75. Bài văn Mục lục thờ thành hoàng làng ở xã Đường Lệ
BÀI VĂN MỤC LỤC THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG
Ở XÃ ĐƯỜNG LỆ
NGUYỄN THỊ TRANG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Bài văn mục lục này được chép trong sách Đường Lệ xã tục lệ, lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm ký hiệu AF.a7/9. Nguyên văn bài mục lục viết bằng chữ Nôm, cuối bài thấy ghi hàng chữ “Phụng sao ngày mồng 7 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 1 (1886)”. Sách Đồng Khánh địa dư chí lục, cho biết xã Đường Lệ thuộc tổng Hạ Lôi huyện Yên Lãng phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây. Đến đầu thế kỷ 20, xã Đường Lệ mới đổi tên là Thường Lệ, vẫn thuộc tổng Hạ Lôi, song lúc này tổng Hạ Lôi đã thuộc phủ Yên Lãng tỉnh Phúc Yên rồi. Sách Thư mục thần tích thần sắc do Viện Thông tin khoa học xã hội biên soạn năm 1996 cho biết xã Thường Lệ thờ bốn vị thành hoàng là Lưu Tào, Lưu Bình, Lưu Phương và Vương Thị Minh. Hàng năm dân làng tổ chức lễ rước Thành hoàng làng rất long trọng. Trong ngày lễ hội tưng bừng đó, viên chủ tế được phân công đọc bài văn mục lục mừng thánh này. Bài văn có hai nội dung chính, một là chúc cho tứ dân sĩ, công, nông, thương của làng Đường Lệ luôn nhận được sự che chở của thần để có được cuộc sống hạnh phúc. Hai là nói về bốn thú vui của người dân địa phương là ngư, tiều, canh, mục. Giữa hai nội dung ấy có lời dẫn ghi rõ là:
Đường tứ dân kể đã phong lưu
Bề tứ thú càng thêm thịnh mỹ.
Nhận thấy đây là bài văn Nôm có giá trị, chúng tôi xin phiên âm chú giải để giới thiệu trong Hội nghị thông báo Hán Nôm lần này.
Toàn văn như sau:
Mừng nay
Gặp tiết thanh lương,
Chiếu đời bình trị.
Trên thánh đế chắp tay rũ áo, nấc thác bề tôi,
Dưới hiền thần đua sức cùng lòng đặt yên bốn bể.
Thời thái hoà đều dựng phúc Cưu ê,
Chốn hà nhĩ cùng ngâm thơ ký túy.
Đình ta nay:
Chế độ đoan trang,
Qui mô tráng lệ.
Cơ đồ vốn nối cơ đồ cũ, trên kim đài phô chiếu ngọc toà vàng.
Cảnh trí còn in cảnh trí xưa, ngoài cổ thụ chống tàng xanh tán tía
Miếu đường đã rạng vẻ long vân(1)
Quảng dã lại giãi đồ phong thủy(2)
Trước Chu Tước sau Huyền Vũ, thiên nhiên dưới ở tổ sơn,
Hữu Bạch hổ tả Thanh long, địa tự chầu về nhân lý,
Mới hay đất cấu chung linh(3)
Liền thấy người sinh tuấn dị.
Văn những đấng mưu vương vĩ quốc(4), vào trong triều những mực miếu đường,
Võ nhiều tài ngự vũ chiết xung(5), ngoài ra khổn đặt yên bi bỉ(6)
Lưỡng đồ xen đã thản đương(7)
Bách đổ lại thêm cụ khởi(8).
Sĩ thì:
Vào cửa Trình, Chu,
Tắm sông Thù, Tứ
Áng thu vi nổi tiếng hội công danh,
Người cử tử nức lòng trường xuân thí.
Lừng danh bề sự nghiệp
Phàm nam nhi thỏa chí.
Nông thì:
Khéo léo trăm nghề
Đủ đầy mọi vẻ.
Ngoài thành thị thêu hoa dệt gấm, hoa gấm rỡ ràng.
Trong miếu đường dấu cột đồng lương, cột đồng chống khoẻ.
Thương thì:
Mọi thứ thông dùng
Đủ điều cơ trí(9)
Tiền trăm bạc mớ, đi về thì thuyền cả chi thanh.
Buôn một bán mười, xuôi ngược cũng trống tre cờ điệp.
Đường tứ dân(10) kể đã phong lưu,
Bề tứ thú(11) càng thêm thịnh mỹ.
