VI | EN
74. Về bài thơ của Nguyễn Hành
tb2006

VỀ BÀI THƠ CỦA NGUYỄN HÀNH

(Văn bản và câu chữ)

ĐÀO THÁI TÔN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

A. VỀ VĂN BẢN

Đối với thơ ca trung đại, từ văn bản Hán-Nôm là một tài liệu rất quan trọng. Nguyễn Hành là một trong An Nam ngũ tuyệt cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Tuy tên tuổi của ông đã từng được nhắc đến trong gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, nhưng theo điều tra của Nguyễn Hùng Vĩ, trước năm 1945 trong kho tư liệu Viễn đông Bác cổ chưa từng tồn tại sưu tập thơ văn Nguyễn Hành nên trên các tạp chí như Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí, Tri tân tạp chí cũng như trong chuyên luận của các học giả nổi tiếng như Nguyễn Văn Tố, GS Đào Duy Anh, GS Hoàng Xuân Hãn, Bùi Kỷ, Lê Thước,… thơ văn Nguyễn Hành vẫn hoàn toàn thiếu vắng.

Trước năm 1958, khi tủ sách nhà họ Cao Xuân (Diễn Châu, Nghệ An) được nhập kho mới là khi thơ chữ Hán Nguyễn Du có và Minh quyên thi tập của Nguyễn Hành được lưu trữ. Năm 1958, Minh quyên thi tập được cụ Hồ Trai Phạm Khắc Khoan, quê Đức Thọ, Hà Tĩnh sao chép. Đó chính là bản mang kí hiệu VHv.109 trong kho sách Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay.

Do đó, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam quyển III (thế kỉ thứ XVIII) của tập thể tác giả Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi làm (Nxb. Văn hóa, H, 1959) trở thành cuốn sách đầu tiên giới thiệu tiểu sử và thơ Nguyễn Hành. Theo đó, Nguyễn Hành có hai tập thơ Quan hải thi tập, Minh quyên thi phả (hoặc thi tập), Thiên địa nhân vật sự thi.

Cũng trong năm 1959 nhóm các cụ Bùi Kỉ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh giới thiệu và dịch tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Nxb. Văn hóa, H). Tài liệu các cụ sử dụng là bộ sách của tủ sách họ Cao Xuân. Các cụ có trong tay Minh quyên thi tập, nên trong lời giới thiệu tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du này, lần đầu tiên các cụ đã trích ý bốn câu thơ đầu trong bài Văn thúc phụ lễ bộ hữu tham tri phó âm cảm tác 聞叔父禮部右參知訃音感作. Tuy nhiên các cụ đã hiểu sai hoàn toàn ý thơ bốn câu này, thành thử đến năm 1962, cụ Trương Chính, lúc đó mới 44 tuổi, đã phải đính chính một cách thẳng thắn.

Khi làm Hợp tuyển Văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - giữa thế kỉ XIX các cụ Huỳnh Lý, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Văn Phú, Lê Thước, Hoàng Hữu Yên với sự cộng tác của các cụ Phạm Hữu Chính, Nguyễn Khắc Hanh, Lê Tư Thực, Phan Võ đã giới thiệu Nguyễn Hành thành một tác giả riêng, trích dịch 12 bài thơ kèm theo phần đầu giới thiệu ngắn gọn thân thế sự nghiệp. Trong đó viết rõ: Ông có để lại hai tập thơ là Quan hải thi tập hay Quan Đông hảiMinh quyên phả với một quyển sách nhan đề là Thiên địa nhân vật (quyển này hiện chưa tìm thấy).

Năm 1978, khi in lại lần thứ II cuốn Hợp tuyển (có thêm tác giả Đặng Thanh Lê), thơ Nguyễn Hành được giới thiệu thêm hai bài mới và bỏ đi một bài cũ, nên tổng số là 13 bài.

Năm 2000, Tổng tập văn học Việt Nam tập XIV do PGS. Đặng Đức Siêu sưu tầm và biên soạn ta thấy thơ Nguyễn Hành được phiên dịch nhiều hơn với 73 bài và dịch thêm Minh quyên phả dẫn trong bản VHv.109. Rõ ràng, như lời giới thiệu, PGS Đặng Đức Siêu có tham khảo những bản của Hợp tuyển. Đồng thời đọc các văn bản, ta thấy rõ là tài liệu chính được sử dụng là bản VHv.109.

Những văn bản về thơ Nguyễn Hành sau này chủ yếu trích từ cuốn Hợp tuyển in hai lần và cuốn Tổng tập nói trên. Tuy nhiên chưa thấy ai cho biết mình làm việc trên văn bản chữ Hán.

Trở lên là việc tìm hiểu nguồn gốc văn bản bài thơ của ông Nguyễn Hùng Vĩ, giảng viên chính khoa Ngữ văn trường Đại học KHXH và NV Đại học Quốc gia Hà Nội.

Qua sự tìm hiểu văn bản trên đây, có hai điều đáng chú ý: Một là, cho đến nay, chúng ta chưa tìm thấy một văn bản nào ngoài bản chép thơ Nguyễn Hành, là VHv.109. Hai là, lần đầu tiên, tại bản dịch Thơ chữ Hán Nguyễn Du năm 1959, các cụ đã trích ý bốn câu thơ đầu trong bài Văn thúc phụ Lễ bộ Hữu Tham tri phó âm cảm tác, nhưng đã hiểu sai ý thơ bốn câu thơ. Năm 1962, cụ Trương Chính đã phải đính chính.

Tuy nhiên, gần một năm qua, khi bài thơ trên đây của Nguyễn Hành gây nên cuộc bàn cãi sôi nổi, nhất là từ khi được ông Nguyễn Hùng Vĩ cung cấp cho bản chữ Hán của bài thơ, chúng tôi mới bắt đầu tìm hiểu kỹ, thì thấy rằng việc nghiên cứu một bài thơ chữ Hán mà không có văn bản trên tay, rất dễ lâm vào tình trạng người sau sai theo người trước, trở thành một chuỗi sai dây chuyền. Hơn nữa, với bài thơ tám câu bảy chữ này, không phải chỉ bốn câu đầu bị hiểu sai mà thực ra cả bài thơ lâu nay đã bị nghĩa dịch sai. Tại những bài tranh cãi sôi nổi đó, ngoài cái sai về việc hiểu bài thơ, một vấn đề đặt ra còn là: đây là một bài thơ thất ngôn bát cú hay là hai bài tuyệt cú ?...

Xuất phát từ đó, bài này chủ yếu là trình bày cách hiểu của chúng tôi về từng câu chữ của bài thơ, đưa ra bản dịch mới. Những chuyện khác, chỉ là bất đắc dĩ phải nói đôi lời.

B. NGUYÊN VĂN BÀI THƠ VÀ LỜI DẪN

聞叔父禮部右參知訃音感作

公字素如性好獵自號紅山獵戶壬戌歲噬士

今朝累官至右參知更辰八月卒

十九年前素如子

壹世才華今已矣

吾門厚福公巧完

疫厲何能速公死

三秋輪落此城中

南望浮雲每憶公

歸去家山聞夜獵

精靈恍與舊時同

VĂN THÚC PHỤ LỄ BỘ HỮU THAM TRI PHÓ ÂM CẨM TÁC

Công tự Tố Như, tính hiếu lạp. Tự hiệu Hồng Sơn liệp hộ. Nhâm Tuất tuế phệ sĩ. Kim triều lũy quan chí Hữu tham tri. Canh Thìn bát nguyệt tốt.

Thập cửu niên tiền Tố Như tử

Nhất thế tài hoa kim dĩ hĩ

Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn

Dịch lệ hà năng tốc công tử

Tam thu luân lạc thử thành trung

Nam vọng phù vân mỗi ức công

Quy khứ gia sơn văn dạ lạp

Tinh linh hoảng dữ cựu thời đồng

Tại phần phiên âm, chúng tôi cho in đậm những chữ mà bản quốc ngữ không có hoặc khác bản chữ Hán để tiện so sánh với các bản quốc ngữ tại Lời nói đầu và một vài tài liệu khác. So vi bản quốc ngữ, bản chữ Hán có ba khác biệt: a) Tên bài thơ thêm chữ “bộ, Hữu”: Văn thúc phụ Lễ bộ Hữu tham tri phó âm cảm tác; b) Chữ thứ sáu, câu tám Tinh linh hoảng dữ cựu thời đồng (không phải năng hay nặng thời đồng). c) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam tập 3 lại cho một dị bản nữa (nẵng thời đồng). Chúng tôi thấy rằng: có lẽ câu thơ thứ tám do một người Nghệ Tĩnh phiên âm nên đã lẫn phiên dấu ngã sang thành dấu nặng, nẵng thời đồng > nặng thời đồng; Sau đó, có người thấy nặng dường như không phải âm Hán Việt, sửa nặng > năng. Thế là dĩ ngoa truyền ngoa, cái sai từ người này truyền qua người khác, nên mới có từ “năng thời” rất vô nghĩa tại bản quốc ngữ.

Nhưng dù sao thì cựu nẵng đều có nghĩa là trước kia, chẳng khác gì câu thơ “Tăng thôi / xao nguyệt hạ môn” thì dù thôi hay xao, đều có nghĩa: Nhà sư đẩy cửa... , dùng chữ nào cũng được.

Bản dịch qua bản chữ Hán vẫn dễ tin hơn những bản “dịch” người nọ dựa vào người kia qua bản phiên âm, rồi hành văn khác đi một chút. Có lẽ bài thơ Nguyễn Hành là như vậy, nên từ năm 1963 đến nay, sự dịch sai hiểu sai diễn ra một cách dây chuyền. Tuy không tránh được vài điều liên quan đến cuộc thảo luận, nhưng mục đích chính của bài viết này là trình bày cách hiểu về chữ, nghĩa của từng câu thơ, góp phần tìm hiểu bài thơ của Nguyễn Hành, một tư liệu quý trong việc nghiên cứu Nguyễn Du.

C. TỪ CUỘC TRANH CÃI ĐẾN CÂU CHỮ BÀI THƠ

Bài Phải chăng Nguyễn Hành nói thế? (Văn nghệ số 17,18 ngày 29/4/2006) của nhà thơ Vương Trọng, góp ý với ông Nguyễn Khắc Bảo và Nguyễn Trí Sơn về những nhận xét không đúng trong Lời nói đầu quyển Truyện Kiều bản Nôm cổ nhất (Nxb. Nghệ An, 2004) là duyên do thúc đẩy chúng tôi tìm hiểu kỹ hơn bài thơ của Nguyễn Hành viết về Thi hào Nguyễn Du.

Trong Lời nói đầu cuốn sách nói trên, sau khi nhắc lại phút lâm chung, Nguyễn Du không chịu uống thuốc; đến khi người nhà thưa chân tay lạnh cả rồi, Cụ chỉ nói “được”, rồi thanh thản ra đi, những người viết Lời nói đầu đã trích hai câu thơ 3, 4 để tán rằng: “Việc ra đi ấy lại như trút được nỗi lo sợ vẫn ám ảnh bao lâu cho mình và cả dòng họ. Do vậy ta có thể hiểu vì sao người cháu gọi thi hào bằng chú ruột là nhà thơ Nguyễn Hành (1771-1824) lại có bài thơ viếng chú nhan đề “Văn thúc phụ Lễ Tham tri phó âm cảm tác”, trong đó có câu thơ hàm ẩn như sau:

Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn

Dịch lệ hà năng tốc công tử

Tạm dịch: Nhờ họ nhà ta có phúc dày, nên ông mới được ra đi trọn vẹn thanh danh như vậy. Đâu có phải vì dịch bệnh mà ông chết nhanh như thế”.

