN BẢN TRUYỆN KIỀU
ĐÀO THÁI TÔN
PGS.TS.Viện Nghiên cứu Hán Nôm
I. Từ sự gợi ý của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn...
1. Ngay từ bài viết đầu tiên trên Tạp chí Ngôn ngữ số 1/2002, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã đặt ra nhiều câu hỏi, giả thuyết và những nhận định về bản Duy Minh Thị/1872 trong lịch sử văn bản Truyện Kiều. Tại bài viết trên đây, căn cứu vào việc không kiêng húy Tự Đức và Thiệu Trị trong hai bản Liễu Văn Đường 1871 và Duy Minh Thị 1872, giáo sư nhận xét:
"a. Bản Duy Minh Thị rõ ràng là được in theo một bộ ván mới khắc năm 1872, đời Tự Đức. Nhưng Duy Minh Thị là một cư sĩ ở thành Gia Định, lúc bấy giờ đã vào vùng Pháp chiếm đóng, tách khỏi quyền uy của triều đình Huế, và công trình do ông biên tập thường đều đem khắc in ở Quảng Đông, ông có điều kiện để không kiêng húy, ngay cả trong các văn bản chữ Hán. Ví dụ các sách xưa khi nêu lệnh kiêng các trọng húy đều phải miêu tả cách viết một cách gián tiêps chứ không dám viết đúng những chữ ấy. Nhưng ở bộ Đại Nam thực lục chính biên do ông biên tập, khắc in năm 1873, các tên húy ÁNH, NOÃN, CẢO của Gia Long ông chủ trương đều ghi đầy đủ nguyên dạng cả. Dễ hiểu vì sao khi đem một bản Kiều Nôm cổ ra trùng san, ông không né tránh gì các chữ mà xung quanh ông người ta đang kị húy, như TÔNG, THÌ, HỒNG, NHẬM"... (nhưng lại kỵ húy Gia Long, chứng tỏ đã theo một bản chép tay Gia Long mà Gia Long thì không kiêng Tự Đức).
"b. Bản Liễu Văn Đường không kiêng húy lại vì có một lý do khác. Tuy in năm 1871, nhưng khi in, bản này đã dựa vào một bộ ván phần lớn chắc còn giữ lại được từ thời Minh Mạng. Xét vết tích hiện còn lưu lại ở 68 tờ sách, có thể thấy ván khá cũ: không một tờ nào đường chỉ của khung còn giữ được đầy đủ; nhiều tấm bị mòn, chữ in ra không còn sắc cạnh hoặc bị mờ nét; ba tấm 14, 51; 53 đã bị nứt nẻ khi đưa in; bị mất một chữ ở các tấm 24, 35, 36 và bị mất 5 chữ ở tấm 58; thậm chí có trên 10 tấm chữ cũ bị mất, phải đục bỏ và khắc chữ mới chêm vào"...
Nhận xét về hai văn bản như vậy, nhưng vốn cẩn trọng, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn vẫn viết:
"c. Tuy có hai lý do nêu trên, nhưng chúng tôi vẫn coi đó là hai giả thuyết tạm thời. Vì chúng tôi vẫn đang còn băn khoăn, chưa tự giải đáp được câu hỏi: phải chăng đời Tự Đức việc kị húy ở bên Nôm không đòi hỏi nghiêm ngặt như ở bên Hán ? Bản Thịnh Mĩ Đường in năm Kỉ Mão 1879, tuy không có hoàn cảnh đặc biệt như bản Duy Minh Thị, cũng không có bộ ván thật chắc là cổ như bản Liễu Văn Đường, ấy thế mà vẫn không kị húy TÔNG, THÌ, HỒNG, NHẬM ! Rõ ràng đây là một vấn đề giới nghiên cứu ngữ văn đang cần phải tiếp tục làm sáng tỏ".
