VI | EN
87. Văn bản hương ước chữ Hán Triều Tiên thế kỷ XVII (TBHN 2008)
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.990-1003

VĂN BẢN HƯƠNG ƯỚC CHỮ HÁN TRIỀU TIÊN THẾ KỶ XVII

ĐỖ THỊ HÀ THƠ

Đại học Sư phạm Hà Nội

Văn bản hương ước chữ Hán Triều Tiên thế kỷ XVII được sưu tầm và in lại trong sách Triều Tiên thời đại xã hội sử nghiên cứu sử liệu tùng thư quyển 1, do hai tác giả Kim Nhân Kiệt và Hàn Tướng Quyền biên soạn, nơi phát hành là Bảo cảnh văn hóa xã được in ấn và phát hành vào tháng 10 năm 1986 tại Seoul, Hàn Quốc. Văn bản hương ước chữ Hán Triều Tiên thời kỳ này gồm:

- An Đông hương ước viết vào năm 1602, tìm thấy trong Bắc Nhai tiên sinh văn tập , quyển 3, gồm 6 trang và số trang trích dẫn là theo trật tự số trang trong Triều Tiên thời đại xã hội sử nghiên cứu sử liệu tùng thư quyền 1, cụ thể là từ trang 47 đến trang 52, nội dung văn bản ước lượng khoảng 2890 chữ Hán (không tính phần rốn sách ghi ở từng trang).

- Mật Dương hương ước viết vào năm 1648, tìm thấy trong Mật Châu trưng tín lục , quyển 2, gồm 13 trang, số trang trích dẫn là theo trật tự số trang trong Triều Tiên thời đại xã hội sử nghiên cứu sử liệu tùng thư quyển 1, cụ thể là từ trang 53 đến trang 65, nội dung văn bản ước lượng khoảng 7750 chữ Hán (không tính phần rốn sách ghi ở từng trang). Trong đó có một ước đồ cụ thể hóa vị trí của từng cấp bậc trong hương đảng vào những dịp hội hè, tế lễ nơi đình trung.

- Bàn Khê hương ước viết vào cuối thế kỷ XVII, tìm thấy trong Tùy lục , quyển 9, gồm 12 trang và số trang trích dẫn là theo trật tự số trang trong Triều Tiên thời đại xã hội sử nghiên cứu sử liệu tùng thư quyển 1, cụ thể là từ trang 66 đến trang 77, nội dung văn bản ước lượng khoảng 9880 chữ Hán (không tính phần rốn sách ghi ở từng trang). Trong đó có một sơ đồ mô tả cụ thể vị trí của các cấp bậc trong hương đảng vào dịp hội họp đọc ước pháp.

Về hình thức, cả ba đều được khắc in trong các trước tác của các học giả lớn, sau đó được tập hợp lại trong bộ sưu tập chung về hương ước Triều Tiên Triều Tiên thời đại xã hội sử nghiên cứu sử liệu tùng thư. Trong từng trang văn bản, có in những chữ nhỏ xen lẫn chữ lớn (có khi một dòng chữ nhỏ được viết trong cùng một dòng chữ lớn, cũng có khi có từ hai đến ba dòng chữ nhỏ được viết trong cùng một dòng chữ lớn), là phần minh giải và bổ sung cho phần văn bản in chữ lớn, giúp chúng ta nắm rõ bản chất vấn để đang trình bày.

Về nội dung, cả ba văn bản hương ước chữ Hán Triều Tiên thời kỳ này đều đề cập đến cách ứng xử, quan hệ giữa người với người từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Mà cơ sở là bốn tiêu điểm chính: Đức nghiệp tương khuyến , quá thất tương quy , lễ tục tương giao và hoạn nạn tương tuất . Bốn tiêu điểm này được rút ra từ văn bản Lam Điền Lã thị hương ước của Trung Quốc. Trên tinh thần đó tác giả văn bản muốn xây dựng một xã hội có nề nếp, có lễ tiết, có lớp lang mang dáng dấp của Nho giáo, xã hội kiểu mẫu.

1. Trong bối cảnh của xã hội Triều Tiên bấy giờ, những quy ước về mối quan hệ giữa người với người thấm nhuần tư tưởng Nho giáo. Hàng loạt những điều khoản đưa ra quy định cách cư xử sao cho hợp đạo lý từ phạm vi nhỏ là gia đình đến phạm vi lớn hơn là làng xóm; từ trách nhiệm đối với cha mẹ, anh em cho đến nghĩa vụ đối với hương đảng, đối với quốc gia dân tộc. Vì vậy tác giả văn bản kê ra những quy tắc được xem là chuẩn mực để mọi cá nhân theo đó điều chỉnh hành vi của bản thân cho hợp với đạo đức gia đình. Cho nên mở đầu văn bản, tác giả đưa ra quy định về "đức nghiệp", được ví như khuôn vàng thước ngọc để mọi thành viên tự soi mình vào đó mà rèn giũa bản thân.

- Thờ cha mẹ phải hết mực hiếu thuận

- Dạy dỗ con em phải hợp nghĩa

- Tôn kính các bậc trưởng thượng

- Hòa mục với hàng xóm láng giềng

- Yêu thương anh em

- Hòa thuận với thân thích

- Dùng lễ để đối đãi với thê thiếp

- Cư xử với bạn bè phải giữ chữ tín

- Lập chí trung hậu không lừa dối

- Ăn ở cung khiêm, cẩn thận, dốc lòng, kính trọng

- Gặp việc thiện tất làm

- Nghe lỗi lầm phải sửa.

( - Sự phụ mẫu tận kỳ thành hiếu

- Giáo tử đệ tất dĩ nghĩa phương

- Tôn kính trưởng thượng

- Hòa mục lân lí

- Hữu ái huynh đệ

- Đôn hậu thân cữu

- Đãi thê thiếp dĩ lễ

- Tiếp bằng hữu hữu tín

- Lập tâm dĩ trung hậu bất khi

- Hành kỷ tất cung cẩn đốc kính

- Kiến thiện tất hành

- Vãn quá tất cải, tr. 53)

Và trong phần Lập nghị năm Ất Sửu niên hiệu Cao Tông, tác giả văn bản đưa ra những quy tắc thiết yếu của một con người cần phải có khi đặt vào trong các mối quan hệ, những quy tắc này được soạn ra dựa trên "đức nghiệp":

- Làm cha của người cốt ở sự trang nghiêm trang nghiêm là cái gốc của ân đức và nhân từ. Nhân từ là để sai khiến dân.

- Làm con của người cốt ở sự thành thật thành thật là cái gốc của sự hiếu kính. Hiếu là để thờ vua.

- Làm anh của người cốt ở tình thương tình thương là cái gốc của tình thân ái.

- Làm em của người cốt ở lòng cung kính lòng cung kính là cái gốc của sự kính thuận. Biết thờ anh như thế nào để thờ các bậc trưởng bối.

- Vợ chồng phải giữ lễ với nhau lễ là cái gốc để phân biệt.

- Làm bạn cốt ở chữ tín chữ tín là cái đạo của sự cung kính, không có lòng cung kính thì tự nhiên sẽ không có chữ tín.

- Trung hậu với họ hàng thân thích trung hậu thì tự nhiên sẽ hòa thuận được với thân thích.

- Hòa mục với láng giềng các bậc trưởng bối trong làng tuyệt đối nghiêm cấm đối với việc không hòa thuận với mọi người mà gây việc đấu đá, kiện tụng nhau, lỗi lầm không chịu sửa cứ tranh giành cái ăn và đòi chia tiền bạc. Nếu việc cứ tiếp diễn thì trình lên quan xử lí.

(- Vi nhân phụ chủ ư nghiêm nghiêm vi ân từ chi bản. Nguyên ư từ dĩ sử dân.

- Vi nhân tử chủ ư thành thành vi hiếu kính chi bản. Tư ư hiếu dĩ sự quân.

- Vi nhân huynh chủ ư ái ái vi hữu chi bản.

- Vi nhân đệ chủ ư kính kính vi đễ chi bản. Thôi ư sự huynh dĩ sự trưởng.

- Phu phụ chủ ư lễ lễ vi biệt chi bản.

- Bằng hữu chủ ư tín tín vi kính chi đạo, phi kính tự vô tín.

- Thân thích đôn hậu hậu tắc tự càn ư mục.

- Lân lí hòa mục phi hòa bách tệ tằng sinh đấu huých ẩu đả tụng tranh khiên bất nhậm đại càn hầu phân tiền, trưởng giả nghiêm cấm. Đại tắc cáo quan phục thiện, tr. 59).

Và chỉ khi nào đạt được "đức nghiệp" thì con người ta mới: "Biết trị được gia chính, biết quản lí tôi tớ, biết chọn bạn để giao du, biết cần mẫn làm việc, biết giữ liêm sỉ, biết thi ơn rộng rãi, biết nhận sự ủy thác, biết cứu người khi gặp hoạn nạn, biết chỉ dẫn người làm điều thiện, biết răn dạy người phạm lỗi lầm, biết mưu sự giúp người, biết gom góp công việc cho người, biết làm rõ các việc đấu đá, biết giải quyết thị phi, biết hưng lợi trừ hại, biết làm quan cất nhắc chức tước cho người, biết sợ pháp lệnh, biết cẩn thận việc thuế má" (năng trị gia chính, năng ngự đồng bộc, năng trạch giao du, năng cần sự công, năng thủ liêm giới, năng quảng thi huệ, năng thụ ký thác, năng cứu hoạn nạn, năng đạo nhân vi thiện, năng quy nhân quá thất, năng vị nhân mưu sự, năng vị chúng tập sự, năng giải đấu tranh, năng quyết thị phi, năng hưng lợi trừ hại, năng cư quan cử chức, năng úy pháp lệnh, năng cẩn tô thuế chi loại, tr.66).

2. Muốn thiết lập nên các chuẩn mực về "hiếu" , "đễ" , "trung" , "tín" cho người dân thì yêu cầu đặt ra là cần phải tôn trọng kẻ sĩ, tầng lớp chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo. Ba bản hương ước cùng đưa ra những quy định "trọng sĩ". Kẻ sĩ - tầng lớp chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo và có tác động mạnh đến thiết chế xã hội bấy giờ. Vương triều Choson rất coi trọng người có học, các triều đại vua Choson đều đưa ra những chính sách khuyến khích Nho học, đào tạo một đội ngũ Nho quan phục vụ vương triều. Theo đó, ở các hương đảng song song với việc trọng xỉ - coi trọng người có tuổi tác, cũng có nhiều ưu đãi đối với kẻ sĩ: Chọn người thay dân cầm đỡ cán cân công lý, điều hành mọi công việc trong hương thôn.

Chính vì được coi trọng như vậy nên kẻ sĩ phải tự rèn luyện bản thân để hợp với mỹ quan của cộng đồng. Cho nên, những người đứng đầu hương phải luôn cân nhắc, rèn giũa bản thân, bởi họ là người có ảnh hưởng trực tiếp đến phong tục của hương, họ được nhắc đến từ tư cách cho đến cách giải quyết công việc. Vì vậy họ không được lộng quyền, nhiễu nhương, không được lấy việc công làm việc tư gây điều thị phi ảnh hưởng đến hương, khi có việc công thì không được thoái thác an phận... Nếu vi phạm, họ bị khép và xử tội ở mức cao nhất, đôi khi căn cứ vào mức độ vi phạm mà giảm cho một bậc chớ không vì họ là người có chức quyền nên tha bổng hoặc trách phạt nhẹ nhàng được.

Các quy định đưa ra trong hương ước nhằm khuyến khích mọi người ra sức "sôi kinh nấu sử" để có cơ hội đỗ đạt làm quan, rạng danh tông tộc mà nhất là có thể thay đổi được ngôi thứ của mình trong xã hội, từ hàng dân đinh thấp bé sang giai cấp lưỡng ban hay tầng lớp trung lưu. Và những điều họ mong muốn ấy chỉ trở thành hiện thực khi họ ra sức trau dồi kiến thức của thánh hiền qua các bộ Tứ thư (Trung dung, Đại học, Luận ngữ, Mạnh Tử), Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Nhạc Dịch, Xuân Thu), hay bộ Tam sử (Sử ký, Hán thư, Hậu Hán thư) bằng cách học thuộc, tức chỉ dạy chữ thánh hiền. Đó đơn thuần chỉ là những tri thức về khoa học xã hội, hầu như không thấy tri thức học học tự nhiên. Dưới ảnh hưởng của Nho học, con người thời Choson, luôn đặt nặng vấn đề ngôi thứ - học thức. Ngôi thứ có được thông qua con đường thi cử đỗ đạt để lập thân trị quốc và chỉ những ai có năng lực thực sự mới được trọng dụng. Những quy định tuyển chọn người được kê ra trong hương ước phần nào phản ánh cách nhìn thiên lệch của người Triều Tiên, họ xem trọng văn hơn võ. Vì thế dành nhiều ưu đãi cho văn quan hơn võ quan. Nó nói lên một sự mất cân bằng trong cách đào tạo con người, trong khi Nho học chủ trương đào tạo nên lớp người văn võ song toàn nhưng thực tế Choson đào tạo phiến diện. Cho nên, trong chế độ thi cử và hệ thống thang bậc xã hội thì môn võ không được quy định một cách rõ ràng thành các kỳ thi như môn văn (thi Hương, thi Hội, thi Đình), và các võ quan sau khi được trúng tuyển cũng chỉ là kẻ vệ sĩ cho các văn quan. Theo đó, nảy sinh nhiều manh mún làm xã hội rối ren. Đúng là trị dân phải là người có phẩm hạnh, có học thức... nhưng học thức không nên hiểu ở sự thiên lệch. Qua đây, ta thấy người Triều vận dụng một cách cực đoan, triệt để đối với các giáo lý Nho học và cách vận dụng này trong lịch sử đã phải trả một giá đắt.

3. Ba văn bản hương ước chữ Hán Triều Tiên thời kỳ này đều đề cập đến cách ứng xử giữa người với người từ trong gia đình đến ngoài hương đảng. Nổi bật lên trên hết và được nhắc đến nhiều lần nhất là quy định trọng xỉ. Vì vậy, khi đặt ra hương ước, tác giả rất quan tâm đến cách ứng xử của từng thành viên để phù hợp với tiết chế cộng đồng.

Mở đầu các văn bản, các tác giả nêu lên quy định:

- Tôn kính bậc trưởng thượng (Tôn kính trưởng thượng, An Đông hương ước, tr.47; Mật dương hương ước. tr.54).

- Kính trưởng thượng (Kính trưởng thượng, Bàn Khê hương ước, tr.66).

Đó là một trong những yếu tố hợp thành "đức nghiệp". Và căn cứ để định ra cách ứng xử giữa người với người là độ tuổi. Người lớn tuổi hơn bao giờ cũng nhận được sự ưu đãi của mọi thành viên trong hương đảng. Đó là sự tôn kính, vị trí ngôi thứ ở đình trung trong các kỳ hội họp, thậm chí ngay trong vấn đề hình phạt.

Ở tr.49 bản An Đông hương ước và tr.54 Mật Dương hương ước: "Người trong hương gấp đôi tuổi mình mình phải đối xử với họ như cha. Người lớn hơn mình mười tuổi phải đối xử với họ như anh. Người lớn hơn mình năm tuổi phải kính trọng họ. Gặp bạn bè của cha thì phải vái chào. Người lớn hơn mình mười tuổi tuy ở ngõ vắng gặp họ mình phải hành lễ thượng bái. Người trong hương lớn hơn mình 15 tuổi gặp họ mình phải hành lễ thượng bái. Gặp các bậc tôn trưởng phải xuống ngựa. Đi qua công môn phải xuống ngựa. Đi qua chỗ dân làng hội ẩm phải xuống ngựa".

Quy ước này rút ra từ Luận ngữ, về sau được Bàn Khê hương ước phát triển cụ thể thành quy định trong cách chào hảo, mời mọc, tiễn đưa... Tục "trọng xỉ" đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Triều Tiên thời bấy giờ, mọi việc lớn nhỏ đúng sai thế nào cũng giải quyết cho người lớn tuổi phần thắng. Các bậc tôn trưởng còn được hưởng thêm quyền lợi trong khi yến ẩm, tế tự của hương: "Người 60 tuổi ngồi, người 50 tuổi đứng hầu để làm rõ thứ bậc tôn trưởng. Người 60 tuổi được dâng ba đậu đựng đồ cúng, người 70 tuổi được dâng bốn đậu đồ cúng, người 80 tuổi được dâng năm đậu đồ cúng, người 90 tuổi được dâng sáu đậu đồ cúng là để nói rõ cách phụng dưỡng người già" tr.72 BKHU... Vì theo quan niệm của họ để trở thành người có hiếu đễ thì yêu cầu trước hết là phải biết tôn kính và nuôi dưỡng người cao tuổi: "Dân vào thì hiếu đễ, ra thì tôn kính các bậc trưởng thượng, nuôi dưỡng người già sau mới thành người có giáo dục. Trở thành người có giáo dục sau đất nước mới có thể an định". tr.72.

Không những thế, người cao tuổi còn là niềm tự hào và hãnh diện cho cả làng:

- Trong lí (làng) ai tuổi thọ cao báo lên quan (Lí trung cao niên báo phủ quan, Mật Dương hương ước. tr.57).

- Ai tuổi thọ cao báo lên quan (Niên cao nhân luận báo sự, Mật Dương hương ước, tr.59).

Và phạt nặng những ai:

- Kẻ nhỏ nhưng lại lăng nhục các bậc trưởng phụ (Dĩ thiếu lăng nhục lão giả, An Đông hương ước, tr.49; Mật Dương hương ước, tr.54)

- Kẻ nhỏ nhưng lăng nhục bề trên (Dĩ hạ lăng thượng giả, Mật Dương hương ước, tr.59).

Lăng nhục các bậc trưởng lão (Trưởng lão lăng nhục giả, Bàn Khê hương ước, tr.73).

Có thể nói tính "trọng xỉ" là một tập tục tốt đẹp của người Triều Tiên, là căn cứ xác định lễ tiết sống, biết ơn người lớn tuổi đã có công truyền dạy chỉ dẫn những kinh nghiệm của bản thân, giúp dân biết cách ứng xử trước những thiên tai, mất mùa và bảo vệ lẫn nhau. Người cao tuổi như một thước đo giá trị phẩm hạnh và đức độ mà mọi người phải ngưỡng vọng vào đấy để tự răn mình. Song cũng có điều đôi khi tính "trọng xỉ" còn khiến xảy ra việc nhất nhất phải tuân theo người lớn tuổi, mà người lớn tuổi thì sở hữu những tri thức kinh nghiệm, những tri thức kinh nghiệm đó có đúng có sai chứ không phải là bất di bất dịch trong mọi trường hợp. Chính điều này phần nào đã chối bỏ sự sáng tạo của lớp trẻ, cứ khư khư giữ lấy cái "thâm căn cố đế", ấy là nguyên nhân tách rời thế hệ này với thế hệ kia nên lĩnh vực tư tưởng ý thức hệ.

4. Cả ba văn bản hương ước chữ Hán Triều Tiên thời kỳ này đều đề cao tinh thần thương yêu, bao bọc và giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh của người dân từng vùng để giải quyết vấn đề thiên tai và địch họa. Ai trong hương đảng cũng tự vạch trách nhiệm cho mình khi người trong hương xảy ra sự cố. Mọi người quan tâm nhau, dìu đỡ nhau vượt qua mọi chướng ngại, vấp váp của cuộc sống. Dù là dân chính cư hay ngụ cư họ đều san sẻ cho nhau để vơi đi cái gánh nặng mình gặp phải: Hỏa hoạn, trộm cắp, bệnh tật, ma chay... xem như việc của mình.

- Lũ lụt và hỏa hoạn hàng xóm nên phái người đến cứu cho kịp thời, nếu đám cháy lớn đích thân dẫn nhiều người đến cứu. Đồng thời để giúp cho gia đình bị nạn sau hỏa hoạn mọi người bàn bạc mang đến nào tranh lợp, nào gỗ và tôi tớ đến phụ giúp dựng lại nhà. Nếu không có lương thực dân làng nên bàn bạc nhau đem tiền của đến cứu giúp.

- Nạn đạo tặc hàng xóm nên chung sức nhau truy bắt. Nhà có uy vì gia đình bị nạn mà báo lên quan ty. Nếu gia đình bị nạn nghèo túng quá thì dân làng quyên góp giúp cho. Nếu không đủ áo mặc, cơm ăn thì dân làng bàn bạc nhau đem tiền của đến cứu giúp.

Bệnh tật bệnh nhẹ thì nên sai người đến hỏi thăm. Nếu bệnh nặng phải thuốc thang nhưng vì nhà nghèo không tiền chữa trị thì nên giúp cho họ kinh phí để dưỡng bệnh. Nếu như cả nhà đều mắc bệnh nằm liệt giường không thể cày cấy, không làm được thì làng xóm sẽ ra sức giúp cho.

(- Thủy hỏa cận giả khiển nhân cập thời cứu chi, thậm tắc thân vãng đa suất nhân cứu. Thả điếu chi gia hàm thiêu tận tắc chúng nghị cổn cái thảo, tài mộc xuất dịch đinh vãng trợ cấu trợ cấu ốc chi hậu. Nhược nhân dĩ diễm lương tắc chúng nghị dĩ tài tế chi.

- Đạo tặc cận giả đồng lực truy bổ. Hữu lực giả vị chi cáo quan ty. Kỳ gia bần tắc vị chi trợ xuất mộ thường. Nhược y lương vô dư tắc chúng nghị dĩ tài tế chi.

- Tật bệnh tiểu tắc khiển nhân vấn chi. Thậm tắc vị phỏng y dược. Bần tắc trợ kỳ dưỡng tật chi phí. Nhược hạp gia bệnh ngọa tắc lân lí xuất lực canh, vân dĩ trợ, tr.69).

Tinh thần đoàn kết, quan tâm và bao bọc nhau là nghĩa cử cao đẹp của dân trong hương đảng mà hầu hết các bản hương ước đều nhắc đến không riêng gì ba bản hương ước của Triều Tiên ở thế kỷ XVII này. Ngoài ra mọi người còn lập hẳn một quỹ và hằng năm đóng góp ít nhiều vào đấy để giúp nhau những lúc tối lửa tắt đèn. Và các vấn đề ma chay, cưới hỏi, sinh con, thăng quan tiến chức... được thực hiện với sự giúp đỡ của cộng đồng, tổ chức trên cơ sở tiết kiệm, tránh xa hoa lãng phí. Người nông dân dù sa cơ lỡ vận gặp phải rủi ro hay gia đình có chuyện tang tang, hiếu hỷ gì cũng luôn có cộng đồng bên cạnh quan tâm chia sẻ cả về vật chất lẫn tinh thần, phần nào giúp họ vơi đi cái áp lực nặng nề trong điều kiện sống túng quẫn, chật hẹp. Vì lẽ đó, cộng đồng đã trở thành lẽ sống và niềm tin của bao người dân lao khổ bấy giờ. Nhận được sự quan tâm chia sẻ của cộng đồng, mỗi thành viên luôn tự ý thức trách nhiệm của bản thân đối với nhau tùy vào điều kiện kinh tế gia đình, làng xã không đòi hỏi thêm.

5. Để củng cố và phát huy hiệu lực của hương ước, các nhà Nho Triều Tiên luôn đưa ra những mức xử phạt và khen thưởng để trừng trị và khuyến khích dân. Trước hết, những gì đi ngược lại với "đức nghiệp" là nguyên nhân dẫn đến sự rối loạn trong nề nếp và kỷ cương hương đảng. Vì vậy, đây là điểm cần phải chấn chỉnh đầu tiên. Và cơ sở đảm bảo cho điều này là hình phạt. Các hình phạt chủ yếu trong hương ước thời kỳ này gồm:

Phạt roi: Được áp dụng rộng rãi với mức độ khác nhau (mức thấp nhất là 10 roi, vừa là 20 roi, nặng là 30 roi). Việc phạt roi không từ một ai từ hàng Hương lại cho đến thứ dân, riêng đối với người già thì không áp dụng hình phạt này trực tiếp lên họ mà phạt gián tiếp lên con của họ.

Truất bỏ chỗ ngồi: Tương ứng với việc hạ vị trí ngôi thứ của người vi phạm điều lệ hương. Thứ bậc chỗ ngồi của từng người thể hiện vị thế của người đó trong hương. Toàn bộ dân trong hương được phân định thứ bậc ngôi thứ nhất định tùy thuộc vào phẩm hạnh, tuổi tác, chức tước, học thức. Hình phạt này đưa ra nhằm hạn chế và ngăn chặn những hành vi vi phạm hương ước. Nó là hình thức xử phạt có vẻ đơn giản, nhẹ nhàng nhưng thực chất người chịu hình phạt này đồng nghĩa với việc họ bị mất uy tín, danh dự và thể diện trước dân, đó là điều tồi tệ nhất cho cả dòng họ. Tuy nhiên người chịu phạt nếu biết sửa lỗi, biết hối cải thì trong một thời gian gần nhất, mọi người sẽ xem xét lại, có thể cho trở lại ngôi thứ cũ.

Truất tên khỏi số hộ tịch của hương: Truất tên khỏi số hộ tịch của hương, không được xem là người trong hương và không được tham dự bất kỳ buổi họp nàu của hương. Nếu người vi phạm tuổi cao, tuy dân làng luôn có ý thức "trọng xỉ" song cũng không vì thế mà giảm tội cho họ, thậm chí họ còn không được xếp tuổi tác theo thứ bậc trong hương. Đây là hình phạt cao nhất, đối với mỗi người dân chính cư, việc có tên trong sổ hộ tịch của hương đồng nghĩa với việc họ được công nhận là dân trong hương, lẽ dĩ nhiên những quyền lợi và nghĩa vụ của họ sẽ được hương xét đến, họ có ruộng để cày cấy ổn định và phát triển cuộc sống, họ được xét đến tư cách, tuổi tác, trình độ học thức để xếp ngôi thứ, tính việc ban thưởng cùng sự quan tâm chiếu cố giúp đỡ nhau của cả cộng đồng khi gặp trở ngại rủi ro... Kẻ chịu mức phạt này có ảnh hưởng đến phong thái, sĩ diện, đôi khi còn bị mọi người chê cười, nhạo báng, khinh thường họ, họ sẽ phải đứng ngoài lề mọi hoạt động của cộng đồng. Tuy nhiên nếu người vi phạm biết sửa đổi, mọi người sẽ giúp cho người vi phạm có cơ hội được trở về hòa nhập với cộng đồng hướng họ về điều thiện, không vin vào những lỗi lầm họ đã phạm phải trước đây để tẩy chay họ.

Hình phạt dù nặng hay nhẹ nhưng bao giờ nó cũng thể hiện tính nhân văn cao cả và lòng thương yêu, dìu dắt, nâng đỡ nhau của mọi người trong hương thôn. Tác giả văn bản bên cạnh đưa ra những hình thức xử phạt đúng chuẩn theo phép công cũng không quên đưa vào đấy những biện pháp khoan hồng mềm dẻo. Khi người phạm lỗi biết sửa đổi và muốn làm lại từ đầu thì cộng đồng không hề xa lánh họ mà sẽ tạo điều kiện giúp họ trở về với cộng đồng, với đời sống thường nhật của một công dân.

Còn khen thưởng chỉ đơn thuần là: "tuyên dương trước làng", nhưng cũng đủ sức khuyến khích dân theo nề nếp.

Như vậy, cả ba văn bản hương ước chữ Hán Triều Tiên thời kỳ này đều đề cập đến cách ứng xử, quan hệ giữa người với người từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Đề cao lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ hay con dâu đối với cha mẹ chồng: anh em thì em phải nghe lời và kính thuận anh; vợ chồng phải giữ lễ, vợ phải ân cần chu đáo trong việc chăm sóc chồng con... Ra ngoài gia đình thì người nhỏ tuổi hơn phải luôn kính trọng và cư xử với người lớn hơn theo lễ từ cách chào hỏi, mời mọc, tiễn đưa... Ba bản hương ước đều đề cập nhiều đến vấn đề ma chay, nhất nhất phải theo lễ nhưng phải đảm bảo chủ trương tiết kiệm, ai ai trong cộng đồng đều đến giúp tang gia xem như việc của bản thân không đòi hỏi hay câu nệ gì thêm. Qua đó nói lên tính cộng đồng giữa người với người khi gặp cơn nguy biến, hoạn nạn (ma chay, bệnh tật, mất mùa, trộm cướp, cháy nhà...) tối lửa tắt đèn đều có nhau. Đồng thời tác giả văn bản cũng kê cứu vào đấy những hình phạt nặng đối với những kẻ vô tâm, vụ lợi, nhũng nhiễu dân làm trái cương thường... Một điểm khá lý thú trong hương ước Triều Tiên thời kỳ này là họ đặt trách nhiệm đối với quốc gia sau những điều cần làm và trách nhiệm đó lại không được quy định thành nhiều khoản mà duy nhất chỉ có: "Cẩn trọng với việc tô thuế". Như vậy là người Triều Tiên trên cơ sở tiếp thu Ngũ thường của Nho giáo đã bản địa hóa nó để phù hợp với tính dân tộc của mình. Một điều nữa cũng được bàn đến rất chi tiết trong ba bản hương ước này là khi người Triều Tiên đưa mô hình đất nước mình rập khuôn theo mô hình Nho giáo, từ thiết chế nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, cũng quan tâm nhiều đến việc đào tạo hàng ngũ Nho quan phục vụ vương triều. Vì quan văn được xem trọng hơn quan võ nên họ cũng đưa vào trong hương ước những ưu đãi cho người đỗ đạt làm quan, những người thuộc hàng "dị tước giả" trong những buổi hội họp của hương đã khuyến khích dân chúng đua nhau học thuộc lòng những bộ kinh sử của thánh hiền./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.990-1003

Đỗ Thị Hà Thơ
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm