95. Về bài ca Nôm Lịch tự Đằng Châu tiến miếu ca (TBHN 2008)
VỀ BÀI CA NÔM
LỊCH TỰ ĐẰNG CHÂU TIẾN MIẾU CA
NGUYỄN THỊ TRANG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Đằng Châu là tên một xã thuộc tổng An Tảo huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên. Đây là một vùng quê giàu truyền thống văn hóa lịch sử. Văn miếu của trấn Sơn Nam nổi tiếng từng đặt ở xã Xích Đằng, cận kề ngay Đằng Châu. Đặc biệt nơi đây đã sinh ra vị tướng lĩnh tài ba Phạm Phòng Át. Ông là một trong mười hai vị sứ quân thời kỳ cuối nhà Ngô đầu nhà Đinh. Khi ấy vua Hậu Ngô Vương còn trẻ tuổi, không đủ năng lực điều hành đất nước, giặc giã nổi lên khắp nơi. Tướng quân Phạm Phòng Át cũng chiêu tập binh mã, tổ chức thành đội quân hùng mạnh đi tranh cướp cùng với mười một vị sứ quân khác. Tương truyền mỗi khi xông trận ông đều phóng ngựa đi đầu, xông vào chỗ ba quân như đi vào chỗ không người. Một lần chiến đấu thất lợi, ông bị quân địch chém mất đầu, thế nhưng ông vẫn tiếp tục phi ngựa, hai tay nâng đầu lên đặt vào cổ. Ngựa chiến dũng mãnh đưa tướng quân chạy về đầu làng, gặp một bà lão đang bán nước bên đường, ông bèn dừng ngựa lại hỏi: "Thưa bà lão: người không có đầu có thể sống được không? Bà lão tươi cười trả lời: "Lão nay sống đã tròn trăm tuổi, chỉ nghe nói người sống phải có đầu, chưa nghe nói người không có đầu mà sống bao giờ? Nghe xong câu nói, tướng quân liền ngã ngựa và hóa luôn. Nơi ngài vừa hóa bỗng đã thấy mối đùn lên thành một gò đất cao bằng phẳng. Dân làng Xích Đằng thương kính người anh hùng của quê hương liền cho dựng ngôi đền thờ lộng lẫy nghiêm trang để thờ phụng ngài. Từ đó về sau dân địa phương nô nức đến đèn hương, khói hương ngàn năm không dứt. Hiện đền thờ tướng quân Phạm Phòng Át vẫn sừng sững ở quê hương Đằng Châu. Trong đền còn lưu giữ nhiều đồ thời quí giá, đặt biệt có một cuốn sách chữ Hán ghi lại sự tích của Ngài. Cuốn sách ghi lại bài ca Nôm dâng miếu thánh kể lại sự tích của đức Thánh thờ phụng tại đền thờ Đằng Châu. Sách do Tuần phủ Hưng Yên biên soạn gồm 74 câu thơ song thất lục bát, lời thơ chau chuốt, âm điệu hài hòa, bầy tỏ lòng tôn kính của người đời sau đối với đức thánh. Nhận thấy đây là tài liệu quí. Chúng tôi xin phiên âm dịch nghĩa và giới thiệu tại Hội nghị Thông báo Hán Nôm năm 2008 này.
Toàn văn là:
Lịch tự Đằng Châu linh tích tiến miếu ca.
Một vầng chính khí hạo nhiên(1).
Đã sinh làm tướng thác(2) thiêng sinh thần.
Hóa sinh sinh hóa mấy lần,
Khách tiên lại nếm mùi trần thử chơi.
Chốn Đằng Châu là nơi thác tích(3).
Đem cung tên rũ sạch trần ai.
Giang sơn gánh vác một vai,
Bốn phương đã tỏ mặt trai anh hùng.
Trêu người chi mấy hóa công.
Phút đâu mây tối để rồng xa bay(4).
Một phương hương khói đêm ngày,
Nào ai đã biết gì đây là gì.
Ứng vương kỳ(5) trời sinh Lý Tổ(6).
Thuyền đi qua mưa gió giữa vời.
Hỏi rằng: "Miếu ấy thờ ai?
Có thiêng sao chẳng giúp người thử nao?"
Vừa chợt nói ứng vào giấc mộng,
Thơ ngũ ngôn trịnh trọng hữu tình.
Mở bừng mắt dậy trông quanh,
Một sông đã thấy vũ tình(7) chia hai.
Khi đăng cực(8) nhớ bài thơ ấy,
Sắc bao phong(9) mới thấy từ đây.
Nước thu khi bể lại đầy,
Nhấp nhô những thấy sóng vầy kình nghê(10).
Đêm đêm hiện dù xe đi hộ(11).
Trên đường đê lấp ló bóng người.
Thuận dòng thủy bất vi tai(12).
Gia phong trần lại thêm hai chữ này.
Anh linh thấy một ngày một lạ.
Miếu hầu xong(13) mà đá chuyển sang.
Mùi thơm bay khắp trời Nam,
Sắc phong thượng đẳng hỗn hoàng(14) nghìn thu.
Chốn đê liễu gió ù ù thổi,
Thuyền thuế đi vừa khỏi cửa sông.
Thử cô bỗng ấy xa trông,
Sông Đằng(15) đó nọ núi Nùng(16) kia kìa.
Sẽ thong thả hầu kề nghỉ mát,
Bỗng đâu đâu thấy nước chảy đua.
Người người ai chẳng sợ lo,
Lầm dầm khấn vái nhỏ to một lòng.
Chợt đâu cá chép nằm trong,
Thuận lưu mặt nước phẳng trong như tờ.
Lại nhởn nhơ tay chèo chân lái,
Giọng hò khoan lên tới Thăng Long,
Nạp công thuở ấy đã xong,
Muộn ơn cảm đội thần công trùng trùng.
Cứ thuận dòng đi về trước miếu,
Lại xin dâng hiển báo linh thiêng.
Gió đâu ập đến đùng đùng
Đê trời bạch vụ(17) bay vồng lên trên.
Ơn thiêng bao xiết báo đền,
Có nơi thanh sảng(18) nhìn xem cũng kỳ.
Sơn tinh thủy tú thanh kỳ,
Mới hay cát địa thần ti(19) rõ ràng.
Thôn dân cũng cứ hướng phương(20).
Dựng nên miếu vũ lửa hương phụng thờ.
Bia đá nọ trơ trơ nét mực,
Bảng vàng kia vằng vặc mầu son.
Nào khi trắc giáng(21) vô thường,
Xoay vần trong cuộc tang thương cũng kỳ.
Khuôn thiêng khí đúc đi để lại(22).
Đã non Bồng(23) lại trải cảnh trần gian.
Thương dân Kiệt Trụ(24) lầm than,
Giúp nên đấng Nghiêu triều Thuấn bệ(25).
Câu minh lương(26) bái khể canh ca(27).
Rồi khi Thang Vũ(28) can qua,
Mùi trần nếm đủ yên hà xa chơi(29).
Bẩy mươi hai nơi về thú cũ,
Đứng sắp bầy văn võ trăm quan.
Uy trời ai dám vi nhan(30),
Hạo nhiên chính khí nhân hoàn chu lưu(31).
Nay mừng thấy long lâu tái ngự(32),
Con xin dâng tích cũ vài câu.
Họa là thấu đến cao sâu(33).
Chú thích:
1. Chính khí hạo nhiên: khí thiêng của đất nước.
2. Thác: chết, mất.
3. Thác tích: mượn đất để gửi lại dấu tích.
4. Để rồng xa bay: ý nói Đại vương Phạm Phòng Át là Rồng thiêng, đến khi hết số đã bay về trời.
5. Xương kỳ: kỳ hạn tốt lành, thời kỳ thịnh vượng.
6. Lý Tổ: tức vua Lý Thái Tổ. Tương truyền khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, thuyền rồng của nhà vua đi qua vùng đất Đằng Châu thì thấy thần linh hiện lên trợ giúp, làm cho mưa tạnh gió yên.
7. Vũ tình: tạnh mưa.
8. Đăng cực: lên ngôi vua.
9. Bao phong: ban sắc phong tặng cho phẩm hàm.
10. Kình nghê: giặc dã.
11. Đi hộ: đi cứu hộ.
12. Thủy bất vi tai: sông nước không thể gây tai họa được. Đoạn văn này nói việc Tôn thần Phạm Phòng Át ở đền Đằng Châu đã hiển linh làm cho mưa tạnh gió yên, để thuyền vua Lý Thái Tổ thẳng tiến.
13. Hầu xong: gần như đã xong.
14. Hỗn hoàng: rực rỡ tươi sáng.
15. Sông Đằng: chỉ đoạn sông Hồng chảy qua vùng Đằng Châu.
16. Núi Nùng: tức ngọn núi Nùng ở Thăng Long.
17. Bạch vụ: cò trắng.
18. Thanh sảng: thoáng đạt.
19. Ý cả câu nói: non nước tươi đẹp.
20. Hướng phương: theo phương hướng như vậy.
21. Trắc giáng: lên xuống.
22. Ý nói khí thiêng của đức Thánh vẫn còn để lại.
23. Non Bồng: nơi tiên ở.
24. Kiệt, Trụ: tên hai vị vua tàn ác đời Tam đại của Trung Quốc.
25. Nghiêu Thuấn: tên hai vị hoàng đế thời Thượng cổ.
26. Minh lương: tức minh quân lương thần.
27. Canh ca: tiếp nối khúc ca.
28. Thang vũ: tức Thành Thang và Hạ Vũ, là hai bậc minh quân thời Tam Đại.
29. Yên hà xa chơi: đi vào cõi tiên.
30. Vi nhan: trái với mệnh trời.
31. Nhân hoàn chu lưu: đi vòng quanh cõi thiên hạ.
32. Long lâu tái ngự: lại lên ngựa ở lầu rồng.
33. Cao sâu: trời cao đất dầy./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.1067-1072