Canh nọ vui bề điền dã, cơn thôi cầy giúp được nền vương(12).
Tiều kia mến cảnh sơn lâm, khi cất gánh rập nên nghiệp đế.
Người ngư phủ thảnh thơi sông Vị phân vực gỡ kình.
Chàng mục đồng đủng đỉnh nội đào, buông dê thả ngựa,
Nhân khang vật phụ, người đua lên cõi thọ xuân đài.
Thượng mục hạ hoà, tiệc bèn mở thờ thần cựu lệ(13)
Kép nọ lờn vờn trong ngọc bộ
Một đoàn hợp y quan lễ nhạc đua sức ca hoan,
Ba đấng vui tước đức tôn ti hết lòng phụng sự.
Đám tàng qui cả đã nghiêm trang,
Lời giao ước lại càng cặn kẽ.
Phép thì chữ viết trung viết tín, sự thần tu kính thành,
Thói học đòi hưng nghĩa hưng nhân, tuân tục chớ điều bạo lệ(14)
Ấy là răn trưởng ấu hương nhân(15),
Này đã dặn bài ưu ca kỹ(16)
Ả đào nọ cung bắc ngân nga, cách điều chớ vào nhân,
Nhà kép kia tiếng sáo tiếng đàn hí tiếu khôi hài cho phải lễ.
Đến dùng tân khách du quan,
Cũng chớ quyền hành tháo thứ.
Vậy mới vẹn kính thành hai chữ.
Tả nghiêm hữu kính đã nên điệu hoan khánh nhất đường,
Lễ bị nhạc hoà lại dâng chữ tung hô vạn tuế.
Lời thánh đọc hoa phong phú thọ, muôn dân kính chúc hồng đồ,
Chữ gồm no hồng phạm khang ninh, trăm phúc tuôn về Đường Lệ.
Chú thích:
1. Miếu đường: triều đình. Ý cả câu nói trong triều vua sáng gặp được tôi hiền, ứng với điềm hội rồng mây rộng mở, nên thiên hạ được thái bình.
2. Quảng dã: thôn xã rộng lớn. Ý cả câu nói nhờ cảnh thái bình mà dân cư nơi thôn dã lại mở hội chúc mừng.
3. Cấu: xây dựng, tạo nên. Ý nói đất làng Đường Lệ linh thiêng đã tạo ra nhiều người tài giỏi.
4. Mưu vương vĩ quốc: lập ra mưu hay giúp vua xây dựng đất nước.
5. Ngự vũ chiết xung: làm võ tướng đánh nhau nơi chiến trận.
6. Biên bỉ: biên giới xa xôi.
7. Thản đương: bằng phẳng, rộng rãi.
8. Cụ khởi: cùng phát triển thêm lên.
9. Cơ trí: trí tuệ khôn ngoan, có nhiều mưu lược.
10. Tứ dân: bốn hạng dân là sĩ (học trò), nông (nhà nông), công (thợ thủ công) và thương (người buôn bán).
11. Tứ thú: bốn điều thú vị làm việc ở thôn dã làng bản là ngư (đánh cá), tiều (đốn củi), canh (cầy ruộng) và mục (chăn trâu).
12. Cơn (từ cổ): lúc, khi. Câu này nhắc đến điển Y Doãn từng đi cày ở đất Săn, sau ra giúp Thành Thang làm nên nghiệp lớn, xây dựng vương triều Thương kéo dài 600 năm.
Các câu dưới lần lượt giới thiệu đến Gia Cát Lượng ở ẩn tại Nam Dương, sau giúp Lưu Bị, Khương Tử Nha đi câu cá ở sông Vị sau giúp Chu Vũ Vương, Ninh Thích đi chăn trâu sau giúp Tề Hoàn Công.
13. Sau câu “Tiệc bèn mở thờ thần cựu lệ” này còn có một dòng chú nhỏ ghi là:
Hựu thể vân:
Phụ vui đời Trinh Quán, cách quản huyền lọ đổng ca thanh,
Tĩnh ninh cảnh Nhục Trang, tiệc tơ trúc lại theo cựu lệ.
Đây có thể coi là một dị bản đối với hai câu trên của bài văn mục lục này.
14. Bạo lệ: ngang ngạnh, bừa bãi.
15. Hương nhận: người làng.
16. Bài ưu ca kỹ: người làm nghề ca hát ở giáo phường./.
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.747-751)