74.Về hiện trạng văn bản của Tinh tuyển Chư gia luật thi (TBHNH 2005)
VỀ HIỆN TRẠNG VĂN BẢN CỦA TINH TUYỂN CHƯ GIA LUẬT THI
NGUYỄN THANH TÙNG
Đại học Sư phạm Hà Nội
Tinh tuyển chư gia luật thi精選諸家律詩 (Dương Đức Nhan soạn) là bộ thi tuyển thứ hai sau Việt âm thi tập trong quá trình hình thành hệ thống các thi tuyển ở nước ta. Nó có vị trí và ý nghĩa khá quan trọng trong việc sưu tầm và lưu giữ các thi phẩm của dân tộc thời trung đại. Chính vì vậy, từ lâu văn bản này đã được để tâm khảo sát, nghiên cứu, dẫn dụng. Tuy nhiên, do sự mất mát, thiếu sót về tư liệu hiện còn,... mà vẫn đề văn bản học của bộ thi tuyển khá quan trọng này vẫn chưa được giải quyết ổn thỏa.
Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ, chúng ta hiện không có trong tay một văn bản Tinh tuyển chư gia luật thi đầy đủ và tin cậy, có khả năng gần với bản gốc nhất. Trong tay chúng ta chỉ còn hai văn bản đều không đầy đủ và thiếu độ tin cậy nhất định. Thứ nhất là bản chép tay mang ký hiệu A.574 (tạm gọi là bản A)(1). Thứ hai là bản in mang ký hiệu A.2657 (tạm gọi là bản B)(2). Cả hai đều có những hạn chế về mặt văn bản học của chúng. Bản chép tay tuy có phần phong phú về tư liệu (chép được nhiều thơ của nhiều tác giả hơn bản B) nhưng là bản sao chép tay nên mang những đặc tính cố hữu của dạng văn bản này là sự tùy tiện, xuất nhập và tính “vô phương kiểm chứng”, cho nên cần có sự dè dặt trong những nhận định, đánh giá về giá trị và độ tin cậy của nó. Bản in có độ tin cậy cao hơn nhưng chúng ta cũng không làm cách nào xác định được niên đại thực sự, chính xác của nó. Hơn thế, văn bản này chỉ còn lại một phần, hết sức dở dang và ngắn ngủi. Chính hạn chế, thiếu sót đó đã dẫn đến những kết quả khảo sát, nghiên cứu hết sức khác nhau về hai dị bản này và về Tinh tuyển chư gia luật thi nói chung.
Nổi bật là kết quả khảo sát, nghiên cứu của học giả Trần Văn Giáp và GS. Nguyễn Huệ Chi. Cụ Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam(3) và Tìm hiểu kho sách Hán Nôm(4) đã cho kết quả nghiên cứu như sau:
- Bản A có 362 bài thơ của 11 tác giả. Trong đó phần thơ thời Lê sơ có 152 bài của 4 tác giả(5).
- Bản B có 219 bài thơ của 4 tác giả (cũng là 4 tác giả thời Lê sơ như trên). Bản này theo cách tính của học giả Trần Văn Giáp thêm được 67 (219-152) bài thơ thời Lê sơ(6).
Từ thống kê đó, cụ Trần bác bỏ ghi chép của Lê Quý Đôn về Tinh tuyển chư gia luật thi (15 quyển) trong thiên Nghệ văn chí sách Lê triều thông sử(7) mà nghiêng sang tán thành ghi chép của Phan Huy Chú về văn bản này (5 quyển, 13 tác giả, 472 bài(8)) trong thiên Văn tịch chí sách Lịch triều hiến chương loại chí(9).
GS.Nguyễn Huệ Chi trong phần “Khảo luận văn bản” của bộ Thơ văn Lý Trần(10) cũng như trong mục từ giới thiệu Tinh tuyển chư gia luật thi ở bộ Từ điển văn học(11) lại đưa ra kết quả thống kê khác như sau:
- Bản A: 12 tác giả Trần, Hồ và Lê sơ với 409 bài.
- Bản B: 4 tác giả Lê sơ với 219 bài.
- Tổng hợp hai bản A và B lại, theo GS. Nguyễn Huệ Chi, ta được một bản Tinh tuyển chư gia luật thi có thể gồm 5 quyển với 472 bài thơ của 12 tác giả. Điều thú vị, theo tác giả, là con số 472 bài thơ trùng với sự miêu tả của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí rằng sách gồm “5 quyển... 13 tác giả, 472 bài thơ”. Tuy có khác nhau về con số thống kê, nhưng GS. Nguyễn Huệ Chi cũng nghiêng về ý kiến của học giả Trần Văn Giáp, tán đồng với ghi chép của Phan Huy Chú nêu trên.
Tuy nhiên, số tác giả lại không trùng khiến cho tác giả băn khoăn chưa biết lý giải thế nào cho ổn thoả. Ông đã có lúc nghĩ đến tác giả “thứ mười ba” là Nguyễn Sĩ Cố (2 bài)(12) thời Trần. Nhưng ông vẫn loay hoay với con số 63 bài chênh lệch giữa bản chép tay (B) và bản ghi chép của Phan Huy Chú vì nghĩ rằng tác giả “thứ mười ba” đó nhất định là tác giả đời Trần và có đến 63 bài thơ. Do đó, ngay lập tức GS.Nguyễn Huệ Chi bác bỏ giả thiết mình vừa đặt ra (chúng tôi sẽ còn trở lại vấn đề này ở phần sau)... Sự chênh lệch về con số thống kê giữa hai nhà nghiên cứu này cũng như sự trùng hợp kì lạ giữa ghi chép của Phan Huy Chú với kết quả tổng hợp hai dị bản Tinh tuyển chư gia luật thi của GS.Nguyễn Huệ Chi khiến chúng tôi băn khoăn về độ chính xác của những thống kê ấy. Chúng ta nên tin vào kết quả nghiên cứu của ai? Để giải quyết băn khoăn đó, chúng tôi buộc phải khảo sát lại toàn bộ 2 văn bản hiện còn.
Kết quả khảo sát thật bất ngờ! Đó là:
- Bản A: đúng 409 bài thơ của 12 nhà thơ như kết quả khảo sát của GS. Nguyễn Huệ Chi. Trong đó thời Trần Hồ (quyển I): 257 bài của 8 nhà thơ; thời Lê (quyển II): 152 bài của 4 nhà thơ.
- Bản B: 223 bài của 4 nhà thơ thời Lê sơ (Xin xem thống kê chi tiết hơn ở Phụ lục I).
Vấn đề ở đây không đơn giản là chúng ta chỉ thấy rõ bản B chép nhiều hơn bản A hiệu số 71 bài thơ (223-152) mà phải xem con số trùng nhau giữa hai văn bản là bao nhiêu từ đó tìm ra số các abì mà chỉ bản B mới có còn bản A thì không nhờ đó bản B bổ sung cho bản A. Cũng phải nghĩ đến khả năng bản A có các bài mà bản B không có (ở đây, chúng tôi chỉ so sánh ở phần ghi chép thơ thời Lê sơ, khi mà cả hai văn bản đều có chép về 4 tác giả: Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Vũ Mộng Nguyên). Kết quả so sánh chi tiết cho thấy:
- Bản A không chép 73 bài có ở bản B (kết quả cụ thể xin xem ở Phụ lục II).
- Bản B không thấy 5 bài có chép ở bản A (phần 4 tác giả thời Lê sơ), đó là: Du hồ, Hoài lộc, Tặng quốc tử Tế tửu Nguyễn công trí chức [vinh quy], Đề kiếm, Hạ quy Lam Sơn y quan xuất vận. Các bài này đều có chép trong Toàn Việt thi lục(13) của Lê Quý Đôn.
Khi tiến hành so sánh chúng tôi cũng thấy:
- Bản B có niên đại cổ hơn (tên Lý Tử Tấn vẫn được giữ họ Nguyễn,...).
- Trật tự các tác giả và các bài thơ hiện còn ở cả hai bản A và bản B không khác nhau nhiều lắm (chẳng hạn, phần chép thơ Nguyễn Trãi giữa 2 văn bản giống nhau hoàn toàn...).
Từ đó, chúng ta có thể nêu giả thiết bản A đã chép lại một văn bản cùng dòng với bản B (tất nhiên là có sửa chữa, sai lệch, “tam sao thất bản”...). Nếu chấp nhận giả thiết đó, chúng ta hãy xem bản A sao chép lại một văn bản cùng dòng với bản B như thế nào?
Bản B không còn đầy đủ (rách đầu, rách cuối), nên chúng ta không thể so sánh hai văn bản một cách toàn diện được. Nhưng căn cứ vào những gì hiện còn có thể nêu nhận định: Người chép đã không trung thành hoàn toàn với nguyên bản (được giả định là cùng dòng với bản B như đã nêu trên). Điều đó thể hiện ở chỗ:
- Người chép đã sửa Nguyễn Tử Tấn thành Lý Tử Tấn, từ con số 5 quyển (hiện bản B chỉ còn gần 2 quyển: IV, V nhưng dấu vết 5 quyển vẫn còn] chia lại thành 2 quyển (I và II).
- Bản sao đã để sót một số lượng khá lớn các bài thơ có trong nguyên bản theo giả thiết (tính riêng phần thơ thời Lê so với bản in hiện còn nó đã chép sót 73/223 bài chiếm 32,7%).
- Người chép (bản sao) có thể đã tự ý thêm vào một số bài thơ bên ngoài mà mình biết vào phần của một vài tác giả nào đó (cụ thể với tác giả Nguyễn Mộng Tuân, người chép đã thêm vào 3/54 bài được chép, chiếm 5,6%; hai bài thơ còn lại của Nguyễn Trãi bị mất ở bản B chắc chắn do sách bị rách mấy tờ đầu). Ở đây, cũng có thể nghĩ đến khả năng ở bản in đã bị rách một tờ nào đó có chép 3 bài thơ nêu trên (chúng ta lưu ý rằng, 3 bài này trong bản A được chép liền nhau trong gần 2 tờ, nếu căn cứ vào dung lượng mỗi trang in của bản B, thì rách một hai tờ là đủ mất đi 3 bài như trên). Chỉ có điều, nếu vậy thì thật khéo là 3 bài lại nằm “gọn” trong một tờ!
- Người chép tự ý đổi tên bài thơ hoặc vô tình làm sai lệch chúng đi: ví dụ đổi tên bài Thụy khởi thư hoài (của) thành Thụy khởi mạn thuật và nhập nó vào cùng với một bài có tên đúng là Thụy khởi mạn thuật (1 bài) để trở thành chùm Thụy khởi mạn thuật (2 bài).
Những nhận định này sẽ cho chúng ta một căn cứ quan trọng để suy ra rằng phần chép thơ thời Trần Hồ của bản chép tay cũng không hẳn đã hoàn toàn đáng tin cậy, có thể có sự xuất nhập, sửa đổi,... Và khi tổng hợp hai văn bản lại để có được một văn bản tương đối hoàn chỉnh của Tinh tuyển chư gia luật thi, chúng ta cần hết sức lưu ý đến điều này để lý giải sự chênh lệch của bản tổng hợp đó với sự mô tả của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhất là việc thiếu đi một tác giả mà có lẽ là tác giả đời Trần.
Bây giờ ta sẽ tổng hợp hai văn bản này lại để có được số bài thơ và số tác giả hiện còn. Cũng như người đi trước, chúng tôi tạm lấy bản A làm bản nền (vì số lượng tác giả tác phẩm nhiều hơn, bao quát hơn, một phần trùm lên bản B), ta chỉ việc cộng thêm vào tác phẩm bản A không có mà bản B lại có. Bản A có 409 bài, cộng với số tác phẩm chỉ bản B mới có (73 bài) ta được tất cả 482 bài của 12 tác giả. Như vậy con số tổng hợp là 482 chứ không phải là 472 bài!
So với mô tả của Phan Huy Chú thì số tác giả thiếu 1, trong khi số bài thơ lại thừa 10. Sự chênh lệch thực ra mà nói là không đáng kể, có thể chấp nhận được đối với các tư liệu xưa. Nhưng sự chênh lệch đó đưa lại hai giả thiết như sau:
1. Ghi chép của Phan Huy Chú về Tinh tuyển chư gia luật thi là tương đối tin cậy (hơn ghi chép trong Lê triều thông sử). Sự sai lệch đôi chút giữa ghi chép đó với bản tổng hợp của chúng ta ngày nay là do sự xuất nhập của các dị bản, đặc biệt là của bản chép tay. Và hoàn toàn có thể tìm ra tác giả “thứ mười ba” bị khuyết thiếu.
Với hiện tượng người chép có thể đã chép thêm từ bên ngoài vào 3 bài thơ của Nguyễn Mộng Tuân, ta lý giải được con số 10 bài thơ (và rất có thể là nhiều hơn, chúng ta cũng không thể biết được con số thừa chính xác vì bản B bị rách đầu cuối không thể đối chiếu được, con số 10 chỉ là con số trên thực tế hiện còn) nhiều hơn sự mô tả của Phan Huy Chú là kết quả của việc làm đó.
Với hiện tượng bản sao lại bỏ sót một số lượng tác phẩm khá lớn chỉ riêng ở phần thơ thời Lê (73/223 bài), ta có thể phỏng đoán rằng với phần thơ thời Trần Hồ cũng có hiện tượng đó. Chỉ có điều, sự bỏ sót ở phần thơ thời Lê, cho dù đến 73 bài, không làm mất đi một tác giả nào (có lẽ một phần vì may mắn ngẫu nhiên, một phần vì số lượng tác phẩm trung bình của mỗi tác giả thời Lê nhiều hơn - 55, 75 bài / tác giả - so với thời Trần Hồ - 32, 12 bài / tác giả - đặc biệt ở thời Trần Hồ có nhiều tác giả chỉ có 1, 2 bài được tuyển) trong khi có thể sự bỏ sót ở phần thơ thời Trần, dù chỉ một vài bài, đã làm biến mất một tác giả nào đó trong bản chép tay (bản A). Việc tìm lại nhà thơ bị mất này (nếu đúng) không phải là một công việc đơn giản. Nhưng theo chúng tôi, có thể GS.Nguyễn Huệ Chi đã tìm ra nhà thơ này dựa vào Toàn Việt thi lục nhưng ông chưa dám khẳng định chắc chắn vì lấn cấn chuyện số bài của ông “quá ít” (2 bài) so suy nghĩ của ông rằng tác giả bị khuyết thời Trần nhất định phải có đến 63 bài thơ(14). Trên thực tế, như ta thấy, 73 bài thơ (chứ không phải 63 bài) chỉ có ở bản in, không có ở bản chép tay là các tác phẩm của 3 tác giả thời Lê sơ (Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Vũ Mộng Nguyên) đã bổ sung đầy đủ cho con số những bài khuyết thiếu (so với mô tả của Phan Huy Chú) ở bản A. Hoàn toàn không có chuyện mất một tác giả thời Trần với 63 bài thơ. Bản in đã cho chúng ta thấy: con số 63 bài thơ chênh lệch giữa bản chép tay (A) và ghi chép của Phan Huy Chú chắc hẳn là tác phẩm đời Lê. Trên thực tế, cũng không có tác giả thời Trần nào trong văn bản này có đến 60 bài thơ trở lên (cao nhất là Nguyễn Phi Khanh: 58 bài). Nếu có tác giả “thứ mười ba” bị bỏ sót thì tác giả này cũng chỉ có không nhiều bài thơ. Và như vậy, với việc Nguyễn Sĩ Cố có 2 bài chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn thì rất có thể ông chính là tác giả “thứ mười ba” đó. Chúng tôi nghĩ rằng, có thể chính việc số bài của ông quá ít mới khiến ông bị bỏ quên, bỏ sót. Hiện tượng bỏ sót không phải là quá hiếm. Ta hãy nhớ lại, gần đây thôi, ngay ở văn bản Tinh tuyển chư gia luật thi này, tác giả Lê Bá Quát với vỏn vẹn 4 bài đã không được cụ Trần Văn Giáp nhắc đến trong các công trình thư mục học của mình).
2. Tinh tuyển chư gia luật thi có thể có nhiều hơn 5 quyển (nếu ta nghi ngờ ghi chép của Phan Huy Chú).
Chúng ta hãy nhớ lại, Lê Quý Đôn đã ghi Tinh tuyển chư gia luật thi gồm những 15 quyển và như thế chắc chắn số bài thơ phải nhiều hơn con số 472 mà Phan Huy Chú ghi chép. Ở đây có thể văn bản Lê triều thông sử (chưa bao giờ được in) có lỗi về mặt ghi chép. Việc lộn từ 5 sang 15 là hoàn toàn có thể và không phải là một hiện tượng quá lạ lẫm trong thực trạng các văn bản Hán Nôm của chúng ta hiện nay. Nhưng nếu văn bản này chép đúng những gì Lê Quý Đôn đã biết và đã viết thì sao? Có thể nghĩ rằng, đến thời Lê Quý Đôn, Tinh tuyển chư gia luật thi vẫn còn đầy đủ, toàn vẹn (nhiều hơn 5 quyển) nhưng đến thời Phan Huy Chú, họ Phan chỉ có trong tay một bộ Tinh tuyển chư gia luật thi 5 quyển, 472 bài được chăng? Từ việc tổng hợp từ 2 bản A, B hiện còn với con số tác phẩm vượt qua con số ghi chép của Phan Huy Chú 10 bài (trong khi số tác giả vẫn chưa đến con số 13), có thể đặt vấn đề Tinh tuyển chư gia luật thi còn dài hơn những gì họ Phan mô tả chăng?
Như vậy, cùng với việc thống kê lại chính xác số bài thơ hiện còn của hai văn bản, đồng thời phát hiện thêm sự xuất nhập của bản chép tay, chúng ta đã tạm có thể lý giải được phần nào tình hình văn bản phức tạp của Tinh tuyển chư gia luật thi và hình dung được diện mạo lẫn quá trình truyền bản của nó ít nhất là từ vài ba thế kỷ trở lại đây. Từ đó, chúng ta tiếp tục có hướng tìm tòi, để ý phát hiện thêm những vấn đề còn tồn tại của chúng. Những gì chúng tôi nêu ra mới chỉ là giả thiết, là câu hỏi để mọi người cùng quan tâm tìm cách giải đáp. Chúng tôi tin rằng, đến một lúc nào đó, nếu điều kiện tư liệu cho phép, cùng với sự dày công khảo sát của các nhà nghiên cứu, hoàn toàn có thể khôi phục được văn bản Tinh tuyển chư gia luật thi sao cho gần với diện mạo ban đầu nhất.
Chú thích:
(1) Tinh tuyển chư gia luật thi, Thư viện VNCHN, A.574.
(2) Tinh tuyển chư gia luật thi, Thư viện VNCHN, A.2657.
(3) Trần Văn Giáp: Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, Nxb KHXH, H. 1971, tr.107-109.
(4) Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 2, Nxb KHXH, H. 1990, tr.30-33.
(5) Sau đây là thống kê chi tiết về bản A.574 của Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam, Sđd, tr.107:
Số quyển | Số tờ | Triều đại | Tên thi gia | Số bài thơ |
Q.I | 1-13 | Trần | Trần Nguyên Đán | 44 |
13-25 | ,, | Nguyễn Trung Ngạn | 42 |
25-30 | ,, | Phạm Sư Mạnh | 24 |
31-34 | ,, | Phạm Nhân Khanh | 13 |
35-50 | ,, | Nguyễn Phi Khanh | 15 |
50-64 | ,, | Phạm Nhữ Dực | 63 |
64-66 | ,, | Lê Cảnh Tuân | 9 |
Q. II | 1-13 | Lê | Lê Trãi | 54 |
13-20 | ,, | Lý Tử Tấn | 35 |
21-33 | ,, | Nguyễn Mộng Tuân | 54 |
33-35 | ,, | Vũ Mộng Nguyên | 9 |
| | Cộng: | 362 |
(6) Thống kê chi tiết về bản A.2657 của Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam, Sđd, trang 108 như sau:
Quyển IV (tờ 2-18) Lê triều, Lê Trãi ... 52 bài
Quyển IV (tờ 18-31) Nguyễn Tử Tấn ...40 bài
Quyển V (tờ 1-32) Nguyễn Mộng Tuân ...99 bài
Quyển V (tờ 32-41) Vũ Mộng Nguyên ... 28 bài
Cộng: ... 219 bài
Nếu theo kết quả thống kê trên đây của Trần Văn Giáp thì tổng hợp hai dị bản lại, ta sẽ có một bản Tinh tuyển chư gia luật thi gồm 429 bài thơ (362+67) của 11 tác giả; con số này khác rất nhiều với con số ghi chép của Phan Huy Chú: 472 bài của 13 tác giả.
(7) Phan Huy Chú: Văn tịch chí, trong Lịch triều hiến chương loại chí, tập 3, Nxb. KHXH. H. 1992.
(8) Chúng ta lưu ý rằng, quan niệm của người xưa về đơn vị “bài thơ” (thủ) khá nhất quán, một bài là một cấu trúc ngôn từ hoàn chỉnh chứ không theo đầu đề. Do đó có tình trạng một đầu đề lại có nhiều bài, tạo thành một chùm thơ. Trong khi khảo sát, chúng tôi cũng thống nhất với quan niệm về đơn vị bài như vậy.
(9) Lê Quý Đôn: “Nghệ văn chí” trong Lê Quý Đôn toàn tập, tập 3 (Đại Việt thông sử), Nxb. KHXH. H. 1977.
(10) Nguyễn Huệ Chi: “Khảo luận văn bản” trong Thơ văn Lý Trần, tập 1, Nxb. KHXH, H. 1977, tr.67-70.
(11) Nguyễn Huệ Chi: mục Tinh tuyển chư gia luật thi, trong Từ điển văn học, tập II, Nxb. KHXH, H. 1984, tr.394.
(12) Hai bài của Nguyễn Sĩ Cố trong Toàn Việt thi lục, theo khảo sát của GS. Nguyễn Huệ Chi, cũng được chép trong một số bản sao Lĩnh Nam chích quái (cuối truyện Tản Viên sơn thần và Bạch Hạc thần). Theo ông, “có phần chắc họ Lê đã đọc Lĩnh Nam chích quái và đã rút hai bài thơ kia từ đây để đem vào Toàn Việt thi lục” (Thơ văn Lý Trần, Sđd, trang 70).
(13) Lê Quý Đôn: Toàn Việt thi lục, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, A.1262.
(14) Theo GS.Nguyễn Huệ Chi, có 2 lí do khiến cho “Nguyễn Sĩ Cố không thể là tác giả “thứ mười ba” trong Tinh tuyển chư gia luật thi mà ta đang muốn tìm. Thứ nhất, vì số lượng thơ của ông quá ít, chỉ có 2 bài, trong khi đó số còn thiếu trong bản Tinh tuyển chép tay là: 1 tác giả, 63 bài. Hơn nữa, thơ Nguyễn Sĩ Cố là thơ thất tuyệt, thể thơ tuyệt đối hiếm ở tập Tinh tuyển. Trong bản chép tay hiện còn chỉ có một bài duy nhất: Dạ khởi ngẫu tác của Trần Nguyên Đán” (Thơ văn Lý - Trần, Sđd, trang 69-70). Về lí do thứ nhất, chúng tôi đã trình bày ở chính văn. Lí do thứ hai, theo chúng tôi, cũng chưa đủ sức thuyết phục.
Phụ lục I: DANH MỤC TÁC GIẢ VÀ SỐ LƯỢNG BÀI THƠ Ở HAI BẢN A VÀ B
S TT | Tác giả | Số bài thơ ở bản A | Số bài thơ ở bản B | Ghi chú |
1 | Trần Nguyên Đán | 44 | 0 | Bản A.574 bắt đầu q1 |
2 | Nguyễn Trung Ngạn | 42 | 0 | |
3 | Lê Bá Quát | 4 | 0 | |
4 | Phạm Sư Mạnh | 24 | 0 | |
5 | Phạm Nhân Khanh | 13 | 0 | |
6 | Nguyễn Phi Khanh | 58 | 0 | |
7 | Phạm Nhữ Dực | 63 | 0 | |
8 | Lê Cảnh Tuân | 9 | 0 | Bản A.574 hết q1 |
9 | Lê [Nguyễn] Trãi | 54 | 52 | Bản A.574 bắt đầu q2 Bản A.2657 rách đầu |
10 | Nguyễn [Lý] Tử Tấn | 35 | 40 | Bản A.2657 hết q4. |
11 | Nguyễn Mộng Tuân | 54 | 102 | Bản A.2657 bắt đầu q5 |
12 | Vũ Mộng Nguyên | 9 | 29 | Bản A.574 hết q2 Bản A.2657 rách cuối |
| Tổng cộng | 409 | 223 | |
Phụ lục II: BẢNG THỐNG KÊ CÁC BÀI THƠ THỜI LÊ SƠ CHỈ CÓ Ở BẢN B
S TT | Tên bài | Tác giả | Ghi chú |
1 | Hạ đăng cực | Lý Tử Tấn | |
2 | Hoá sắt | ,, | |
3 | Xuân dạ tảo khởi | ,, | |
4 | Bốc cư | ,, | |
5 | Xuất tụ vân | ,, | |
6 | Chính đán thượng thọ | Nguyễn Mộng Tuân | |
7 | Hạ hoàng tử sinh | ,, | |
8 | Hỗ giá du Thanh Hư động | ,, | |
9 | Tháp lương bồng | ,, | |
10 | Khiển hứng | ,, | |
11 | Tứ tri kim | ,, | |
12 | Nhất điều băng | ,, | |
13 | Da tử quan | ,, | |
14 | Thi vương | ,, | |
15 | Sa đê | ,, | |
16 | Tân cấu tiểu trai | ,, | |
17 | Thư trai tân thành | ,, | |
18 | Dạ khởi độc tọa khiển hoài | ,, | |
19 | Thí vương cổ dụng bút | ,, | |
20 | Tân chủng phần hà | ,, | |
21 | Tịch thượng trân | ,, | |
22 | Đề Tử Lăng dĩ túc gia đế phúc đồ | ,, | |
23 | Phong vân đồ | ,, | |
24 | Thang bàn | ,, | |
25 | A Phòng cung | ,, | |
26 | Hoàng vân bố trận | ,, | |
27 | Hoàng thiên đãng | ,, | |
28 | Nhật sắc | ,, | |
29 | Vân thê | ,, | |
30 | Kim giám lục | ,, | |
31 | Phần trì liên | ,, | |
32 | Tao đàn | ,, | |
33 | Kim đằng | ,, | |
34 | Thiết quyền | ,, | |
35 | Tử vi đàn | ,, | |
36 | Đài tiền | ,, | |
37 | Hà y | ,, | |
38 | Ngẫu ti | ,, | |
39 | Trúc bì | ,, | |
40 | Cảnh chẩm | ,, | |
41 | Viên trung lạc | ,, | |
42 | Đề Trần Bác Lạc Dương kỵ lư đồ | ,, | |
43 | Cấm lâm | ,, | |
44 | Lão bút | ,, | |
45 | Mạn thuật | ,, | |
46 | Ma Nhai bi | ,, | |
47 | Khổng tường | ,, | |
48 | Ngự câu liễu | ,, | |
49 | Từ lâm giác hổ | ,, | |
50 | Mộc bút hoa | ,, | |
51 | Quân chu | ,, | |
52 | Vịnh thằng mặc | ,, | |
53 | Dân thuỷ | ,, | |
54 | Văn miếu trĩ tùng | Vũ Mộng Nguyên | |
55 | Ất Mùi tuế đán tự thọ | ,, | |
56 | Chính nguyệt quá hữu nhân gia | ,, | |
57 | Hạ hữu nhân trừ quan | ,, | |
58 | Nhan lạc | ,, | |
59 | Mang Kiệt sơn | ,, | |
60 | Thái miếu đỉnh | ,, | |
61 | Quán cổ kim đỗng kiến ngẫu thành | ,, | |
62 | Ngũ vương tướng | ,, | |
63 | Tống Nội mật viện đồng tri Nguyễn Thúc Huệ bắc sứ | ,, | |
64 | Ất Mão tuế trừ dạ tức sự | ,, | |
65 | Nguyên đán tảo triêu | ,, | |
66 | Hạ chuyển vận thăng đài chức | ,, | |
67 | Nông vọng | ,, | |
68 | Tích xuân | ,, | |
69 | Văn oa | ,, | |
70 | Tân chủng mai | ,, | |
71 | Đinh tế lễ thành | ,, | |
72 | Song đầu liên | ,, | |
73 | Tự thọ | ,, | |
Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.629-642)