84. Triện thư dị thể trong Kim Ngọc Bảo Tỷ triều Nguyễn (TBHNH 2012)
TRIỆN THƯ DỊ THỂ TRONG KIM NGỌC BẢO TỈ TRIỀU NGUYỄN
NGUYỄN QUANG THẮNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Năm 2009, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã xuất bản cuốn sách Kim Ngọc Bảo Tỉ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam, [1] với sự cộng tác biên soạn của nhiều nhà khoa học. Trong sách công bố 85 tiêu bản, với ảnh chụp và bản in khá đẹp mắt, cũng như khảo cứu khoa học rất công phu.
Trong số 85 tiêu bản nói trên, chúng tôi nhận thấy một số Kim Ngọc Bảo Tỉ đúc Triện thư rất khác lạ, và tạm gọi là Triện thư dị thể. Từ đó, chúng tôi phân loại những chữ dị thể này thành hai loại:
Thứ nhất:
Triện thư dị thể, xuất phát từ các thể chữ khác như: Cổ văn, Kì tự, Đại triện, Trựu thư v.v, trong các thư tịch, cũng như các bộ tự điển của Trung Hoa.
Trước hết, chúng ta hãy xét Kim bảo 敕正萬民之寶Sắc chính vạn dân chi bảo đúc dưới thời vua Gia Long. Ở Kim bảo này, nét chữ đầy đặn, khỏe khoắn, có hai chữ khắc theo lối dị thể, chính xác là theo thể Cổ văn. Đó là chữ Chính [正]và chữ Vạn [萬]. Chữ Chính được Thuyết văn giải tự [2] giải thích rõ: “古文正從二 Cổ văn Chính tòng Nhị” (Cổ văn chữ Chính theo Nhị). Còn chữ Vạn thì được Khang Hi tự điển [3] liệt kê 3 trường hợp dị thể của chữ Vạn. (Xin lưu ý, tất cả các chữ dị thể được thu nhập trong Khang Hi tự điển đều được gọi là Cổ văn, nhưng Cổ văn là cách gọi khắc của các thể chữ như: Trựu thư [籀書], Kì tự [奇字], Đại triện [大篆]v.v, hay các thể chữ của các nước trước khi Tần Thủy Hoàng đế thống nhất Trung Hoa để lập ra nhà Tần). Ở đây, chữ Vạn dị thể thứ hai đã được khắc trong kim bảo này.
Còn trong các kim bảo như: Kim bảo 儀天章皇后之寶Nghi Thiên Chương Hoàng hậu chi bảo đúc trong niên hiệu Thành Thái thứ 13 (1901), do vua Thành Thái đúc để tấn tôn cho bà Từ Dụ Hoàng thái hậu [ 慈裕皇太后], ngay sau khi bà mất; Kim bảo 儷天英皇后之寶Lệ Thiên Anh Hoàng hậu chi bảo đúc trong niên hiệu Thành Thái thứ 14 (1902) do vua Thành Thái tấn tôn bà Lệ Thiên Anh Hoàng thái hậu Vũ Thị Duyên, sau khi bà mất; Kim bảo 輔天純皇后之寶Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu chi bảo đúc trong niên hiệu Bảo Đại thứ 10 (1935); và Kim bảo 大 南 受 天 永 命 傳 國 璽Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỉ đúc trong niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847) [1]. Trong các kim bảo trên, tất cả các chữ Thiên cũng được khắc theo thể Cổ văn, Khang Hi tự điển thu nhận 5 trường hợp dị thể của chữ Thiên, thì chữ Thiên [天] khắc trong các kim bảo trên là một trong số đó.
Thứ hai:
Triện thư dị thể do sự sáng tạo của người Việt Nam, hay nói cách khác là chỉ có ở Việt Nam, mà không hoặc chưa tìm thấy trong thư tịch Trung Hoa. Có thể đây là cách mà người Việt muốn đánh dấu giá trị riêng, cũng có thể là nột cách chơi chữ, hoặc tạo ra một sự thần bí. Điều này vẫn thường xảy ra trong khối các nước đồng văn. Trong Kim bảo 取信天下 文武權行Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành, nét chữ thanh mảnh, chữ Văn đã khắc thành hai chữ Đại cùng chữ Văn [大+文], hay trong Kim tỉ 欽文之璽Khâm văn chi tỉ được dúc dưới thời vua Gia Long, chữ Văn đã được khắc kép thành [文+文].
Sở dĩ, chữ Văn trong Kim tỉ này được khắc như vậy là một phần nhằm thỏa mãn tính khác lạ trong sáng tạo, một phần nhằm làm cho các nét thêm phong phú, tránh sự đơn điệu của đường nét.
Hay trong Kim bảo 取信天下文武權行Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành được đúc dưới triều vua Gia Long, thì chữ Thiên [天] và chữ Văn [文] (như đã nói ở trên), cũng được khắc theo lối Triện thư dị thể chỉ có riêng ở Việt Nam.
Trong Kim bảo 大越阮主永鎮之寶Đại Việt Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo được đúc trong niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709), đời vua Lê Dục Tông và là do chúa Nguyễn Phúc Chu (1675- 1725) sai đúc, để truyền mãi cho các thế hệ sau, thì chữ Chúa [主] lại được khắc thêm chữ Hắc [黑] bên cạnh. Kim bảo này, nét chữ thanh mảnh, rõ ràng, uyển chuyển, thể hiện được sự tinh tế của đường nét.
Đây là vấn đề rất khó lí giải một cách thấu đáo. Có thể, đây là cách để làm thần bí thêm con chữ, cũng có thể là do khắc chữ lạ để khó làm giả. Cũng trong Kim bảo này, chữ Đại [大] đã được khắc thêm chữ Nhị [二], nếu vậy thì sẽ là chữ Thái [太]. Đây cũng là cách mà người ta thường dùng thông chữ Đại và Thái.
Còn trong các Kim bảo 翼宗英皇帝之寶Dực Tông Anh Hoàng đế chi bảo được đúc sau khi vua Tự Đức mất, để tôn thờ ông vua này trong Thế miếu; Kim bảo 簡宗毅皇帝之寶Giản Tông Nghị Hoàng đế chi bảo là miếu hiệu của vua Phúc Kiến, được vua Hàm Nghi cho đúc để tôn thờ trong Thế miếu; Kim bảo 景宗純皇帝之寶Cảnh Tông Thuần Hoàng đế chi bảo là miếu hiệu của vua Đồng Khánh, do vua Thành Thái cho đúc để tôn thờ trong Thế miếu; Kim bảo恭宗惠皇帝之寶Cung Tông Huệ Hoàng đế chi bảo cũng do vua Thành Thái cho đúc để tôn thờ miếu hiệu của cha mình là vua Dục Đức; Kim bảo 弘宗宣皇帝之寶 Hoằng Tông Tuyên Hoàng đế chi bảo này là miếu hiệu của vua Khải Định để tôn thờ trong Thế miếu [1] thì nét chữ đều vững vàng, khỏe khoắn, rõ ràng. Nhưng tất cả chữ Tông 宗 đã được viết kiêng húy, vì Tông là chữ trong tên Miên Tông [ ] trước khi lên ngôi của vua Thiệu Trị 紹治 [1841- 1847] [3] bỏ một nét trên của chữ Thị [示] thành [不].
Trên đây là những tìm hiểu về Triện thư dị thể trong Kim Ngọc Bảo Tỉ triều Nguyễn. Chắc hẳn trên thực tế, còn nhiều hiện tượng thú vị về chữ Hán dị thể mà chúng ta cần tìm hiểu, để thấy được sự phong phú, đa dạng trong cách dùng chữ Hán các nước đồng văn nói chung, và của người Việt Nam nói riêng.
Tài liệu tham khảo:
1. Kim Ngọc Bảo Tỉ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam xuất bản. Hà Nội, 2009.
1.Hứa Thận. 說文解字Thuyết văn giải tự. Đoàn Ngọc Tài chú. Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã. Thượng Hải, 1981.
2.康熙字典 Khang Hi tự điển. Thượng Hải Thư điếm xuất bản xã. Thượng Hải, 1985.
3.Ngô Đức Thọ. Chữ húy Việt Nam qua các triều đại. Nhà xuất bản Văn hóa. Hà Nội, 1997
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.699-702)