2. Sau khi phân tích rất cụ thể và chi tiết từng chữ húy trong hai bản 1871, 1872, Giáo sư đã đánh giá khái quát về giá trị của từng văn bản:
"Theo sự cân nhắc của chúng tôi, cả hai bản 1871, 1872 đều rất quý, về nhiều mặt, mà nhất là về mặt tìm hiểu lịch sử văn bản Truyện Kiều. Nhưng mỗi bản đều có giá trị riêng.
"a) Bản Duy Minh Thị quý ở chỗ là nó còn bảo lưu được cho chúng ta hình ảnh của một văn bản gốc rất cổ có thể đã có mặt trong khoảng 1803-1825. Cái mốc 1803 là cái mốc Gia Long ra lệnh bắt đổi LAN thành HƯƠNG...; Cái mốc 1825 là cái mốc gắn liền với mấy sự việc: 1. từ đây HOÀN LAN trở thành chữ húy nhẹ...; và từ đây chữ KHANG có thể viết bình thường. Bản Duy Minh Thị cho ta thấy những điểm kị húy hoàn toàn ăn khớp với tinh thần các lệnh đã ban bố trong giai đoạn từ đầu đời Gia Long đến đầu đời Minh Mạng: vậy nó có một bản gốc cực kỳ cổ.
Trong khoảng 1803-1820, Nguyễn Du còn sống. Bản Duy Minh Thịcòn gợi ý cho chúng ta rằng rất có thể, bản gốc của nó là một trong những văn bản đã được bà con, học trò hay bè bạn của Nguyễn Du trực tiếp biên tập theo đúng tinh thần của Nguyễn Du. Từ điển văn học cho biết Nguyễn Du là một người vốn có tâm lý "vì muốn giữ toàn sinh mạng nên luôn luôn sợ người ta": mà còn có gì đáng sợ hơn là sợ triều đình bắt tội vì chuyện chữ nghĩa ngay trong tác phẩm của mình! Chắc Nguyễn Du đã bị bắt buộc phải răm rắp tuân thủ lệnh 1803 của Gia Long và văn bản gốc bị kỵ húy triệt để để như trên, chắc đó là một điều những người biên tập đã phải thực hiện, để phù hợp với cái tình thế đã thúc bách Nguyễn Du, mặc dù nhiều khi phải đi đến hy sinh cả nghệ thuật của nguyên tác.
Bản gốc đã bị kị húy triệt để ngay từ sinh thời Nguyễn Du đó là một bản in hay là một bản chép tay? Bản Kiều Nôm 1872 cũng đã cho ta câu trả lời: bản gốc mà Duy Minh Thị dùng làm mẫu khi khắc bộ ván mới là một bản in ! Có thế Duy Minh Thị mới khắc rõ ở cuối trang rằng lần in này là lần trùng san!".
b) Bản Liễu Văn Đường có lẽ là một bản gốc đã điều chỉnh lại theo tinh thần của một giai đoạn mới hơi chậm hơn: một bản gốc biên tập vào khoảng cuối đời Minh Mạng, tức khoảng 1836-1840. Lấy mốc 1836 là vì bản Kiều Nôm 1871 cho thấy một số trường hợp HƯƠNG đã chữa lại thành LAN, điều mà từ năm 1833 mới có lệnh chính thức bắt phải né tránh chữ KIỂU / CẢO (với nghĩa là "cây khô"): bản gốc phía Duy Minh Thịcổ hơn, nên vẫn dùng đường hoàn chữ đó ở trong câu 2564 (Truyền cho kiểu táng di hình bên sông); bản gốc phía Liễu Văn Đường thì đã không dám viết đủ nét như vậy nữa, mà phải bỏ bớt chữ mộc ở phía dưới, đổi thành chữ HAO ! Còn lấy cái mốc 1840 là để hiểu vì sao chưa kị húy Thiệu Trị.
Bản Liễu Văn Đường lại là bản in khi không khắc ván mới: nhờ vậy, qua vết tích hiện còn lưu lại ở các trang sách, chúng ta vẫn còn có thể thấy được phần nào hình ảnh những tấm ván xưa nhất hiện biết, được dùng để khắc in Truyện Kiều, một chứng tích đáng cho là thuộc loại quí, hiếm".
Chúng ta có thể so sánh sự khác nhau giữa hai bản 1871 và 1872 qua nhận xét của giáo sư Nguyễn Tài cẩn như sau:
BẢN LIỄU VĂN ĐƯỜNG 1871 | BẢN DUY MINH THỊ 1872 |
Bản gốc được biên tập trong khoảng 1836 đến 1840 | Bản gốc được biên tập trong khoảng 1803-1825 |
Là bản in khi không khắc ván mới, dựa vào một bộ ván phần lớn chắc còn giữ lại được từ thời Minh Mạng. Xét vết tích hiện còn lưu lại ở 68 tờ sách, có thể thấy ván khá cũ. Còn có thể thấy được phần nào hình ảnh những tấm ván xưa nhất hiện biết, được dùng để khắc in Truyện Kiều, một chúng tích đáng cho là thuộc loại quí, hiếm". | In theo một bộ ván mới khắc năm 1872. Nhưng bản gốc dùng làm mẫu khi khắc bộ ván mới là một bản in. Rất có thể, bản gốc của nó là một trong những văn bản đã được bà con, học trò hay bè bạn của Nguyễn Du trực tiếp biên tập theo đúng tinh thần của Nguyễn Du. Còn bảo lưu được hình ảnh của một văn bản gốc rất cổ có thể đã có mặt trong khoảng 1803-1825. |
3. Trên Tạp chí Ngôn ngữ tháng 11/2002, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn còn cho rằng:
"Bản gốc của bản DMT/1872 là bản thời Gia Long, thời cụ Nguyễn Du còn sống, cổ hơn cả bản gốc phía LVĐ/1871"
*
* *
Muốn tìm hiểu lịch sử văn bản Truyện Kiều qua bản Liễu Văn Đường 1871, chúng tôi không thể né tránh được những câu hỏi đã đặt ra trong các bài viết và trong công trình Tư liệu Truyện Kiều bản Duy Minh Thị 1872 của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn. Những câu hỏi đặt ra là:
1. Bản gốc của hai bản in đó là bản in hay bản chép tay ?
2. Bản Liễu Văn Đường 1871 và Duy Minh Thị 1872 được in từ một bản gốc nào ?
3. Bản nào là đáng tin cậy hơn ?...
Trước hết, những ý kiến của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn trên Tạp chí Ngôn ngữ đã khiến chúng tôi phải băn khoăn vì:
A. Bản Liễu Văn Đường 1871
Giáo sư viết về vết tích hiện còn lưu lại ở 68 tờ sách, từ đường chỉ của khung không còn nguyên vẹn, nhiều tấm ván bị mòn... đến chữ in bị mờ nét v.v... vì đó hẳn chỉ là nhận xét rút ra qua sự khảo sát bản chụp mà chúng tôi gửi tặng giáo sư chứ không phải từ bản gốc. Tại bản chụp của chúng tôi, không thấy những dấu vết như thế. Dấu hiệu nứt nẻ của ba tấm ván 14, 51, 53 cũng không thấy. Chúng tôi ngờ rằng những dấu vết mà giáo sư miêu tả có thể là do chất liệu giấy hoặc máy sao chupj tạo ra(?).
Vả chăng, qua nghiên cứu về khái niệm "bản Phường", chúng tôi chắc tin rằng không thể có việc Phạm Quý Thích (1759-1825) đưa in Truyện Kiều, thời Gia Long, Minh Mạng chưa thể có bản in Truyện Kiều.
Vì vậy việc cho rằng bản Liễu Văn Đường 1871 đã dựa vào một bộ ván phần lớn chắc còn giữ lại được từ thời Minh Mạng, tức là được in từ một bộ ván cũ đã có hơn 30 năm về trước, là điều cần phải xem xét thêm. Chúng tôi cho rằng, Truyện Kiều được viết trong đời Tây Sơn nên không có chữ húy Gia Long, Minh Mệnh. Nhưng đến thời Gia long, Minh Mạng ai muốn lưu giữ Truyện Kiều đều phải chép lại những trang có chữ phải kiêng húy.
Đến đời Tự Đức, ở miền Bắc, các nhà khắc ván xin được những bản chép tay có kiêng húy đó. Họ cứ thế mang in. Vì uy thế triều đình đã bị sút kém sau khi Pháp đánh vào cửa biển Đà Nẵng (1858), thì cho đến năm 1871, chúng sắp đánh tới Hà Nội rồi, uy tín triều đình càng suy giảm hơn, không ai còn quan tâm tới việc kiêng tên Tự Đức nữa, nên chúng ta có bản 1871.
Ở miền Nam, "thành Gia Định, lúc bấy giờ đã ở vào vùng Pháp chiếm đóng, tách khỏi quyền uy của triều đình Huế, và công trình do ông biên tập thường đều đem khắc in ở Quảng Đông" (Nguyễn Tài Cẩn), nên Duy Minh Thị không cần kiêng tên Tự Đức.
Tuy cả hai bản đều không kiêng tên Tự Đức nhưng lại vẫn kiêng húy Gia Long Minh Mạng thì đúng là do bản gốc của chúng vốn đã kiêng húy như thế.
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã chia ra thành hai thế hệ biên tập (1803-1825 với bản 1872; 1836 - 1840 với bản 1871. Nhưng theo chúng tôi thì bản 1871 phải được xem là thuộc hệ 1803-1840. Bởi vì tuy rằng từ năm 1833 về sau mới được phép HƯƠNG chữa lại thành LAN, nhưng bản 1871 vẫn còn 3 chữ HƯƠNG , chứng tỏ bản gốc của nó vẫn là bản từ thời Gia Long, nhưng có lẽ là vào thời điểm 1871, sự kiêng húy đã chểnh mảng, nên người ta có thể tự phát trả lại chữ LAN cho các câu 162 (Xuân LAN thu cúc mặn mà cả hai) và câu 1310 (Thang LAN rủ bức trướng hồng tẩm hoa).
B. Về bản Duy Minh Thị 1872
a) Khi thấy ở trang cuối cùng bản Duy Minh Thị 1872 có hai chữ trùng san thì đúng là ai cũng nghĩ rằng: năm 1879, Duy Minh Thị đã "trùng san" (tức là khắc lại) bản in năm 1872! Khi chưa được tiếp xúc với bản Duy Minh Thị 1872, chính chúng tôi cũng đã hiểu như vậy. Nhưng rồi mới thấy rằng đó làmột sự nhầm lẫn. Quả thật ai cũng rất dễ lầm. Và đây là cái lầm thú vị(1).
Thì ra, Duy Minh Thị đã biên tập lại một bản Truyện Kiều chép tay rồi đem khắc in lần đầu (tân thuyên) vào năm Nhâm Ngọ 1872 chứ không phải ông cho khắc lại văn bản in cuả một bộ ván cũ trong khoảng 1803-1825. Điều này cũng có nghĩa là Duy Minh Thị đã sửa chữa Truyện Kiều.
Việc giải mã được hai chữ TRÙNG SAN trong bản Duy Minh Thị 1872, 1879 cũng như băn khoăn của chúng tôi về bộ "ván cũ" của bản Liễu Văn Đường 1871 là một điều rất thú vị.
II... đến việc "lấy kết quả bên này soi rọi cho kết quả bên kia"
1. Tại công trình Tư liệu Truyện kiều bản Duy Minh Thị 1872 cũng như trong các bài báo từ tháng 1/2002, dù là viết ở trong hay ngoài nước, bao giờ giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cũng cho chúng ta biết rằng ông nghiên cứu theo sự gợi ý của học giả Hoàng Xuân Hãn, nhưng thực ra việc làm của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã làm sáng rõ tính đúng đắn của phương pháp nghiên cứu văn bản Truyện Kiều mà học giả Hoàng Xuân Hãn đã theo đuổi hơn nửa thế kỷ nhưng cho đến khi qua đời (1996) vẫn chưa có bản thảo nào nghiên cứu riêng về văn bản này.