Nếu tin vào câu thơ “tạm dịch”, hóa ra Nguyễn Du không chết vì bệnh dịch? Hóa ra Nguyễn Hành nói rằng việc ông chú mình chết đi khiến cả dòng họ... [mừng, vì] đã “trút được nỗi lo sợ vẫn ám ảnh bao lâu” hay sao? Thậm vô lý ! Vì thế, nhà thơ Vương Trọng viết:

“Việc hai soạn giả cho rằng Nguyễn Du chết là như “trút được nỗi lo sợ vẫn ám ảnh bao lâu cho mình và cả dòng họ” là chưa có căn cứ. Với bạn đọc bình thường, ngay cả với những người biết ít nhiều chữ Hán mà chỉ đọc hai câu thơ trên kia qua phần trích của hai soạn giả thì cũng khó biết được dịch như vậy có chính xác hay không. Nhưng đối với những người đã từng nghiền ngẫm bài thơ thất ngôn bát cú đó của Nguyễn Hành, từng biết hoàn cảnh ra đời của bài thơ, và biết rõ vị trí trong bài của hai câu trích trên kia... thì tạm dịch như hai ông làm người ta nghi ngờ, hình như Nguyễn Hành không có ý như thế (...).

Câu thứ ba nên dịch là: “Phúc dày nhà ta chú đã khéo giữ được trọn vẹn”. Trong câu này không hề có chữ nào mang nghĩa ra đi tức là chết như hai ông đã dịch. Ch phúc dày nhà ta Nguyễn Hành dùng nên hiểu như thế nào? Họ Nguyễn Tiên Điền nói chung và anh em con cháu Nguyễn Nghiễm nói riêng có những điểm mạnh mà họ khác khó có được. Đó là nhiều người đỗ cao và làm quan to, đồng thời có nhiều người tài thơ. Nói về đỗ đạt và làm quan to thì Nguyễn Du, một người chỉ đỗ tam trường, chỉ làm đến Tri phủ hoặc Tham tri bộ Lễ... chẳng có gì đáng tự hào so với các Tiến sĩ Nguyễn Huệ (bác ruột), Nguyễn Nghiễm (bố), Nguyễn Khản (anh ruột), trong đó có người đã giữ chức Tể tướng. Cái mà Nguyễn Hành ca ngợi Nguyễn Du là tài thơ (...). Vậy nên câu thứ ba của bài thơ là liền ý của câu thứ hai, tức là nối tiếp cái ý chú là người tài hoa, cụ thể là tài thơ nhất đời.

Còn câu thứ tư, “Dịch lệ hà năng tốc công tử” là lời thốt lên như một tiếng kêu trời của người cháu: “Bệnh dịch sao có thể làm chú chết nhanh đến thế?”. Thế là câu thơ thể hiện sự sửng sốt của Nguyễn Hành khi nghe tin chú mất, hai soạn giả đã biến nó thành một ý khác hẳn, thậm chí ngược hẳn, và coi đấy chính là suy nghĩ thầm kín, sâu sắc nhưng chân thực của người cháu rất hiểu chú và hiểu việc đời. Không hiểu hai soạn giả vì xuất phát từ việc dịch sai hai câu thơ này rồi đi đến kết luận Nguyễn Du muốn chết để trút nỗi lo sợ... hay vì có kết luận như trên rồi cố lái cái ý của Nguyễn Hành cho hợp với lập luận của mình?”.

Chúng tôi tán thành cách hiểu của nhà thơ Vương Trọng, bởi thực ra:

- Những câu viết đúng trong Lời nói đầu là do người viết thu lượm kiến thức của người khác. Chúng ta có thể thấy, chẳng hạn:

1. Khi các tác giả Lời nói đầu viết “Chúng ta còn tìm thấy trong các bản Truyện Kiều chữ Nôm (...) những chữ phạm húy vua Gia Long” (...) “Từ đó có thể khẳng định được Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi ra làm quan cho Gia Long. Có thể thi hào đã khởi thảo từ khi còn ở ẩn tại Thái Bình - quê vợ, rồi hoàn chỉnh trong thời gian về Tiên Điền - quê cha (1796-1801)…” (trang 12,13), thì đây không phải là kiến thức của hai ông, bởi ai cũng biết rằng phương pháp nghiên cứu văn bản Truyện Kiều qua chữ húy đời Gia Long là phương pháp của cụ Hoàng Xuân Hãn. Sau khi cụ qua đời (1996), trong công trình Tư liệu Truyện Kiều bản Duy Minh Thị (Nxb, ĐHQG, H, 2002), GS. Nguyễn Tài Cẩn đã theo gợi ý của cụ, thống kê từng chữ húy (CHỦNG, LAN, HƯƠNG...). Nếu không có Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Tài Cẩn chắc chắn rằng người viết Lời nói đầu không bao giờ biết thế nào là chữ húy chứ đừng nói đến chữ húy đời Gia Long.

2. Trong bài Nguyễn Du viết Truyện Kiều vào lúc nào, GS. Trương Chính viết: “Chúng tôi cho rằng thời gian sáng tác Truyện Kiều là vào khoảng giữa những năm Nguyễn Du ở “dưới chân núi Hồng”, nghĩa là từ 1796 đến 1801, trước khi ra làm quan với nhà Nguyễn” (Tạp chí Văn học số 6 năm 1963). Vậy câu “Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi ra làm quan cho Gia Long tại Lời nói đầu là kết quả nghiên cứu tử công phu của GS. Trương Chính chứ đâu phải của người viết ?

3. GS. Nguyễn Tài Cẩn đã viết: “Rất có thể là nhà thơ đã phác thảo thời kỳ Cụ về quê vợ ở, rồi sau đem bản thảo về Tiên Điền tiếp tục chữa đi chữa lại” (Tư liệu Truyện Kiều từ bản Duy Minh thị đến bản Kiều Oánh Mậu, Nxb. Văn học, 2004, tr.17). Vậy các câu “thi hào đã khởi thảo từ khi còn ở ẩn tại Thái Bình - quê vợ, rồi hoàn chỉnh trong thời gian về Tiên Điền - quê cha”, người viết Lời nói đầu lấy ý kiến của GS. Nguyễn Tài Cẩn.

- Những sai lầm trong Lời nói đầu là bắt nguồn từ chỗ người viết không tiêu hóa, hoặc không kiểm soát nổi những kiến thức lượm lặt được. Thật vậy:

Năm 1959 trongLời nói đầu Thơ chữ Hán Nguyễn Du, các soạn giả viết “Cháu Nguyễn Du là Minh Quyên, trong bài viếng Nguyễn Du có câu: Chú tôi sảo toàn được 19 năm. Sảo toàn có nghĩa là khôn khéo mới giữ được tính mệnh trong 19 năm làm quan triều Nguyễn” (Nxb. Văn hóa, H, tr.4). Thế là kết hợp với giai thoại, người viết bèn lấy ngay ý đó, hồn nhiên đưa vào Lời nói đầu. Nhưng không ngờ rằng, ý kiến này đã bị GS. Trương Chính phủ định từ năm 1962 ! Ông viết:

“Thập cửu niên tiền Tố Như tử

Nhất thế tài hoa kim dĩ hĩ.

Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn

Dịch lệ hà năng tốc công tử.”

(Mười chín năm trước đây ông Tố Như

Nổi tiếng tài hoa một đời nay không còn nữa.

Phúc dày nhà ta ông đã khéo giữ được trọn vẹn

Bệnh dịch sao có thể làm cho ông chết mau đến thế).

“Như vậy thì không phải là “khôn khéo mới giữ được tính mệnh trong 19 năm làm quan triều Nguyễn” mà là “giữ trọn được phúc nhà”. (“Một vài ý kiến về tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 8 năm 1962).

Qua những phân tích trên đây, chúng tôi xin nói thật vắn tắt đôi lời. Không ai ra khỏi nhà mà không phải bước qua bậu cửa. Nghề viết rất cần và bắt buộc phải nhắc đến tên tuổi, phát hiện của các học giả bậc thày và đồng nghiệp. Đó không chỉ là vấn đề đạo đức, mà là nguyên tắc khoa học để người viết tự kiểm tra xem mình đã đóng góp được gì; người đọc biết người sau có đóng góp gì so với người đi trước. Những người trung thực vẫn thực hiện nguyên tắc này như một thói quen. Tiếc rằng một số người viết nghiệp dư (và không chỉ nghiệp dư) đã lảng tránh nguyên tắc sơ đẳng này, tưởng như thế, có thể tự nắm tóc mà nhấc được mình lên khỏi mặt đất.

&

Xin trở lại bài viết. Mục đích chính của chúng tôi trong bài viết này là đưa ra cách hiểu bài thơ thông qua việc trình bày một số chữ Hán mà chúng tôi hiểu theo nghĩa khác so với nghĩa ở các bản dịch trước. Do đã tra cứu cứ liệu trong các từ điển cổ như Từ nguyên, Từ hải, Hán ngữ đại từ điển nên khi trình bày, xin phép không đặt chú thích từng chữ (như xuất xứ ở từ điển nào? Nxb, trang, cột mấy?).

Về tên bài thơ. Khi các cụ dịch “Nghe tin chú là quan Tham tri bộ Lễ từ trần, cảm lòng mà làm ra” thì không thể nói là sai. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng thực ra, ở bài thơ này, chữ Văn còn một nét nghĩa đáng lưu ý - mà đây mới là nét nghĩa chính - là “nhận đưc”. Nhận được gì? Nhận được thư, tin báo tang (phó âm 訃音). Nguyễn Hành nhận được thư báo tang chú là Lễ bộ Hữu tham tri qua đời, viết bài thơ này. Bài thơ có Lời dẫn: “Công tự Tố Như, tính hiếu lạp. Tự hiệu Hồng Sơn liệp hộ. Nhâm Tuất tuế phệ sĩ, kim triều lũy quan chí Hữu tham tri. Canh Thìn bát nguyệt tốt” (Ông tự Tố Như. Thích đi săn. Đặt tên hiệu là Hồng Sơn liệp hộ. Năm Nhâm Tuất ra làm quan với vua đương triều, đến chức Hữu tham tri. Mất vào tháng 8 năm Canh Thìn. Thì ra Nguyễn Hành nhớ về chú, là nhớ đến hình ảnh người chú mười chín năm trước đang vui thú cùng phường săn dưới chân núi Hồng, chứ không nhớ đến ông Tham tri bộ Lễ đương triều Gia Long! Ý này rất quan trọng trong việc hiểu bài thơ. Mười chín năm, trong Lời dẫn bài thơ, là từ năm Nhâm Tuất (1802) Gia Long lên ngôi cho đến năm Canh Thìn (1820), Nguyễn Du mất.

Vì thế, câu thơ một hai chỉ có thể hiểu là: Mười chín năm về trước, ông Tố Như là người tài hoa nhất đời.

Câu ba, Nguyễn Hành đánh giá Nguyễn Du: Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn, thì tuy hơn 40 năm trước, GS. Trương Chính đã hiểu phúc dàytruyền thống làm quan, vì thời vua Lê chúa Trịnh, cha con, anh em họ Nguyễn Tiên Điền toàn giữ những chức vụ trọng yếu trong triều, nhưng sang đời Nguyễn thì chỉ một mình Nguyễn Du là làm đến chức tham tri bộ Lễ mà thôi (Tạp chí Văn học số 6 (tháng 12/1963). Nhưng do hiểu ngô môn 吾門= gia tộc; hoàn = vun đắp, lại kết hợp với Lời dẫn hai câu thơ đầu, chúng tôi ủng hộ cách hiểu của Vương Trọng, nên dịch: Ông đã khéo vun đắp truyền thống thi thư của gia tộc. Câu thơ Vương Trọng dịch: “Khéo vun dày dặn phúc nhà”, tự nhiên lại đúng mà hay.

Còn câu bốn lời than: Bệnh dịch sao có thể làm chú chết nhanh đến thế!.

Sau bốn câu thơ trên, mạch thơ đưa ngọn bút Nguyễn Hành tới hai câu, thể hiện tình cảm, những kỷ niệm sâu sắc của ông với chú. Câu năm, Ba năm qua lưu lạc tại đất kinh thành, tiếp liền câu sáu, Mỗi lần ngóng về quê nhà (Nam vọng) nhìn lên áng mây trôi là mỗi lần cháu lại nhớ đến chú.

Nhớ thế nào, nhớ đến gì, hai câu bảy, tám thể hiện rất rõ:

“Quy khứ gia sơn văn dạ lạp

Tinh linh hoảng dữ cựu thời đồng”

Nhưng tiếc rằng, những bản dịch từ năm 1963 đến nay đều dịch không đúng. Bản thì dịch: “Từ nay khi về quê nhà, ban đêm nghe tiếng người đi săn, mơ màng như thấy tinh linh của ông vẫn giống trước kia” (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam. Tập III: Văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - giữa thế kỉ XIX); bản thì dịch “Mai rày, khi về quê nhà, đêm đêm nghe đám người đi săn, lại mơ màng tưởng thấy thần thái của ông vẫn như ngày trước” (Tổng tập Văn học Việt Nam tập 14); bản thì dịch câu tám “Thì tâm hồn lại hoảng hốt giống y như ngày xưa còn chú” (Nguyễn Thạch Giang). Dịch như thế, hóa ra người “từ nay / mai rày” về quê nhà; đêm đêm nghe tiếng người đi săn; người “tâm hồn lại hoảng hốt” là Nguyễn Hành ư ? Không. Quy khứ gia sơn văn dạ lạp là câu thơ Nguyễn Hành hồi ức về Nguyễn Du.

Cái bẫy của câu thơ thứ bảy là ở chữ văn.Văn ở đây không phải là nghe, mà là nổi tiếng. Cho nên, câu bảy, Từ khi chú về ở ẩn dưới chân núi Hồng (Quy khứ gia sơn), trở thành nhân vật nổi tiếng trong phường săn..., sẽ tiếp liền ý câu tám... đến nay, hình ảnh, hồn thiêng (tinh linh) của chú cơ hồ (hoảng dữ) vẫn còn lẩn quất quanh đây, cùng (đồng) phường săn thuở trước (cựu thời). Chữ dạ (đêm) ở câu bảy, xem như chữ đưa đẩy, vì người đi săn thường vn săn đêm.

Mạch của bài thơ đi liền như thế mà bảo rằng từ câu thứ năm đến thứ tám là bài thứ hai, tức là cắt bài thơ tám câu thành hai bài tuyệt cú thì e không phải. Vì sao một số bản quốc ngữ cắt bài thơ ra như thế là chuyện dài dài về văn bản. Cần tìm thêm dăm ba bản chữ Hán nữa. Còn như hiện nay, khi thày Nguyễn Hùng Vĩ tìm được tập thơ chữ Hán Minh Quyên thi tập của Nguyễn Hành, chúng tôi đã có cơ sở để ủng hộ mẫn cảm về thơ của nhà thơ của Vương Trọng, rằng đây chỉ là một bài thất ngôn cổ thể.

Trên đây chúng tôi đã trình bày hai vấn đề cốt lõi liên quan đến cuộc thảo luận mấy tháng qua. Mong bạn đọc chỉ bảo thêm.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.735-746)

Đào Thái Tôn
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm