79. Về tấm bia của gia tộc họ Nguyễn Danh ở Đô Lương Nghệ An
VỀ TẤM BIA CỦA GIA TỘC HỌ NGUYỄN DANH Ở ĐÔ LƯƠNG NGHỆ AN
NGUYỄN THỊ TRANG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Họ Nguyễn Danh là một dòng họ lớn ở Đô Lương Nghệ An, hiện nay trong họ còn giữ được một bản gia phả biên soạn thời Thành Thái (1889-1905) đời Nguyễn nguyên bản viết bằng chữ Hán dày 232 trang viết trên giấy bản, chữ viết chân phương. Dòng họ Nguyễn Danh vốn quê ở vùng Đan Phượng Sơn Tây, vào cuối thời Vĩnh Thịnh nhà Lê, một số người trong dòng họ Nguyễn Danh đã mang nghề trồng dâu nuôi tằm ở Đan Phượng về đây, làm cho kinh tế ở vùng này phát đạt. Đến đời Cảnh Hưng họ Nguyễn Danh đã có nhiều người đỗ đạt, vinh hiển một thời. Do vậy gia tộc họ Nguyễn Danh đã viết một bài ký văn ghi lại sự tích của tổ tiên ở Đan Phượng chuyển vào đây rồi cho khắc bia dựng lại. Tháng 6 năm 2007 ông Nguyễn Văn Thanh, người ở Đô Lương muốn tìm hiểu về dòng họ quê mình, liền mang bản gia phả đến nhờ chúng tôi dịch ra tiếng Việt, nhân đó ông Thanh có giới thiệu một tấm bia cổ trong dòng họ. Chúng tôi cho rằng đây là những tư liệu quí có thể giúp chúng ta tìm hiểu về những hoạt động của cha ông ta thời đó. Do vậy chúng tôi liền hướng dẫn ông Thanh mang giấy mực về in lại văn bia. Đọc bản dập văn bia của ông Thanh, chúng tôi thấy văn bia được dựng vào thời Cảnh Hưng, có rất nhiều tư liệu đáng quí, có thể giúp chúng ta tìm hiểu về lịch sử của người dân lúc bấy giờ, đặc biệt là nghề trồng dâu nuôi tằm ở Nghệ An. Do vậy chúng tôi đã tiến hành phiên âm dịch nghĩa toàn bộ văn bia, để giới thiệu trong hội nghị thông báo Hán Nôm kỳ này, những mong cung cấp những tư liệu mới cho các nhà nghiên cứu.
Toàn văn là:
Phiên âm:
HẬU THẦN BI KÝ
Hoàng Việt Cảnh Hưng nhị thập tam niên Anh Đô phủ Nam Đường huyện Thuần Trung xã Rí Châu thôn hậu thần bi.
Cái văn: hãn tai ngự hoàn thần kỳ cách tư, nghi hưởng xuân thu tứ thời chi báo, hậu thử hữu công ư thời, hưng tiện ư nhất ấp, nhân thả truy tư nhi sùng tụ chi. Tử diệc nhất vãng nhất lai, lễ vô bất đáp, duy nghĩa sở tại dã. Tương thử thôn cư phụ sa nhất đái cự dĩ Đan Phương, Phúc Lộc, Tiên Phong, Thượng Phúc đẳng huyện tứ đại tộc bốc trúc vu tư, đồ tiện tang tích, tha hương cựu tụ các thích hữu cư tại hà chi châu, cố dĩ Rí Châu danh dã. Đãi Nhâm Dần niên toán tạo hộ tịch, chiếu bổ binh suất, khách cư khách hộ bỉ không lao hồng nhạn chi phu, vương thổ vương thần ngã duy hữu nhật vân chi nguyện. Bất thức bất tri, duy thuận đế tắc. Phàm hữu hứa đa sự tự hữu cán đương, nhân nhất thiết.
Quyến duy! bản thôn cựu Xã trưởng kiêm bảo trí Viên mục tái thượng tiến khả vi Thiêm sự viện Thiêm sự Kính Vũ bá Nguyễn Văn Kính nãi thị Đan Phượng chi hậu duệ dã. Nãi như chi nhân phác hậu phong tư, khoan hòa khí vũ, xuất tư tiền dĩ tư công vụ, bất hoạn kỳ vi bần tán tư túc dĩ thiệm hung niên, bất tri kỳ vi phú Rí trung ỷ chi nhất thành trụ dã, kiêm dĩ chánh thất Nguyễn Thị hàng nhị nhiệu Diệu Linh nhụ nhân, Á thất Nguyễn Thị hàng tam hiệu Diệu Thông nhụ nhân, lang can bội trái [] [] thạch thất chu chi du chi tư hữu trị gia chi lặc, bồ bặc cứu chi, tự hữu thiện lân chi nghĩa. Phu phu phụ phụ ngã hữu gia nhân chi tắc hồ! Nhàn chi, quĩ chi, trị chi, hưởng chi, thực phú gia chi đại cát dã. Thiên tứ nhĩ cung hoàng [] [] thai bội nhân tri tất báo, kết thảo hàm hoàn, ư thị tranh tương cáo viết: đầu chi dĩ mộc đào, báo chi dĩ quỳnh dao, dĩ đức báo đức, lễ tắc nhiên hĩ, cố tương hậu dã. Khởi hữu lượng tai, dữ kỳ khoái trá ư nhất thời, hạt nhược duy hinh ư vạn đại. Nhưng thử cộng bảo khảo nhất vị Cựu Xã trưởng kiêm bảo trí Viên mục tái thượng tiến khả tiến Thiêm sự viện Thiêm sự Kính Vũ bá tịnh tỷ nhất vị chánh thất Nguyễn Thị hàng nhất hiệu Diệu Linh nhụ nhân, Á thất Nguyễn Thị hàng tam hiệu Diệu Thông nhụ nhân vi bản thôn hậu thần, dĩ vi tử tử tôn tôn vô cùng chi báo. Thử thời hậu thần tôn công bất dục, kiệt nhân chi trung, phương thả hợp nhân chi huệ, viên xuất chinh nhất kiện, điền tam cao dĩ vi kính thần chi lễ, hựu tiền nhất bách quan, điền lục mẫu dĩ cung hương hỏa chi nhu, dĩ [] [] thù âm lễ bất bạc hĩ. Bản thân tranh tương vị viết: Tài sĩ sinh tài, bất khả tôn [] [] lễ, hữu định lệ bất bất cảm bất cứ, lệ hữu [] [] hiện hữu giao từ, kỳ tình kỳ từ uyển nhiên bút tranh, cẩu bất thuyền chi kim đầu, khắc chi dĩ thạch chí đới chi dĩ huyền cung cẩu dĩ biện du hà phân ngọc tỳ dĩ vi hậu nhân [] [] hậu chi mục ư tư dã.
Nhược ai ai yên thị diệc lý trung chi thạch thê dã; nhiên tắc tư bi chi lập dã, thị dĩ khắc minh ân thế thế ma vân. Nhân nhi lược thuật khoán từ kế lặc vu hậu. Kê:
- Nhất thửa điền tam cao, chinh nhất kiện dĩ vi sự thần lễ.
- Nhất thửa Ao Giếng xử điền nhất mẫu.
- Mụ Giá xứ nhất thửa điền thất cao hựu nhất thửa tương liên tam cao, nhất thửa tứ cao.
- Nhất thửa tương liên tam cao, nhất thửa tam cao.
- Rí Câu xứ ngũ thửa điền tương liên tam mẫu.
- Cổ tiền nhất bách quan.
- Khảo nhất vị kỵ nhật trư nhất khẩu, xuy nhất cụ, tửu, phù lưu dụng túc, mãnh tướng Nguyễn nhất lang ký kỳ hậu.
- Tỷ Chánh thất Nguyễn Thị hàng nhị hiệu Diệu Linh nhụ nhân kỵ nhật trư nhất khẩu, xuy nhất cụ, tửu, phù lưu dụng túc, mãnh tướng Nguyễn nhất lang ký kỳ hậu.
- Tỷ Á thất Nguyễn Thị hàng tam hiệu Diệu Thông nhụ nhân, kỵ nhật trư nhất khẩu, xuy nhất cụ, tửu, phù lưu dùng túc. Mãnh tướng Nguyễn nhất lang ký kỳ hậu.
-Minh niên Chính nguyệt sơ tam nhật kính lễ, phương bỉnh tứ kiện.
- Đoan Ngọ tiết kê nhất chủy, xuy nhất cụ, tửu, phù lưu dụng túc, đồng tam vị phụ ký nhất vị.
- Trung nguyên tiết thập tứ nhật kê nhất chủy, xuy nhất cụ, tửu, phù lưu dụng túc, đồng tam vị, phụ ký nhất vị.
Lạp nguyệt tiết thập tứ nhật kê nhất chủy, xuy nhất cụ, tửu, phù lưu dùng túc, đồng tam vị phụ ký nhất vị.
Mỗi tiết các lễ tề chỉnh y mạo như nghi, tế tất trích thủ trư cảnh kính biếu, y mạo khiếm giả đình biếu. Dư huệ chi hạ kiến tại đồng thực. Khiếm giả đình phân, giao khoán chi lễ cụ chí vu hậu.
Cảnh Hưng nhị thập tam niên thất nguyệt nhị thập nhị nhập bi.
Dịch nghĩa:
BIA GHI HẬU THẦN
Năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762) thôn Rí Châu xã Thuần Trung huyện Nam Đường phủ Anh Đô lập bia hậu thần.
Từng nghe! dẹp loạn trừ tai thần linh từng ngự đến đây, nên cần phải tế lễ đền báo bốn mùa xuân thu. Hậu thần từng có công với đời, giúp cho một ấp được hưởng nhiều lợi lộc do đó dân làng bàn định tìm cách tế lễ thờ cúng. Vậy là có đi có lại, đã có lòng tặng biếu thì không thể không đền đáp được, âu cũng là cái nghĩa thực tại vậy. Dân cư ở vùng bãi bồi này vốn thuộc bốn dòng họ lớn ở các huyện Đan Phượng, Phúc Lộc, Tiên Phong, Thượng Phúc vào làm ăn sinh sống ở đây để tiện cho việc trồng dâu nuôi tằm, canh cửi tơ lụa. Xa lìa quê hương bản quán vào tụ tập ở đây, ai nấy đều có tình cảm “tại hà chi châu” vì thế mà đặt cho đất này tên gọi là Rí Châu (vùng đất bãi hát đúm). Các hộ dân đến cư trú ở đây không bị ảnh hưởng của chiến tranh loạn ly, bởi lẽ khắp vòm trời này đâu chẳng là đất của nhà vua, đâu chẳng phải thần dân của nhà vua. Thế nhưng cốt sao cho dân chúng có được cuộc sống bình yên như ngày nay mà thôi. Chẳng cần phải lo liệu tính toán điều gì, chỉ cần thuận theo phép tắc của nhà vua ban hành, hễ bao nhiêu công việc giao phó thì đều tự mình gánh vác đảm đương.
Kính nghĩ! ông cựu Xã trưởng của bản thôn được bầu làm Viên mục, lại cung tiến tiền sao giúp nước, là Thiêm sự ở Viện Thiêm sự Kính Vũ bá Nguyễn Văn Kính, vốn là hậu duệ của cư dân ở huyện Đan Phượng đến đây. Ông là người nhân đức phúc hậu, phong thái khoan hòa điềm đạm, tự bỏ tiền của riêng ra để lo liệu công việc. Ông chẳng lo mình bần hàn túng thiếu mà đã tự bỏ tiền riêng ra giúp cho công việc được tốt lành. Gặp năm đói kém, ông cũng chẳng lo làm giàu, người ở trong hội hát đúm đều xem ông là bậc trụ cột. Hơn nữa ông còn bà Chánh thất Nguyễn thị hàng nhị hiệu là Diệu Linh nhụ nhân, cùng bà Á thất Nguyễn thị hàng tam hiệu là Diệu Thông nhụ nhân, vốn có chút tư trang vàng ngọc đem ra chu cấp cho mọi người, cứu trợ họ lúc túng bấn, từ đó sinh cái tình nghĩa xóm làng thân thiện. Chồng chồng vợ vợ vẫn giữ đúng nguyên tắc chủ nhân và đầy tớ, vui vẻ, hòa nhã, cùng ăn cùng hưởng, thực có đức tốt lớn lao của bậc phú gia vậy. Trời ban cho ông bà đức lớn giúp người thì mọi người phải biết lo đền báo. Ai nấy đều nghĩ phải nên kết cỏ ngậm vành, và bảo với nhau rằng: tặng cho ta quả mộc đào, ta phải lo đền lại ngọc quỳnh giao. Dùng ý tốt để đền báo người có đức, lễ đúng là như thế. Vậy nên mọi người phải đối xử trung hậu với nhau. Ôi! liệu có lường hết được chăng nếu như chỉ để khoái trá nhân khẩu một thời thì sao bằng để lại tiếng thơm cho muôn thủa.
Do vậy mọi người cùng nhau tôn bầu Cựu Xã trưởng kiêm Viên mục Thiêm sự Viện Thiêm sự Kính Vũ bá cùng bà Chánh thất Nguyễn thị hàng nhị hiệu Diệu Linh nhụ nhân và bà Á thất Nguyễn thị hàng tam hiệu Diệu Thông nhụ nhân làm Hậu thần của bản thôn. Như thế cũng là để cho con con cháu cháu chúng ta đền báo công ơn của các vị lâu dài đến vô cùng vậy. Lúc bấy giờ ngài hậu thần chẳng muốn để cho dân phải khốn khó khánh kiệt, nên đã ban thêm chút ân huệ cho mọi người bèn bỏ tiền ra giúp cho dân thôn một chiếc chiêng và ba sào ruộng để làm lễ kính thần. Ông bà lại cấp thêm cho dân 100 quan tiền, 6 mẫu ruộng để lo việc hương hỏa sau này. Ân sâu nghĩa rộng thật lớn lao thay. Dân thôn liền đua nhau nói rằng: tiền tài sẽ nảy sinh tiền tài, không thể không tôn trọng, do vậy cần phải định ra điều lệ không được vi phạm. Những điều lệ này đã soạn thành lời giao ước, tình cảm hiện rõ trên nét bút há nỡ bỏ qua, không đem khắc vào bia đá thì làm sao có thể phân biệt là viên ngọc lành hay ngọc có tỳ vết. Người đời sau đến đây nhìn vào tấm bia đá này sẽ thấy được tấm lòng của người xưa khiến cho muôn đời không mai một. Nhân đó lược thuật các khoản khắc vào bia đá như dưới đây:
- Một thửa 3 sào ruộng, 1 chiếc chiêng dùng vào việc tế thần.
- Một thửa 1 mẫu ruộng ở xứ Ao Giếng, 1 thửa 7 sào ruộng ở xứ Mụ Giá, lại 1 thửa liền bờ 3 sào, 1 thửa 4 sào.
- Một thửa ruộng 3 sào, một thửa ruộng nữa liền bờ 3 sào.
- Năm thửa ruộng liền bờ ở xứ Rí Châu gồm 5 mẫu.
- Cổ tiền 100 quan.
- Giỗ ông lễ vật gồm 1 con lợn, 1 mâm xôi. Còn rượu, trầu cau dùng đủ thì thôi. Cho người con trai cả mất sớm được phối hưởng vào đây.
- Giỗ bà Chánh thất Nguyễn thị hàng nhị hiệu Diệu Linh nhụ nhân lễ vật gồm 1 con lợn, 1 mâm xôi. Còn rượu, trầu cau dùng đủ thì thôi. Cho người con trai cả mất sớm được phối hưởng vào đây.
- Giỗ bà Á thất Nguyễn thị hàng tam hiệu Diệu Thông nhụ nhân lễ vật gồm 1 con lợn, 1 mâm xôi. Còn rượu, trầu cau dùng đủ thì thôi. Cho người con trai cả mất sớm được phối hưởng vào đây.
- Đến ngày mồng 3 tháng Giêng năm sau kính lễ bánh chưng 4 chiếc.
- Tết Đoan ngọ lễ 1 con gà, 1 đĩa xôi, trầu cau đầy đủ. Lễ cho cả ba vị hậu và một vị phối hưởng.
- Tết Trung nguyên vào ngày 14 tháng 7 lễ 1 con gà, 1 đĩa xôi trầu cau dùng đủ. Lễ cho cả ba vị hậu và một vị phối hưởng.
- 14 tháng Chạp lễ 1 con gà, 1 đĩa xôi, trầu cau dùng đủ. Lễ cho cả ba vị hậu và một vị phối hưởng.
Đến các dịp lễ tết chuẩn bị áo mũ theo đúng nghi thức. Sau khi lễ xong trích ra chiếc thủ lợn và nọng lợn đem kính biếu. Người nào thiếu áo mũ thì không biếu. Dư huệ của thần còn lại chia cho mọi người cùng ăn uống. Người nào thiếu thì không chia phần. Các lễ khoán ước đều ghi cả ở phía sau.
Lập bia ngày 22 tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762)./.