Phương pháp nghiên cứu của Hoàng Xuân Hãn là thế nào ?
"Phương pháp tìm tòi của Hoàng Xuân Hãn xét cho cùng chỉ là xuất phát từ phương pháp phê bình lịch sử với các cách phê bình bên trong và bên ngoài các tài liệu, văn bản, quen thuộc với những nhà sử học hay nghiên cứu văn học thời Trung đại nước Pháp, nhưng ở đây lại được áp dụng một cách cần cù và rất sáng tạo. Nếu phê phán bên trong (crritique interne) văn bản mà lại thấy nó không có những chữ húy từ thời Minh Mạng trở đi thì có phần chắc văn bản ấy ra đời vào thời Gia Long, khi Nguyễn Du còn sống. Việc phê bình bên ngoài (crritique externe) lại cho phép thấy cách thức Truyện Kiều được lưu hành như thế nào ở mọi nơi và do đó trong quá trình lịch sử nó bị sửa chữa như thế nào, để từ đó khôi phục nguyên tắc"(2).
Như vậy, các tiêu chí trong việc nghiên cứu văn bản Truyện Kiều thì cụ Hoàng Xuân Hãn đã gợi ý. Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn lại đã chứng binh rất đầy đủ, phân tích rất sâu từng tiêu chí: từng biểu bảng chữ húy, từng trường hợp tiếng Nghệ Tĩnh, từng chi tiết nguyên truyện...
Chúng tôi đã được thừa hưởng các kết quả lao động đó, nên chủ trương bám sát vào kết quả nghiên cứu trong công trình của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, cũng tức là bám sát những tiêu chí mà học giả Hoàng Xuân Hãn đề ra như nắm chắc thước đo trong việc xem xét các văn bản Truyện Kiều.
Bài viết này xin bàn về tiêu chí "Vết tích tiếng Huệ" vì ở đây liên quan đến vấn đề truyền bản Truyện Kiều. Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn viết:
"Nguyễn Du quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh. Lúc 12 tuổi bố mẹ đều mất, về ở gia đình Nguyễn Khản là người anh cả. Đến khoảng 30 tuổi về quê đi câu, đi săn, đi hát phường vải (...). Thời gian làm quan với nhà Nguyễn nhiều năm lại vào Huế. Truyện Kiều viết ra được bà con, bạn bè ở quê và ở Huế hâm mộ, sao chép nhân bản truyền tay nhau đọc. Do những lẽ đó có nhiều nét riêng của tiếng Nghệ Tĩnh và tiếng Huế đã lọt vào trong văn bản. Tất nhiên, sau khi tác phẩm lưu truyền rộng rãi ra trong phạm vi toàn quốc thì nhiều vết tích đó đã bị thay thế, nhưng cũng không thay thế hết. Trong một bản tiên tập và khắc in ở Bắc, như bản Kiều Oánh Mậu khắc in năm 1902, mà vẫn còn. Do những lẽ đó việc tìm hiểu những vết tích tiếng Nghệ Tĩnh và tiếng Huế ở trong bản DMT/1872 là một việc cũng cấp thiết phải tiến hành.
Nói chung, vết tích của tiếng Huế ở bản này không nhiều lắm nếu so với vết tích tiếng Nghệ. Những ví dụ tìm được đều liên quan đến cách nói lẫn âm cuối - N/-T vào âm cuối - NG/K của người Bình Trị Thiên như, ĂN nói ĂNG, MẶT nói mặc v.v... (có vài trường hợp nữa, nhưng chưa dám chắc, ví dụ đón ghi thành đoán ở câu 793, VỀ GIÀ ghi thành về NHÀ ở câu 810 v.v...) ở câu 1556:
Mách tin ý cũng liệu bài tâng công
rõ ràng ta có chữ tâng với phụ âm -NG ở cuối. Thế nhưng trong bản DMT/1872 lại khắc chữ TÂN với ý nghĩa là "mới" (như trong CANH TÂN, TÂN THƯ v.v...) tức là một chữ TÂN kết thúc bằng phụ âm -N. Cũng dễ hiểu, bởi vì người Huế đọc chữ TÂN này cũng không khác gì chữ TÂNG.
Vết tích này được lưu giữ cả ở bản 1871... Không phải ngẫu nhiên mà tác giả Từ điển Truyện Kiều phải ghi tân công rồi giải thích "hoặc TÂNG công".
Một ví dụ tương tự là chữ ĐẮNG trong câu 1870
Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng
Ở bản DMT/1872, ĐẮNG ghi bằng chữ ĐỚN như trong đau đớn. Cũng có thể giải thích được: trong chữ ĐỚN, thanh phù là ĐÁN, mà đán thì dùng để ghi Nôm chữ ĐẮN được (Xin xem T.V.Kiệm). Với cách đọc của người Huế, tất nhiên ĐÁN sẽ đồng âm với ĐẮNG" (48, 49).
Nhưng chúng tôi thấy như sau:
A) Có lẽ đang mải theo đuổi về ngữ âm nên giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã đãng trí khi viết "thời gian làm quan với nhà Nguyễn nhiều năm lại vào Huế ở. Truyện Kiều viết ra được bà con, bạn bè ở quê và ở Huế hâm mộ, sao chép nhân bản truyền tay nhau đọc. Do những lẽ đó có nhiều nét riêng của tiếng Nghệ Tĩnh và tiếng Huế đã lọt vào trong văn bản". Câu văn liền mạch đó dễ gây một sự hiểu lầm là Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều sau khi ra làm quan với Gia Long, (trong khi giáo sư tin rằng Truyện Kiều được sáng tác thời Tây Sơn (xem Diễn Đàn số ...).
Thực ra thì Truyện Kiều được sáng tác ở miền Bắc(3), nên tiếng Huế lọt vào văn bản thì chỉ là do trong khi chép người ta đã để lọt tiếng Huế instinctivement (bản năng) vào mà thôi.
Bảng thống kê(4) sau đây đã chứng minh điều đó.
Câu | Chữ | D/72 | L/71 | Q/79 | T/79 | V/60 | K/0 |
490 | đắng |
|
|
|
| |
|
1472 | đắng |
|
| 登 |
| |
|
1870 | đắng | |
|
|
| |
|
2615 | đắng |
|
|
| | |
|
3036 | đắng |
|
|
| | |
|
1556 | tâng | 新 | 新 | 新 | 新 | | 新 |
793 | đón | 斷 | 頓 | 頓 | | | 頓 |
810 | già | | | | | | |
1) Ta hãy xét chữ TÂNG:
Tiếng Huế (chữ TÂNG ghi bằng âm TÂN ãs ). Nhưng tất cả các bản ở miền Bắc đều lấy TÂN để ghi âm TÂNG). Vậy lại phải suy nghĩ xem tân có nhất định là âm Huế không, hay còn là âm Nghệ Tĩnh nữa ? Nếu là âm Nghệ Tĩnh, thì đây lại là tiếng Nghệ bản năng của Nguyễn Du!
Như vậy, không phải tiếng Huế "còn được lưu giữ cả ở bản 1871", vì các bản ở miền Bắc đều đã có chữ TÂNG ãs (và chữ ĐẮNG ()(âm Thăng Long) rồi. Thế thì lại phải xét: hay là chữ TÂN còn là âm Nghệ Tĩnh (?)
2) Về chữ ĐẮNG: Truyện Kiều có 5 chữ ĐẮNG thì cả năm trường hợp bản 1871 đều dùng mã chữ Nôm mang ngữ âm miền Bắc là ĐẮNG ( ). Bản 1872 cũng chép đúng bốn chữ () miền Bắc, thế mà không dưng lại để lọt vào một trường hợp tiếng Huế (dùng ĐỚN (¯n ) để ghi ĐẮNG) ! Chỉ có thể giải thích được đó là do người chép là người Huế, trong khi định chép trung thành một bản miền Bắc, đã đãng trí đã để lọt tiếng Huế bản năng vào. Các trường hợp ĐỚN ghi thành ĐOÁN, VỀ GIÀ ghi thành VỀ NHÀ cũng là do sự đãng trí mà thôi.
3) Qua trường hợp tiếng Huế này, chúng tôi đi tới những kết luật sau đây về sự truyền bản Truyện Kiều:
a/ Bản gốc của bản Duy Minh Thị 1872 là một bản gốc chép tay đem từ Thăng Long vào (có thể là do Phạm Quý Thích hoặc đồng liêu của ông tại Thăng Long đem vào).
b/ Khi đem vào, nếu là bản thảo ban đầu chưa kị húy, thì cũng phải chữa lại những trang có chữ húy cho cẩn thận.
c/ Nếu chữa chưa cẩn thận, thì khi chép lại, một người Huế (nói người Huế là căn cứ vào chữ đớn (¯n) có thể là một viên quan trong triều sẽ chữa giúp. Cho nên ta mới thấy bản Duy Minh Thị kị h Gia Long đến mức sợ sệt như thế.
d/ Việc tìm thấy tiếng Huế trong bản Kiều Oánh Mậu có thể giải thích được: Kiều Oánh Mậu cho biết, về câu chữ, ông nhất nhất theo bản ở Huế (xem bài Lệ ngôn).
Qua trường hợp tiếng Huế đã phân tích trên đây, chúng tôi bắt đầu tính đến khả năng chép lầm, hoặc sửa chữa của người biên tập bản Duy Minh Thị. Ngữ / âm là chuyện khoa học nhưng phải để chừa một khoảng cách rộng mà cảnh giác với những từ mà chúng tôi ngờ rằng do người địa phương khi chép văn bản đã để lọt vào ! Âm Nôm Nam bộ trong văn bản Duy Minh Thị chứng tỏ rằng văn bản Truyện Kiều đã có sự tham gia của vị cư sĩ thành Gia Định. Và như vậy, khả năng biến động văn bản càng nhiều hơn.
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ SẮC khéo là ghét nhau
thì chữ SẮC này đã chứng tỏ sự sửa chữa của Duy Minh Thị. Vì giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã phát hiện ra chứ SẮC là do đã đục ván khắc ra để khắc chêm vào.
Với những lý do trên đây chúng tôi cho rằng vết tích tiếng Huế không đủ chứng tỏ bản gốc của bản Duy Minh Thị 1872 được biên tập tại Huế mà vốn là chép lại một bản từ miền Bắc.
Có điều, từ một bản gốc rất cổ (1802-1825) như vậy, đã bị Duy Minh Thị sửa chữa theo một bản chép tay đời Tự Đức (trước năm 1872), nên Duy Minh Thị đã biến một văn bản biên tập vào thời Gia Long - Minh Mạng trở thành văn bản biên tập trong đời Tự Đức !
Đáng tiếc hơn là văn bản này đã làm hệ lụy với nhiều bản biên tập sau đó, khiến cho suốt thế kỷ XIX, văn bản Truyện Kiều ngày càng xa nguyên tác.
Chú thích:
(1) Đào Thái Tôn: Nghĩa của hai chữ Trùng san trong bản Truyện Kiều do Duy Minh Thị đưa in năm 1872. Tạp chí Hán Nôm số 3/2003.
(2) Vũ Đức Phúc: Hoàng Xuân Hãn và việc khôi phục nguyên tác Truyện Kiều. Tạp chí Văn học số 6/1998.
(3) Người nhận được bản thảo ban đầu có thể là có Đoàn Nguyễn Tuấn, anh vợ Nguyễn Du (?) và chắc chắn có Phạm Quý Thích và học trò ông tại đất Thăng Long.
(4) Trong bảng này:
- D/72 = bản Duy Minh Thị /72
- L71 = bản Liễu Văn Đường 1871
- Q79 = bản Quan Văn Đường 1879
- T/79 = bản Thịnh Mỹ Đường 1879
- V/60 = bản VNb.60
- K/02 = bản Kiều Oánh Mậu 1902
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr....