VI | EN
76. Phát hiện và nghiên cứu bước đầu 15 bia thần vị - Di sản Hán Nôm tại nhà thờ họ Nguyễn Đăng
tb2006

PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU
15 BIA THẦN VỊ - DI SẢN HÁN NÔM TẠI
NHÀ HỌ NGUYỄN ĐĂNG
(1)

NGUYỄN QUANG TRUNG - Viện Sử học

MAI XUÂN HẢI - Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trong quá trình khảo sát cụm di tích đình chùa miếu tượng thôn Phương Quế, xã Liên Phương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, chúng tôi đã phát hiện ra 15 bia thần vị tại nhà thờ họ Nguyễn Đăng.

15 thần vị tại nhà thờ họ có chất liệu bằng đá xanh, kích thước thống nhất là 22x15cm, các dòng chữ Hán được đặt trong các khung hình chữ nhật, trán bia (bia Thần vị) đều thống nhất có hình mặt trời với những áng mây lửa. (Theo chúng tôi đây là những biểu tượng có một không hai của dòng họ Nguyễn Đăng); Về cơ bản các thần vị có kích thước và hoa văn giống nhau, tuy nhiên có 3 Thần vị có kích thước lớn hơn một chút 25x17cm, các hoa văn mặt trời và mây lửa đậm nét hơn, rực rỡ hơn. Các cụ trong họ cho biết nhà thờ họ trước đây có 18 Thần vị, hiện còn 15, mất 3; trong đó có một Thần vị của cụ Nguyễn Bính (Nguyễn Đăng Bính ?). Để có thể làm sáng tỏ các vấn đề trên, sau đây chúng tôi xin phiên âm và dịch nghĩa toàn bộ 15 Thần vị.

Thần vị 1

Phiên âm: Cao tổ khảo Lê Sinh đồ Nguyễn tính tự Cự Thắng phủ quân thần vị.

Dịch nghĩa: Thần vị cụ cao tổ khảo đỗ Sinh đồ nhà Lê họ Nguyễn tự là Cự Thắng phủ quân.

Thần vị 2

Phiên âm: Hiển tằng tổ khảo Nguyễn tướng công tự Phúc [] Hiển tằng tổ tỉ Nguyễn nhị nương hiệu Thục Tiên, Trưởng tử Hàn lâm Đăng Sĩ, thứ tử Giám sinh Đăng Tá, quý tử Tri huyện Đăng Nho, nữ thứ nữ Thị Viết kị.

Dịch nghĩa: Bài vị của các cụ Hiển tằng tổ khảo Nguyễn tướng công tự là Phúc [], cụ bà Hiển tằng tổ tỉ là Nguyễn nhị nương hiệu là Thục Tiên, con trưởng làm quan ở Viện Hàn lâm là Đăng Sĩ, con thứ đỗ Giám sinh là Đăng Tá, con út làm quan Tri huyện là Đăng Nho, con gái lấy chồng là Thị Viết.

Thần vị 3

Phiên âm: Cao tổ khảo Lê cố Huyện thừa Nguyễn tính tự Đình Bá hiệu Trung Bảo. Cao tổ khảo cố ý viện đại liêu, Nguyễn tính, hiệu Minh Bình phủ quân, Cao tổ tỉ Vũ thị hiệu Từ Hòa nhụ nhân.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ Cao tổ khảo làm quan Huyện thừa nhà Lê họ Nguyễn tự là Đình Bá, hiệu là Minh Bình phủ quân, cụ bà Cao tổ tỉ họ Vũ hiệu là Từ Hòa nhụ nhân.

Thần vị 4

Phiên âm: Cao tổ khảo Nguyễn thị tự Phúc Thịnh phủ quân. Cao tổ tỉ hiệu Mĩ Hạnh nhụ nhân thần vị.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ Cao tổ khảo họ Nguyễn tự là Phúc Thịnh phủ quân, cụ bà Cao tổ tỉ hiệu là Mĩ Hạnh nhụ nhân.

Thần vị 5

Phiên âm: Cao tổ khảo tự [] Kiện hiệu Trung [] phủ quân. Lê cố Sinh đồ Chiêu văn quán học sĩ. Tổ tỉ Nguyễn thị hiệu Từ Lộc nhụ nhân thần vị.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ cao tổ khảo tự là [] Kiện, hiệu là Trung [] phủ quân. Cụ Sinh đồ Chiêu văn quán học sĩ, cụ bà là tổ tỉ họ Nguyễn, hiệu là Từ Lộc phụ nhân.

Thần vị 6

Phiên âm: Cao tổ khảo Lê cố Hương cống, Quốc tử giám sinh Nguyễn tính tự Mục Chi, hiệu là Quế Đình phủ quân thần vị.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ Cao tổ khảo đỗ Hương cống nhà Lê, là Giám sinh Quốc tử giám họ Nguyễn tự là Mục Chi, hiệu là Quế Đình phủ quân.

Thần vị 7

Phiên âm: Cao tổ khảo Lê cố Hương cống, Đinh Mùi khoa Hoàng từ, An Sơn Tri huyện Nguyễn tính tự Đăng Nho phủ quân. Cao tổ tỉ Trần thị hiệu Diệu Toàn phụ nhân. Lê cố Sinh đồ Nguyễn tính tự… phủ quân Lê cố hương cống Nguyễn tính tự… phủ quân.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ Hiển tổ khảo đỗ Hương cống nhà Lê, đỗ Hoành từ khoa Đinh Mùi, làm Tri huyện huyện An Sơn tự là Đăng Nho phủ quân. Cụ bà cao tổ tỉ họ Trần hiệu là Diệu Toàn nhụ nhân. Cụ đỗ Sinh đồ nhà Lê họ Nguyễn tự là…. Cụ đỗ Hương cống nhà Lê họ Nguyễn, tự là…

Thần vị 8

Phiên âm: Cao tổ khảo Lê cố Sinh đồ Nguyễn tính tự Khắc Tuấn phủ quân. Tổ tỉ Nguyễn thị hiệu… Hậu nhụ nhân. Cao tổ khảo Nguyễn thị tự Đăng Vị phủ quân. Cao tổ khảo Nguyễn thị tự Thế Truyền phủ quân. Tổ tỉ Nguyễn thị hiệu…Hậu nhụ nhân. Cao tổ khảo Nguyễn thị tự…. phủ quân thần vị.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ Cao tổ khảo đỗ Sinh đồ nhà Lê họ Nguyễn tự là Khắc Tuấn phủ quân. Cụ bà cao tổ tỉ họ Nguyễn hiệu là…. Hậu nhụ nhân. Cụ cao tổ khảo đỗ Hương cống nhà Lê tự là…. Cụ cao tổ khảo họ Nguyễn tự là Đăng Vị phủ quân. Cụ cao tổ khảo họ Nguyễn tự là Thế Truyền phủ quân. Cụ bà họ Nguyễn hiệu là…. Hậu nhụ nhân. Cụ cao tổ khảo họ Nguyễn, tự là…. phủ quân.

Thần vị 9

Phiên âm: Cao tổ khảo Nguyễn thị tự Văn Khê phủ quân, hiệu Phúc Hiên phủ quân. Cố Lê Hương cống Kim Thành Tri huyện. Tổ tỉ Đỗ Thị Hạnh hiệu Từ Tính nhụ nhân thần vị.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ Cao tổ khảo họ Nguyễn tự là Văn Khê, hiệu là Phúc Hiên. Cụ bà là Đỗ Thị Hạnh hiệu là Từ Tính nhụ nhân.

Thần vị 10

Phiên âm: Cao tổ khảo Nho sinh Nguyễn tính tự Văn Mĩ phủ quân, Lê cố Hương cống. Lê cố Hương cống Nguyễn thị tự Khiêm Phụng phủ quân. Tổ tỉ Ngô Thị Hạnh hiệu là Từ Thuận nhụ nhân thần vị.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ cao tổ khảo đỗ Nho sinh họ Nguyễn tự là Văn Mĩ phủ quân. Cụ cao tổ khảo đỗ Hương cống nhà Lê, tự là Khiêm Phụng phủ quân. Cụ bà Ngô Thị Hạnh hiệu là Từ Thuận nhụ nhân.

Thần vị 11

Phiên âm: Hiển tằng tổ khảo Hàn Lâm viện thị thủ, kiêm Thị nội, tán Phương Quế hầu Nguyễn tướng công tự Huyền Đạo, hiệu Trung Túc, Hiển tằng tổ tỉ Nguyễn quý thị hiệu Từ Trinh.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ Tằng tổ khảo, chức Hàn Lâm viện thị thủ kiêm Thị nội, tước Phương Quế hầu Nguyễn tướng công tự là Huyền Đạo, hiệu là Trung Túc, cụ bà Hiển tằng tổ tỉ họ Nguyễn hiệu là Từ Trinh.

Thần vị 12

Phiên âm: Cao tổ khảo Lê cố Mậu Thìn khoa nhị giáp Tiến sĩ Trung thư, lãnh Hành khiển Nguyễn tính tự Vĩnh Tích tướng công thần vị.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ Cao tổ khảo, đỗ nhị giáp Tiến sĩ khoa Mậu Thìn làm quan tới chức Trung thư, Hành khiển họ Nguyễn tự là Vĩnh Tích tướng công thần vị.

Thần vị 13

Phiên âm: Cao tổ khảo Nguyễn tính tự Cương Giới phủ quân, Cố Lê Hương cống thụ Thị nội văn chức, Tổ tỉ Trần thị hiệu Y Ni nhụ nhân thần vị.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ cao tổ khảo họ Nguyễn tự là Cương Giới phủ quân; cụ đỗ Hương cống nhà Lê giữ chức Thị nội văn chức; cụ bà họ Trần hiệu là Y Ni nhụ nhân.

Thần vị 14

Phiên âm: Cao tổ khảo Văn Nhiêu hiệu Mậu Hưu phủ quân, Lê cố Sinh đồ thụ Vệ úy Nguyễn tính hiệu Mậu Hưu phủ quân; Lê cố sinh đồ thụ Vệ úy Nguyễn tính tự Văn Nhiêu hiệu Mậu Hưu phủ quân; Cao tổ tỉ Phạm thị hiệu Từ Huệ nhụ nhân thần vị.

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ Cao tổ khảo là cụ Văn Nhiêu, hiệu là Mậu Hưu phủ quân. Cụ đỗ Sinh đồ nhà Lê giữ chức Vệ úy họ Nguyễn tự là Văn Nhiên hiệu là Mậu Hưu phủ quân; cụ bà cao tổ tỉ họ Phạm hiệu là Từ Huệ nhụ nhân.

Thần vị 15

Phiên âm: Hiển tổ tỉ Nguyễn gia chính thất; Hiển tổ tỉ…..(mờ)

Dịch nghĩa: Thần vị của cụ bà là vợ cả nhà họ Nguyễn. Cụ bà…. (mờ)

- Về đại tự, câu đối tại nhà thờ họ có một số đôi câu đối rất đặc biệt khái quát được cả một giai đoạn lịch sử của dòng họ Nguyễn Đăng gắn với thời đại Lê Thánh Tông và thời Lê Trung hưng suốt từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Chúng tôi xin phiên âm và dịch nghĩa như sau:

* Đại tự ở chính điện

Phiên âm: Tôn miếu dưỡng chi tử tôn bảo chi, trắc giáng toại chỉ túc dạ kính chỉ.

Dịch nghĩa: Thần ẩn hiện trên điện thờ con cháu hãy cung kính, thờ cúng.

* Câu đối ở chính điện

Phiên âm: Khoa kỳ thế bảng kỳ môn đăng Đình nguyên đăng Hội tuyển đăng Sĩ (vọng) đăng Hương tiến lịch chế cử chư khoa. Hoạn long vô lự sổ thập diệp, Hầu dĩ dương, họa dĩ dân, lãnh quận tể cập y viện đại sứ, lãnh Hành khiển, lãnh Trấn ti, lãnh Hàn lâm, đế mục vô tư ngũ bách niên.

Dịch nghĩa: Dòng họ này đã đỗ đạt qua các kỳ thi Đình nguyên, thi Hội, thi Sĩ Vọng, thi Hương tiến, con đường làm quan rộng mở thênh thang đến nay đã hơn 10 đời.

Họ này từ xa xưa đã làm quan giúp dân, từng trải qua các chức Hành khiển, Trấn ti, Hàn lâm, Quận tể, Thái y viện, Đại sứ, kéo dài đến nay đã hơn 500 năm.

KẾT LUẬN

Việc phát hiện những di sản Hán Nôm qua 15 thần vị bằng đá và các đại tự, câu đối tại nhà thờ họ Nguyễn Đăng mà người mở đầu là Binh bộ Thượng thư thời Lê Thánh Tông, Thám hoa Nguyễn Vĩnh Tích đã cho chúng ta hiểu biết thêm tầm quan trọng của xã Phương Quế, huyện Thanh Trì, Phủ Thường Tín, đạo Sơn Nam Thượng trong lịch sử dân tộc và những đóng góp của dòng họ cho các sự nghiệp quân sự, văn hóa, y học….

Một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận là từ việc nghiên cứu hệ thống bia thần vị tại nhà thờ họ cho thấy đây cũng là một phương pháp tiếp cận khoa học lịch sử, để từ đó đối chiếu các bộ sử quốc gia, bổ sung thêm những tư liệu làm rõ thêm sự nghiệp của các danh nhân văn hóa mà bấy lâu nay chính sử chưa làm rõ như Binh bộ Thượng thư Nguyễn Vĩnh Tích, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính v.v…

Chú thích:

(1) Xã Phương Quế nay là thôn Phương Quế, xã Liên Phương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.7592-758)

Nguyễn Quang Trung - Mai Xuân Hải
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm