VI | EN
77. Giới thiệu tấm bia Ngạn Thụ y miếu bi kí (TBHNH 2012)
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.627-633)

GIỚI THIỆU TẤM BIA NGẠN THỤ Y MIẾU BI KÝ

NGUYỄN HỮU TÂM - ĐỖ DANH HUẤN

Viện Sử học

bia hiện được dựng trong xưởng gỗ xã Xuân Thụ, Từ Sơn, Bắc Ninh. Bia được khắc trên hai mặt, chất liệu đá xanh, cao 128cm, rộng 60 cm, lòng bia 46cm, diềm bia 6,5cm. Trán bia cao 24cm, rộng 76cm, trên khắc lưỡng long chầu nguyệt, khắc chìm đại tự 岸樹醫廟碑記 (Ngạn Thụ y miếu bi ký). Diềm bia khắc hoa lá cúc dây cách điệu, khá uyển chuyển. Bia gồm 18 dòng, mỗi dòng khoảng 50 chữ Hán, toàn bộ hai mặt bia khoảng 1300 chữ bao gồm chữ Hán và một số chữ Nôm về tên đất, tên người, chữ viết chân phương, dễ đọc. Niên đại dựng bia năm Duy Tân thứ 3 (1909).

Chúng tôi xin được giới thiệu bản dịch tấm bia ngõ hầu cung cấp thêm tư liệu về lịch sử Y miếu và Cụ Lương y Đào Xuân Mãn cùng những tục lệ trong dịp cúng tế tại Y miếu xã Xuân Thụ, Từ Sơn, Bắc Ninh.

Bài ký viết trên bia Y miếu xã Xuân Thụ huyện Đông Ngàn

Mặt bia 1:

Y miếu ở xã Xuân Thụ huyện Đông Ngàn là do ông Đào Xuân Mãn tự là Quang Phủ có lòng nghĩa mà dựng lên. Ông Xuân Mãn người xã Xuân Thụ huyện Đông Ngàn, thuở nhỏ sáng dạ, ngay từ sớm đã thông hiểu thư tịch của Khổng Tử. Vốn ông cha là người tinh thông y học lại kiêm theo nghiệp học sách Hoàng đế, vì Y thuật là Nho học vậy.

Đương thời dân phu trong làng phần nhiều thoái thác thân ở nhà. Một khi gặp cảnh điêu linh, cũng lại dựa vào việc thay đổi lý số, chữa trị cho đất nước, kéo dài tuổi thọ của dân chúng, đấy là hoài bão buổi đầu của ông vậy!

Từ khi tân học được thịnh hành, mà ông lại chú tâm vào nghề y rất là chân thành. Ý nghĩ nhớ đến lễ báo đền nguồn cội của ông không lúc nào quên.

Vào năm Thành Thái thứ 15 (1903), ông tìm cách quyên góp của cải trong nhà dựng lên Y miếu để hàng năm cúng tế. Điều đó để làm sáng rõ công lao trợ giúp sinh thành phát triển vạn vật của Hoàng đế ta. Cái học của Khổng Tử được truyền bá rộng rãi tưới nhuần đến dân chúng ở ngày nay. Ý nghĩa rất sâu xa vậy!

Ngõ hầu Tiên thánh, Tiên sư, cùng các liệt vị Tiên tổ đã chứng giám cho lòng thành (của ông), tôi cũng có ý nguyện cùng với niềm mong mỏi lớn lao của người xưa vậy. Cho nên tôi làm bài ký này.

Ngày lành tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909),

Kẻ hậu học là Vũ Tương Bái soạn.

Kê khai như sau:

Một ngôi miếu ba gian với Tam quan cùng bốn mặt tường ở xứ đông điếm làng Xuân Thụ gồm 1 sào 13 thước, phía đông giáp ruộng Thủ từ Văn Ký, phía tây giáp với đường nhỏ mạn tây của điếm làng.

Vườn ruộng của Thủ từ ở đất cạnh miếu 14 thước, phía đông giáp gò đất, phía tây sát ngôi miếu.

Ngày Nguyên đán, ngày mồng một (sóc nhật), ngày rằm (vọng nhật) và các lễ tết hương đèn trong năm, ruộng gồm 9 sào 5 thước.

Số thửa ở làng Xuân Thụ như sau:

Một thửa ở xứ cửa Cà Uyển 12 thước, phía đông giáp với ruộng ông Xuân Mãn, phía tây giáp ruộng tế.

Một thửa ở xứ Nền Trước đền 8 thước, phía đông giáp gò đất, phía tây giáp ruộng ông Xuân Mãn.

Một thửa ở xứ Bờ Vách 4 sào 10 thước, phía đông giáp ruộng ông Văn Lãm, phía tây giáp ruộng nhà Hai Phố.

Lại có một thửa 3 sào năm thước, phía đông giáp hỏa xa mãn, phía tây giáp ruộng miếu.

Ruộng tế mùa xuân kê khai như sau:

Số thửa ở xã Cẩm Tương như sau:

Một thửa ở xứ Cầu Mới 1 sào 1 thước 1 tấc, phía đông giáp ruộng Văn Trác, phía tây giáp ruộng Văn Hĩ.

Lại có một thửa 1 sào 4 thước 1 tấc, phía đông giáp ruộng họ, phía tây giáp ruộng [... mất chữ].

Lại có một thửa 3 sào 5 thước 7 tấc, phía đông giáp với ruộng Văn Thệ, phía tây giáp với ruộng Văn Bái.

Một thửa ở xứ Đồng Miện 3 sào 9 tấc, phía đông giáp ruộng Văn Đinh, phía tây giáp ruộng Cụ Đạo.

Lại có một thửa 4 sào 10 thước, phía đông giáp ruộng miếu, phía tây giáp ruộng hậu.

Số thửa ở xứ Đồng Đẻ Tam Lư như sau:

Hai thửa liền nhau 3 sào 7 thước, phía đông giáp thôn Lã, phía tây giáp ruộng Văn Đạt.

Lại có một thửa 1 sào 14 thước, phía đông giáp ruộng Văn Đạt, phía tây giáp đường địa giới mạn tây.

Số thửa ở xã Xuân Thụ như sau:

Một thửa ở xứ Mả Ngài 13 thước, phía đông giáp ruộng Văn Đạt, phía tây giáp gò đất.

Số ruộng của Bá hộ Ngô Trí Dụng ở thôn Nguyễn cung tiến: một thửa 12 thước ở xứ Vườn Quân, phía đông giáp ruộng Văn Mãn, phía tây giáp Nền Đền.

Ruộng tế mùa thu kê khai như sau:

Một thửa tại xứ Bãi Nhạn Cẩm Tương 2 sào 9 thước 8 tấc, phía đông giáp hỏa xa mãn, phía tây giáp ruộng công.

Số ruộng tại xã Xuân Thụ như sau:

Một thửa ở xứ Cống Đông 3 sào, phía đông giáp ruộng Văn Tập, phía tây giáp đường nhỏ.

Một thửa ở xứ Đồng Trước 10 thước, phía đông giáp ruộng..., phía tây giáp ruộng họ.

Một thửa ở xứ Chó nằm 2 sào 3 thước 4 tấc, phía đông giáp ruộng công, phía tây giáp ruộng Công Trừ.

Một thửa ở xứ Bờ Vách 2 sào, phía đông giáp ruộng sóc vọng, phía tây giáp ruộng hương đèn.

Tất cả các loại ruộng kê khai bên trên đều thuộc tiền thu trong Hội với ruộng cung tiến và tài sản của nhà Hội trưởng đặt riêng dùng để cung cấp việc tế lễ trong miếu. Nếu như gặp phải khi nhà miếu bị hư hoại, cho phép được trích lễ tu sửa. Còn ngoài ra không được tự tiện trích bừa.

Một lệ tiến cử Chủ tế:

Thuộc việc Trưởng sự phụ trách, nếu như Trưởng sự ít tuổi, khi tế mùa xuân (xuân tế) tạm thời giao việc tiến cử người khoa trường, chức sắc trong 3 xã, tế mùa thu (thu tế) tạm thời giao việc tiến cử người khoa trường, chức sắc hoặc người cao niên đức cao vọng trọng của bản xã đảm nhiệm.

Vũ Cách kính cẩn chép.

Hiệu Nam Sơn, Hà Nội kính cẩn san khắc.

Mặt bia 2:

Sau khi làm lễ Tiên thánh, Tiên sư xong, hạ lễ biếu chủ tế một phần, một phần biếu Trưởng sự, một phần giành cho Thủ từ, còn lại chia đều làm 6 cỗ Hương lão, Tư văn và các vị trong bàn nhất, bàn hai bản xã chiếu theo số tuổi mà ngồi cùng đối diện nhau thụ lộc. Nếu như Trưởng sự tuổi còn ít thì ngồi ở cuối bàn hai, một cỗ cho Thủ từ, một cỗ cho người phục dịch. Vào ngày sóc (mồng một) cũng theo lệ này, ngày vọng (ngày rằm) cho phép Thủ từ sắm sửa 25 khẩu trầu, hai bình rượu nhỏ chia đều làm hai lễ kính cẩn cúng tế. Khi hạ lễ cũng tiến hành việc biếu như ngày sóc (mồng một)

Lệ tế mùa xuân: hàng năm vào ngày 16 tháng 3,

Trước 4, 5 ngày, sáu viên làm việc (cán viên) đều tụ hội, còn người nhà cán viên chiếu thu theo số thóc ruộng tế (số thóc thu ruộng bao nhiêu đã có sổ riêng), thực thu được bao nhiêu tiền tùy nghi sắm sửa lễ vật. Đến ngày lễ cáo, các viên phụ việc mua hai con gà trống, mỗi con nặng hai cân rưỡi, 50 khẩu trầu, hai bình rượu cùng năm sáu người trong nhà chuẩn bị đầy đủ bàn ghế, bát đũa (cho mỗi người nhà 6 hào bạc), đến giờ Dậu (7-8 giờ tối) sai người đi mời các bậc trưởng lão, Hội Tư văn, các vị trong bàn nhất, bàn hai bản xã và các bậc cao niên, chức sắc (có tham gia Hội) của thôn Nguyễn Cẩm Tương cùng với Chủ tế mũ áo chỉnh tề đến miếu để tiến hành lễ cáo Tiên thánh, Tiên sư.

Sau khi tế xong, nếu như có việc ca hát, cho phép được nấu hai đấu gạo làm cháo, đến đêm giết lợn thổi xôi hai cỗ, trong đó gồm một cỗ 10 đấu gạo, một cỗ 6 đấu gạo, mỗi đấu là 30 bát. Các thức như rượu, cơm, muối, chè, củi đều đủ dùng.

Sáng sớm hôm sau, đón lế kính cáo Tiên thánh, Tiên sư. Khi hạ lễ, chiếu theo cỗ bàn đã làm để biếu thêm một cỗ cho Trưởng sự và một nọng lợn, các viên Chủ tế, viết Văn tế đều được biếu một phần thủ lợn, một cỗ xôi nếp (sáu đấu gạo) biếu riêng cho các viên ứng tế, còn 6 viên làm việc (cán viên) đều chiếu theo số lượng các viên trong Hội với toàn thể ca kỹ, nhạc công, người nhà cán viên, cứ 4 người một cỗ, lại làm thêm 5, 6 cỗ lưu giữ để bổ sung cho những người đến muộn. Các bậc Hương lão, Hội Tư văn, các vị trong bàn nhất, bàn hai bản xã đến làm lễ, các viên làm việc tiếp đãi như người trong Hội.

Lệ tế mùa thu: hàng năm vào ngày 30 tháng 9.

Hương lão, Hương trưởng, các vị trong bàn nhất, bàn hai bản xã chiếu thu theo ruộng mùa bị phá hủy và số thóc ruộng ở xã Cẩm Tương được bao nhiêu thì tùy nghi sắm sửa lễ vật.

Đến ngày lễ cáo, người đến lượt luân canh trong bản xã sắm sửa hai con gà trống, mỗi con nặng hai cân rưỡi, hai bình rượu 30 khẩu trầu cho người đến mời các chức sắc và các bậc Thân (từ Tú tài trở lên) và Hào (từ Bá hộ trở lên) của thôn Nguyễn Cẩm Tương, đương thứ Lý trưởng, đương thứ tế xuân, một người già trong mỗi giáp hiện tại tập trung lại để trợ giúp việc tế lễ.

Đến đêm vẫn huy động 5, 6 người trong nhà giết lợn, thổi xôi hai cỗ, chuẩn bị bàn ghế, bát đũa, nước chè, cơm, mắm muối, củi đủ dùng, kính cẩn nghênh đón lễ tế. Sau khi tế xong, hạ lễ chiếu theo cỗ bàn, cỗ biếu nhất nhất như lệ tế mùa xuân.

Một điều: khi nhập Hội, mỗi viên phải nộp một đồng bạc, giao cho viên làm việc (cán viên) của bản xã nhận giữ mua ruộng cúng tế, cho phép được kế tục.

Một điều: người viết Văn tế mùa xuân do những bậc khoa mục trong Hội, tuổi cao đức trọng có uy tín phụ trách. Người viết Văn tế mùa thu chọn người khoa mục trong bản xã (từ Tú tài trở lên). Nếu như không có thì do đương thứ Lý trưởng đảm nhiệm (việc viết Văn tế).

Một điều: lệ bảo cử viên làm việc, mỗi xã Xuân Thụ, Cẩm Tương, Nguyễn Thôn cử hai người trong Hội xác nhận bảo cử những người mẫn cán ra làm việc.

(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.627-633)

Nguyễn Hữu Tâm - Đỗ Danh Huấn
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm