83. Lê Quang Bính (1812-?) vị phó nguyên soái tham tán quân vụ của Bình Tây đại nguyên soái Trương Định và bản khai công trận gửi triều đình Tự Đức (TBHN 2008)
LÊ QUANG BÍNH (1812 - ?)
VỊ PHÓ NGUYÊN SOÁI THAM TÁN QUÂN VỤ CỦA BÌNH TÂY ĐẠI NGUYÊN SOÁI TRƯƠNG ĐỊNH VÀ BẢN KHAI CÔNG TRẬN GỬI TRIỀU ĐÌNH TỰ ĐỨC
CHƯƠNG THÂU
Viện Sử học
1. Lời dẫn:
Ngày 15-9-2008 vừa rồi, ông Lê Quang Vịnh, nguyên là người "tử tù" thoát khỏi nhà ngục Côn Đảo ngày 30-4-1975, nguyên là Phó ban Khoa giáo Thành ủy Tp. Hồ Chí Minh, nguyên là Trưởng ban Tôn giáo chính phủ, nay đã về hưu. Ông là cháu bốn đời của cụ Lê Quang Bính, đến thăm tôi và hỏi một số chuyện lịch sử Việt Nam thời cận đại; đồng thời trao tặng tôi tập hồ sơ về cố nội của ông, trong đó có BẢN KHAI CÔNG TRẬN GỬI TRIỀU ĐÌNH TỰ ĐỨC bằng chữ Hán, viết năm 1865.
Bản văn này đã được ông Lê Quang Vịnh sao chụp y nguyên bản gốc, cho dịch ra tiếng Việt và chú thích rất cặn kẽ. Kèm theo bản văn, ông cũng viết thêm "Tiểu sử của cụ cố Lê Quang Bính" khá rành rẽ, nhằm giúp mọi người hiểu rõ "con người và hành trạng" của cụ cố của mình.
Nhận thấy đây là một "tư liệu lịch sử" chữ Hán quý hiếm lần đầu được công bố, có thể giúp các nhà nghiên cứu lịch sử và khoa học xã hội - nhân văn nói chung tham khảo tốt. Chúng tôi xin phép ông Lê Quang Vịnh được giới thiệu với Hội nghị Hán Nôm học để các giới nghiên cứu cùng biết.
Về văn bản giới thiệu ở đây, gồm 4 phần (19 trang) như sau:
1. Lời dẫn: do Chương Thâu viết.
2. Tiểu sử Lê Quang Bính do Lê Quang Vịnh viết
3. Bản dịch và chú thích BẢN KHAI CÔNG TRẬN cũng do Lê Quang Vịnh thực hiện.
4. Nguyên bản chữ Hán (kèm theo) để tặng lại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu giữ.
2. Tiểu sử: LÊ QUANG BÍNH (1812- ?)
Cố tên thật là Lê Quang Bính (chữ Bính = chữ Mộc bên trái + chữ Bính trong thập can: Giáp Ất Bính Đinh...) nhưng khi đứng tên cùng Bình Tây đại nguyên soái Trương Định với chức danh Tham tán quân vụ Phó nguyên soái thì cố lấy tên là Lê Quang Quyền (chữ Quyền = chữ Mộc bên trái + chữ Quan bên phải). Sự thật là chữ Bính và chữ Quyền có cùng 1 nghĩa (người ta vẫn thường nói cả 2 chữ: Quyền Bính).
Theo bản kê khai này thì cố sinh năm Nhâm Thân (1812), nhưng trong gia phả họ Lê Xuân Hòa (đời X), tổ phân phòng Trọng Thao Lê Quang Bính sinh năm Gia Long Giáp Tuất (1814).
Cố bắt đầu quan nghiệp ở ngành Đại Lý tự (điều tra xét hỏi, đưa ra tòa xử án) từ năm Minh Mạng Nhâm Thìn (1832), như vậy là năm 18 tuổi (còn theo bản kê khai thì 20 tuổi). Chức danh ban đầu là "thư lại vị nhập lưu = người làm việc Nhà nước chưa vào ngạch.
Đến năm Ất Mùi (1835) được chuyển về làm việc ở ti Án sát Trấn Tây (ở bên Campuchia). Đến năm Bính Thân (1836) được chuyển về ty Án sát tỉnh Gia Định và cuối năm ấy thì được thăng lên thành "thí sai thư lại chánh cửu phẩm"(6) (thí sai thư lại = người tập sự làm việc Nhà nước; chánh cửu phẩm = bậc 2 trong quan chế, cao hơn tòng cửu phẩm). Đến năm Mậu Tuất (1838), bị đánh 90 roi và bị cách tuột xuống làm thư lại vị nhập lưu như lúc mới được tuyển dụng vào Đại Lý tự. Lý do là có dính líu với 1 tội nhân. Đây là lần đầu tiên, cố bị cách chức (tuột 2 bậc) và bị đánh đòn. Làm quan thời xưa mà bị như thế là chuyện thông thường, ví dụ Nguyễn Công Trứ làm đến Binh bộ Thượng thư mà bị giáng xuống làm lính hầu nữa kia. Và cuộc đời quan chức của cố còn lao đao lận đận nhiều lần nữa.
Đến năm 1841 (Thiệu Trị Tân Sửu), tức là 3 năm sau khi bị cách, do phấn đấu cật lực, cố lại được phục chức "thí sai cửu phẩm". Năm 1845 được thưởng 60 quan tiền vì bắt được bọn buôn lậu thuốc phiên. Năm 1848 được thăng lên "thực thụ chánh bát phẩm". Năm 1854 (Tự Đức Giáp Dần) được Kinh lược đại sứ Nguyễn Tri Phương tặng thưởng thêm 3 tháng lương. Thế nhưng đến năm sau thì 1 biến cố, thảm kịch gia đình đã xảy ra, ác liệt kinh khủng. Trong năm Tự Đức thứ 8 (1855, Ất Mão), vì xem xét việc hình án không kỹ tôi nghe ông anh kể rằng có một người đầy tớ bị chủ ném một cái cối xay cau trầu vỡ đầu chết, rồi đem chôn ở sau vườn, sau đó bị người ta phát hiện, phải ra tòa, nhưng cố là người hành xử án lại bênh vực người chủ nhà chỉ là ngộ sát vì lúc đó có khách, chứ không phải cố sát. Việc cố bảo vệ cho người chủ như thế là sai lầm, bị quan trên tức giận phạt ngay giữa công đường đánh 40 roi và đem cùm vào trong ngục tối. Tin như sét đánh bay về nhà ở, bà vợ của cố (tên là Hoàng Thị Lục, ông anh tôi thì gọi là Nục, nhưng tôi nghĩ là giọng nói Nam Bộ thường đọc trại chữ L thành ra chữ N, ví dụ Côn Lôn thì gọi ra là Côn Nôn) đã đến trước nhà ngục kêu oan cho chồng và sau đó, bà đã đập đầu vào đá mà tự tận).
Chính cái chết anh hùng kiệt hiệt của bà cố khiến cho quan trên tỉnh ngộ, hiểu ra tính cách vô tư trong sáng của cố, bèn thả cố ra và cho phục chức lại như cũ.
Năm 1859 (Tự Đức Kỷ Mùi) quân Pháp bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Nam Bộ. Cố từ một quan văn chuyển sang làm tướng cầm quân đánh giặc. Khi quân Pháp chiếm được thành Gia Định, quân ta rút về Biên Hòa, thì cố được Hộ lý Tổng đốc Định Biên (tức Gia Định - Biên Hòa) họ Võ phái về lại Gia Định thu nhặt quân binh và vũ khí đang nằm tản mạn trong vùng địch chiếm đồng thời mộ quân mới để đánh phá ngay giữa lòng địch hậu.
Đến đây, bản kê khai có đề cập một tình tiết đáng buồn là năm 1860 (tức Canh Thân, Tự Đức 13) khi các chỉ huy cũ của Định Biên bị tử trận, chết hết, các chỉ huy mới được cử về có một vị muốn ra oai, đã đánh cố 100 trượng vì tội đã để mất thành Gia Định năm trước. Triều đình cử Nguyễn Tri Phương sung chức Gia Định quân thứ tổng thống quân vụ đại thần vào Sài-Gòn đắp đồn Kỳ Hòa chống Pháp. Quân Pháp rút hết lực lượng đang đóng ở Đà Nẵng vào Sài-Gòn, đồng thời tập trung các đạo quân người Phi châu và người Trung quốc do Charner thống lãnh với 70 tàu chiến và 470 khẩu pháo quyết chiếm cho bằng được Gia Định. Tuy nhiên các cánh quân của ta vẫn liên tục tập kích quân địch. Trận nổi tiếng nhất là nghĩa quân Trương Định phục kích giết chết đại úy Barbé (trưởng đồn đóng ở chùa Khải Tường).
Đến cuối tháng 2/1861, đại đồn Kỳ Hòa bị vỡ, Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, quân ta rút về Biên Hòa. Lần này, có vị tuần phủ Gia Định họ Đỗ (trong gia phả phân phòng Trọng Thao không ghi tên, nhưng trong các tài liệu do gia đình ông Đỗ Hạp thu thập được thì ghi rõ Tuần phủ ấy tên là Đỗ Quang) lại sử dụng cố lén về lại Gia Định chiêu mộ dân binh và thu nhặt súng ống. Cố đã mộ được 655 quân, tổ chức lại thành đội ngũ được Tuần phủ Đỗ Quang chứng nhận. Tiếp đó, cố lại mộ thêm được 160 người nữa. Tổng cộng là hơn 800 quân. Cố đem hết số quân ấy hiệp với số quân của Phó quản cơ Trương Định kéo về đóng giữ huyện Tân Hòa và được Tuần phủ Đỗ Quang tư cho tỉnh Vĩnh Long cấp phát khí giới.
Năm 1862, Pháp bắt đầu chiến lược sử dụng người Việt đánh người Việt. Bên cạnh lính Tây đã có thêm lính ngụy, lập nhà tù Côn Đảo và đánh chiếm Vĩnh Long. Tháng 6/1862, Triều đình Huế ký hàng ước nhượng 3 tình miền Đông (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) cho Pháp. Tháng 9/1862, Triều đình Huế ra lệnh cho nghĩa quân Trương Định bãi binh. Trương Định không tuân lệnh mà còn được dân phong lên làm Bình Tây đại nguyên soái và Trương Định phong cho cố làm Phó nguyên soái Tham tán quân vụ. Đạo quân này đông đến hơn 6000, liên tục đánh cho Tây tà những đòn sấm sét, gây ra cho tây tà những thiệt hại nặng nề. Quân Pháp ra sức mở nhiều chiến dịch lớn nhằm tiêu diệt đạo quân kháng chiến.
Tháng 3/1863 biết Trương Định kéo quân về đóng tại Gò Công, tướng Pháp Jaurès sử dụng một lượt 10 chiến thuyền về Gò Công cường tập. Trương Định thoát được về Lý Nhơn xây dựng căn cứ thì 2 sĩ quan Pháp là Gougeard và Béhic lại dẫn quân đột kích Lý Nhơn. Trương Định lại phá vòng vây, thoát về vùng đám lá tối trời. 8/1863, Trương Định nhận thấy tập trung quân đông quá không có lợi cho việc bảo mật hành quân, nên quyết định phân tán đạo quân bằng cách cử cố sang quân thứ Biên Hòa rồi lại vòng về quân thứ Gia Định vẫn với chức vụ là Phó nguyên soái tham tán quân vụ.
Trong bản kê khai, từ đây không thấy nhắc đến Trương đại tướng nữa. Tuy nhiên lần theo lịch sử kháng Pháp, chúng ta biết được một tên phản bội (tên là Huỳnh Công Tấn) đã phục kích bắn Trương Định trọng thương. Ông đã chửi mắng tên phản bội rồi rút gươm tự sát để không sa vào tay giặc (ngày 19-8-1864).
Đến tháng 1/1865, cố vượt trùng vây về Huế (ông anh tôi kể lại rằng cố gánh 2 thùng nước mắm, giả làm người đi buôn và đi bộ vượt đèo, băng sông ra Huế, vào chầu vua Tự Đức. Vua giận lắm, đuổi về quê. Nhưng chỉ mấy tháng sau, vua cho vời lại, bắt kê khai mọi việc và sau đó phong cho chức Lang trung, (chức quan văn, trật chánh tứ phẩm).
3a. Bản dịch từ nguyên văn:
Bản kê khai của Lê Quang Bính gởi lên vua Tự Đức
sau khi vượt khỏi trùng vây của quân Pháp trở về kinh đô
Tiểu dẫn của Lê Quang Vịnh (theo Lê gia tộc phả).
Trong gia phả dòng họ Lê Quang Xuân Hòa (phái 2, chi 2, phòng 2, phân phòng 5), còn lưu giữ tờ báo cáo này của cụ Lê Quang Bính, tức Lê Quang Quyền, phó nguyên soái tham tán quân vụ của Bình Tây đại nguyên soái Trương Định. Lịch sử ghi lại rằng 11-1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định; năm 1860 triều đình cử Nguyễn Tri Phương làm Tổng thống quân vụ đại thần vào Sài-Gòn đắp đồn Chí Hòa chống Pháp; năm 1861 quân Pháp tấn công đại đồn Chí Hòa và chiếm được 25/2/1861, Nguyễn Tri Phương bị thương và quân ta lui về Biên Hòa; tháng 4-1861 quân Pháp đánh chiếm Định Tường; Trương Định mộ được 6000 quân đánh Pháp: giết được đại úy Barbé (trưởng đồn chùa Khải Tường); 6-1862 triều đình Huế ký hàng ước Nhâm Tuất nhượng 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) cho Pháp, 9-1862 lệnh cho Trương Định bãi binh; nhưng Trương Định vẫn tiếp tục đánh Pháp: dân chúng tôn Trương Định làm Bình Tây đại nguyên soái; tháng 8-1864 Trương Định bị tên phản bội Huỳnh Công Tấn phục kích và bị thương, rút gươm tự sát để không sa vào tay giặc.
Trong lịch sử không thấy nhắc đến tên của Lê Quang Quyền tức Lê Quang Bính. Duy chỉ có cuốn Trương Định truyện của Nguyễn Thông* là ghi rõ Trương Định có một phó tướng rất tin cậy tên là Lê Quang Quyền được giao nhiệm vụ là Tham tán quân vụ (gọi theo từ ngữ hiện đại là Tham mưu trưởng đứng bên cạnh Tư lệnh (đạo quân lớn). Truyện kể rằng khi Trương Định chết, Lê Quang Quyền vượt trùng vây bằng cách gánh 2 thùng nước mắm, giả dạng người đi buôn, về tới kinh đô (Huế) và vào triều báo cáo với vua Tự Đức. Vua rất tức giận vì các ông không chịu bãi binh có thể khiến cho quân Pháp viện cớ đánh chiếm luôn Huế. Tuy nhiên thời gian trôi qua, Pháp không cần viện cớ gì cả, chẳng những không trả 3 tỉnh miền Đông mà còn chiếm luôn cả 3 tỉnh miền Tây nữa, lăm le thôn tính cả nước ta, toàn cõi Đông Dương, nên dần dần vua đổi thái độ và gọi Lê Quang Bính (Quyền) vào triều phong cho chức Lang Trung chánh tứ phẩm (đây là 1 chức quan văn trong triều đình theo thứ tự như sau: Thượng thư (chánh nhị phẩm) - Tham tri (tòng nhị phẩm) - Thị lang (chánh tam phẩm) - Lang trung (chánh tứ phẩm) - Viên ngoại lang (chánh ngũ phẩm)... Bản báo cáo này do vua lệnh cho Lê Quang Bính (Quyền) làm khi vua bắt đầu thay đổi thái độ ** (từ giận phạt chuyển sang khen thưởng).
Sau đây là bản dịch chú của Lê Quang Vịnh.
Chúng tôi ghi thời gian theo Dương lịch, rồi Âm lịch, rồi niên hiệu của vua đương triều.
3b. Bản dịch và chú giải:
Ngày 31-7-1865 Dương lịch.
Ngày 28 tháng 6 năm Giáp Tý (tức năm Tự Đức thứ 18) Âm lịch
Lê Quang Bính tự báo cáo công trận với triều đình
Lê Quang Bính sinh năm 1812 (Nhâm Thân) tức Gia Long thứ 10
Năm 1832 (Nhâm Thìn) tức năm Minh Mạng thứ 13, tôi bắt đầu ra làm việc Nhà nước, chức vụ là thư lại vị nhập lưu (2), cơ quan là Đại Lý Tự(3).
Năm 1835 (Ất Mùi) tức năm Minh Mạng thứ 16, tháng 11 tôi được bổ nhiệm về làm thư lại vị nhập lưu ở Ty Án sát Trấn Tây (Cao Miên)(4).
Năm 1836 (Bính Thân) tức năm Minh Mạng thứ 17, tháng 4 tôi được chuyển về làm thư lại vị nhập lưu ở Ty Án sát tỉnh Gia Định; tháng 9 được thăng lên thành Thí sai(5) thư lại chánh cửu phẩm(6).
Năm 1838 (Mậu Tuất) tức năm Minh Mạng thứ 19, tháng 4 tôi bị dính líu với tội phạm Nguyễn Chánh Quang nên phải phạt đánh đòn 90 roi, giáng xuống làm thư lại vị nhập lưu.
Năm 1839 (Kỷ Hợi) tức năm Minh Mạng thứ 20, vì suốt năm chăm chỉ siêng năng, nên tôi được cho dự vào hạng Thứ(7).
Năm 1840 (Canh Tý) tức năm Minh Mạng thứ 21, tôi được nâng lên hạng Bình.
Năm 1841 (Tân Sửu) tức năm Thiệu Trị thứ 1, tôi lại được dự hạng Thứ, cuối năm được ghi tên làm thí sai cửu phẩm.
Năm 1843 (Quý Mão) tức năm Thiệu Trị thứ 3, tháng 2, tôi lại được bổ thí sai chánh cửu phẩm ở ty Án sát tỉnh Gia Định; tháng 7, sau đó, do bắt được nhiều tên trộm cướp nên tôi được thưởng thăng thành thư lại thực thụ chánh cửu phẩm.
Năm 1844 (Giáp Thìn) tức năm Thiệu Trị thứ 4, tháng 10, tôi lại được thăng thư lại thí sai chánh bát phẩm.
Năm 1845 (Ất Tỵ) tức năm Thiệu Trị thứ 5, tháng 1, tôi bắt được bọn buôn lậu và tịch thu một lượng lớn thuốc phiện, nên tôi được thưởng 60 quan tiền.
Năm 1848 (Mậu Thân) tức năm Tự Đức thứ 1, tháng 11, được thăng Thư lại thực thụ chánh bát phẩm.
Năm 1854 (Giáp Dần) tức Tự Đức thứ 7, tháng 6, được quan kinh lược đại sứ(8). xếp loại viên chức mẫn cán, xuất sắc, được thưởng 3 tháng bổng (tiền lương).
Năm 1855 (Ất Mão) tức Tự Đức thứ 8, không nhớ rõ ngày tháng, vì xem xét việc hình án không kỹ, tội phạm sai lầm, bị phạt 40 roi.
Năm 1858 (Mậu Ngọ) tức Tự Đức thứ 11, tháng chạp, tôi bắt được một linh mục và một tín đồ đạo Gia Tô, được thưởng 100 lạng bạc.
Năm 1859 (Kỷ Mùi) tức Tự Đức thứ 12, tháng giêng, tàu chiến của Pháp chạy vào bắn phá tỉnh Gia Định, tôi theo lệnh ngài Hộ lý Tổng đốc(9) Định Biên (tức Gia Định Biên Hòa) họ Võ (đã chết) tới pháo đài Hữu Bình kiểm điểm khí giới súng đạn, sau đó tôi lại theo lệnh quan Án sát họ Lê (đã chết) đốc thúc biền binh(10) 120 người ở phía sau đồn qua trấn giữ thôn Tân Qui Đông. Ngày 13, chúng tôi đóng trong thành, phái 20 quân ra tăng viện cho 60 hương dũng(11) chốt giữ mặt tả ngoài thành. Ngày 15, thành bị giặc chiếm, tôi chạy về huyện Tân Hòa, hiệp binh với quản cơ(12) ở đồn điền Gia Trung là Hoàng Văn Đề (đã chết) dẫn lính đồn và dân tại chỗ mới mộ thêm gồm 82 quân, cộng với 282 quân ở đồn Hồi Thuận Kiều, tự nguyện đặt dưới quyền sai phái của quan tỉnh.
Năm 1860 (Canh Thân) tức Tự Đức thứ 13, tôi không nhớ ngày tháng nào, bị phạt 100 trượng vì việc để mất thành (tỉnh Định Biên) năm trước. Tháng tư năm ấy, tôi bắt được quả tang 1 bọn trộm cướp lớn, được thưởng tiền 50 quan. Cũng trong vòng tháng 4 ấy, do bắt được tên cướp của dân thôn Đới Nhất cùng với nhiều tang vật, tôi lại được thưởng tiền 60 quan. Tháng 5, tôi vâng lệnh đến phủ Tây Ninh để làm việc quân theo sự điều khiển của quan Bố chính(13) Gia Định (Đặng Công Nhượng) và phó Lãnh binh (Nguyễn Hợp). Tháng 7, dẫn quân tiến đánh đồn giặc, thắng, tôi được thưởng 3 đồng tiền Phi Long loại lớn bằng bạc. Tháng 8, tôi tình nguyện theo quân thứ Gia Định, hiệp đồng cùng quan quân dân chúng lập lại các đồn lũy ở huyện Phước Lộc, và các lũy Hòa Qui, Tân Lân, Lân Điền. Sau khi xây dựng xong, tôi lại hiệp đồng cùng biền binh đóng giữ các đồn lũy ấy. Tháng 12, quan chỉ huy quân thứ khen thưởng cho 1 cái áo lông tơ(14) màu xanh và 1 quần vải Nam đỏ.
Năm 1861 (Tân Dậu) tức Tự Đức thứ 14, đại đồn Chí Hòa bị quân Pháp đánh chiếm, tôi chạy về Biên Hòa và sung vào quân thứ (15) Biên Hòa mà làm việc. Tháng tư, tôi vâng lệnh quan tuần phủ Gia Định họ Đỗ* lén về Gia Định chiêu mộ dân binh và thu nhặt súng ống, chờ lúc cần dùng. Tôi đã mộ được 655 người, tổ chức lại thành đội ngũ được quan Tuần phủ họ Đỗ* chứng nhận. Tiếp đó, tôi lại mộ thêm được 160 người nữa, tổng cộng là hơn 800 người. Tôi đem toàn bộ số quân ấy hiệp với phó quản cơ Gia Thuận là Trương Định xin quan tuần Đỗ ngầm tư cho tỉnh Vĩnh Long cấp phát khí giới rồi kéo về huyện Tân Hòa đóng giữ và chờ lệnh của quan tuần Đỗ. Tháng 8, quan tuần Đỗ cấp bằng cho làm việc ở huyện Tân Hòa, Phước Lộc.
Năm 1862 (Nhâm Tuất) tức Tự Đức 15, tháng 3, tôi vâng lệnh đến xứ Lạch La đốc thúc biền binh phòng bị. Tháng tư, tôi phối hợp đánh ở thôn Trường Xuân, thắng lợi. Tháng 5, trong 1 ngày mà đánh 2 trận ở 2 thôn Bình Phú Đông và Đồng Sơn, đều thắng lợi cả, lính Tây và mã tà bị bắn chết, quan tuần Đỗ* có khen thưởng bằng tiền, quân ta bị thương được cấp tiền và vải, bị chết thì được cấp tiền tuất theo chế độ. Nhưng trong tháng ấy, ta và Tây có cuộc hòa nghị, ngày 23, vâng tôi còn nhớ rõ là ngày 23 tháng 5, giặc thừa cơ ta không phòng bị, đột kích vào các lũy Trường Xuân, Nga Đà, giết chết quân ta và cướp súng ống. Tôi và ông quyền Đề đốc Gia Định đem quân đánh đuổi giặc, giết được nhiều lính Tây và mã tà, lấy lại các lũy ấy. Quân ta trong trận này bị chết đều được quan tuần Đỗ cấp tuất tiền vải. Sau đó, tôi cùng Trương Định đem nghĩa quân và biền binh về huyện Tân Hòa, đắp lũy lập đồn chống cự giặc Tây. Tháng 8, quan viên lính tráng các hạt suy tôn Trương Định làm Phấn Nghĩa Bình Tây đại tướng quân, nắm quyền tiết chế. Tháng 10, tôi được cấp bằng sung việc Tri huyện huyện Tân Hòa kiêm xếp đặt việc quân. Ngày 23 tháng 11, tôi điều quân đánh thắng giặc xâm phạm thôn Tân Phước; ngày 5 tháng 12, lại bắn chết lính Tây và mã tà ở thôn Đông Sơn; ngày 9-12, lại phục kích giết chết lính Tây ở thôn Bình Long Tây. Sau 3 trận chiến thắng ấy, đại tướng quân Trương Định quyết định bổ nhiệm tôi làm Phấn Nghĩa Bình Tây tham tán quân vụ đem quân đến xứ Lạch La tiếp viện, nhưng ít không cự lại nhiều, tôi phải rút về đồn Thuận Tắc.
Năm 1863 (Quí Hợi Tự Đức 16, ngày 5-1 - ÂL), giặc Tây tiến vào thôn Tân Cương, tôi phối hợp với quyền Đề đốc Trà Duy Ninh điều quân chận đánh ở xứ Chàng Găng; giặc Tây thua, rút xuống thuyền. Nhưng đến 7-1 thì chúng tôi không còn đạn dược gì nữa, Trương đại tướng lệnh cho biền binh chôn vùi súng ống, phân tán trở về quê, còn tôi và Trương đại tướng tạm lánh qua các hạt khác, chiêu mộ thêm dân binh. Tháng 8, Trương đại tướng cử tôi sang quân thứ Biên Hòa làm việc và tại đây tôi lại được giao chức vụ cũ (tức Tham tán quân vụ)(16).
Năm 1864 (Giáp Tý Tự Đức 17, tháng 2, trong nhiệm vụ tham mưu trưởng tôi được thăng thưởng cấp hàm Chánh ngũ phẩm(17); tháng 10, tôi lại được quyết định làm Phó nguyên soái quân thứ Gia Định.
Năm 1865 (Ất Sửu) tức Tự Đức 18, tháng giêng, tôi nhận được cấp bằng phong hàm Phó Vệ úy, trật tòng tam phẩm.
Như vậy, tôi nguyên được cấp bằng thư lại thí sai chánh cửu phẩm, thư lại thí sai chánh bát phẩm, thư lại thực thụ chánh cửu phẩm, thư lại thực thụ chánh bát phẩm. Sắc văn mỗi thứ đều có một bản. Vào tháng giêng năm Tự Đức thứ 12, khi tôi vâng lệnh quan tỉnh ra chỉ huy quân phòng bị ở ngoài thành thì 4 bản sắc văn ấy vẫn còn đủ cả và tôi giao cho Tư dịch Nội ty cất giữ. Từ khi tỉnh thành thất thủ, những bằng sắc ấy bị mất, quan tỉnh có cho ghi vào tờ tâu, nhưng chưa được cấp lại. Đến sau ngày tháng giêng năm Tự Đức thứ 16, khi rút khỏi Tân Hòa, bị giặc đuổi riết, phải vượt sông trốn tránh, cho nên các bằng do quan tuần Đỗ* cấp cho tôi lén về tỉnh Gia Định ngầm mộ dân binh, rồi về làm việc ở huyện Tân Hòa, Phước Lộc... đều bị mất hết.
Nay xin kê rõ để trên cấp lại.
Kính, Lê Quang Bính
(ký và đóng dấu)
Chú thích:
(1) Về cái tên: Lê Quang Bính (chữ Bính = cái chuôi, cái cán để cầm, quyền làm việc) nhưng lúc cầm quân đánh giặc lại lấy tên là Lê Quang Quyền (chữ Quyền, bên trái là chữ Mộc, bên phải là chữ Quan). Thật ra thì Quyền và Bính là cùng 1 nghĩa.
(2) Thư lại vi nhập lưu là: công chức còn trong giai đoạn chưa vào ngạch trật chính thức.
(3) Đại lý tự:Thời Minh Mạng, tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước ở trung ương bao bồm; cơ mật viện - nội các - lục bộ - lục khoa - lục tự. Lục tự thì có đại lý tự - thái thường tự - quang lộc tự - thái bộc tư - hồng lô tự - thượng bảo tự. Đại lý tự phố hợp với bộ hình và tam tòa chuyên trách việc xét xử các vụ án, có thể xem như tương tự với hệ thống tòa án ngày nay.
(4) Trấn Tây = thời Minh Mạng, lãnh thôt Đại Nam quốc gồm luôn cả Trấn Biên (Campuchia) và Trấn Ninh (Lào).
(5) Thí sai = tập sự, thí sai thư lại là công chức đã vào ngạch, nhưng còn phải tập sự thêm một thời gian nữa.
(6) Chánh cửu phẩm = trong hệ thống quan giai ngày xưa có 9 phẩm và 2 trật chánh và tòng. Chánh cửu phẩm là bậc áp chót (17/18); bậc thấp nhất là tòng cửu phẩm (18/18).
(7) Để định hạng tốt xấu, ngày xưa chia làm 5 hạng trong đó có 4 hạng được là: Ưu - Bình - Bình Thứ - thứ và 1 hạng không được là Liệt (hỏng) không đạt yêu cầu.
(8) Kinh lược đại sứ = chức quan do vua phái đến một khu vực rộng lớn để xem xét việc quân ngũ hoặc dân chính, ví dụ Bắc kỳ kinh lược. Năm 1848, vua Tự Đức phái Nguyễn Tri Phương vào kinh lược Nam Kỳ.
(9) Tổng đốc = quan cai quản 1 khu vực gồm từ 2 đến nhiều tỉnh, bậc chánh nhị phẩm, ngang hàng với Thượng thư. Hộ lý = người giúp việc, bây giờ gọi là trợ lý.
(10) Biền binh: phân biệt với dân binh cũng như ngày nay phân biệt bộ đội với dân quân vậy.
(11) Hương dũng = trai tráng trong làng tập họp lại thành từng đội lo việc canh phòng trấn thủ hương thôn.
(12) Quản cơ: chức quan võ bậc chánh tứ phẩm thấp hơn phó lãnh binh.
(13) Bố chính: chức quan tỉnh coi việc hộ (tài chính) đứng sau Tổng đốc.
(14) Áo lông tơ: tạm dịch từ Vũ đoạn y (chữ vũ gồm chữ mịch bên tả, chữ vũ = lông vũ bên hữu; chữ đoạn gồm chữ mịch = tơ bên tả, chữ đoạn = tấm, vuông vải).
(15) Quân thứ: tập họp các chủng loại quân binh trên địa bàn một tỉnh hay một khu vực nhiều tỉnh, như ngày nay thường gọi tỉnh đội hay quân khu...
(16) Lưu ý: Đến thời điểm này Lê Quang Quyền không còn liên lạc trực tiếp với Trương Định nữa. Vì lẽ đó lúc Trương Định bị phục kích ở Gò Công ngày 19-8-1864 (tức là 18 tháng 7 Giáp Tý), thì Lê Quang Quyền đang ở chỗ khác.
(17) Lưu ý: trong bản báo cáo, Lê Quang Quyền không nói rõ là ai phong cho ông vì lúc này, Trương đại tướng nắm quyền tiết chế đã mất rồi.
(18) Chú thích thêm một số thuật ngữ có trong bài: Phó quản cơ: chức quan võ bậc tòng tứ phẩm hơn quản cơ.
(19) Tuần phủ: chức quan văn bậc tòng nhị phẩm thấp hơn tổng đốc.
(20) Lãnh binh: chức quan võ bậc chánh tam phẩm thấp hơn phó đề đốc.
(21) Phấn nghĩa: vào thời Pháp đến xâm lược nước ta (1859-1883) có những đội quân cảm tử không nằm trong biên chế của triều đình gọi tên là Đoàn Kiệt và Phấn Nghĩa, đây là những đội quân đặc biệt có tính cách như chí nguyện quân ngày nay.
(22) Đại nguyên soái và phó nguyên soái là những chức dân phong, không có trong quan chế triều đình.
(23) Tham tán quân vụ: đây không phải là chức tước mà chỉ là chức vụ tương tự như tham mưu trưởng bây giờ.
(24) Phó vệ úy: chức quan võ bậc tòng tam phẩm thấp hơn vệ úy, ngang hàng với phó lãnh binh.
(25) Viên ngoại lang: chức quan văn trong triều đình bậc chánh ngũ phẩm.
(26) Lang trung: chức quan văn trong triều đình bậc chánh tứ phẩm. Trong một bộ thì người đứng đầu là Thượng thư (bậc chánh nhị phẩm) rồi đến Tả hữu Thị lang (bậc chánh tam phẩm), Lang trung (bậc chánh tứ phẩm), Viên ngoại lang (bậc chánh ngũ phẩm) rồi mới đến Tư vụ, Lục sự, Giáo thụ... (bậc chánh thất phẩm).
(27) Thượng thư, Tổng đốc (quan văn) và Thống chế, Đề đốc (quan võ) là những bậc quan chức cao cấp chánh nhị phẩm triều đình./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.939-953