VI | EN
98. Giới thiệu một dị bản Minh đô thi vựng mới (TBHN 2008)
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.1086-1113

GIỚI THIỆU

MỘT DỊ BẢN MINH ĐÔ THI VỰNG MỚI

NGUYỄN THANH TÙNG

Đại học Sư phạm Hà Nội

Như chúng ta đều biết, Minh đô thi vựng (明 都 詩 彙) là bộ thi tuyển có giá trị của Việt Nam thời Trung đại. Hiện nay, giới nghiên cứu chỉ mới biết tới 3 dị bản của công trình này hiện tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mà cả ba bản đều không đầy đủ, tình hình văn bản khá phức tạp, đó là các bản: Minh đô thi (A.2424); Minh đô thi tuyển (A.2171); Minh đô thi vựng (VHv.2392)(1). Gần đây, thật may mắn, chúng tôi đã tìm thấy thêm một dị bản MĐTV ngoài 3 bản trên. Sau đây, chúng tôi xin được giới thiệu khái quát về văn bản này.

Dị bản này từ lâu đã nằm trên giá sách tại tư gia ông Nguyễn Xuân Diện, Phó giám đốc Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Được biết chúng tôi quan tâm đến sách này, ông đã vui lòng cho mượn và cho phép được khai thác. Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn thiện ý của ông! Cũng vì thế, chúng tôi tạm gọi dị bản này là bản Nguyễn Xuân Diện (bản NXD) để phân biệt với ba dị bản nêu trên.

Sách rách đầu rách cuối, một số tờ đã mủn nát. Sách chép tay trên giấy dó cũ khổ 21x13 cm, khâu gáy, bìa đóng bằng giấy bản cứng, màu hồng. Bìa sách đề Minh đô thi tập (明 都 詩 集), nhưng trong ruột sách lại chép Minh đô thi vựng (明都 詩 彙) (tờ 50a), dưới còn có cước chú bằng chữ nhỏ: “Hà Thanh Bùi gia (Liên Khê cư sĩ Cơ Phủ) biên tập” (河 清 裴 家 蓮 溪 居 士 基 甫 ). Theo chúng tôi, bìa sách chắc do người sau viết vào (chữ có khác), nên có sai dị với tên sách bên trong. Theo kết quả chúng tôi đã công bố trong bài Giới thiệu bài Tự tự Minh đô thi vựng của Bùi Nhữ Tích mới phát hiện (Thông báo Hán Nôm học năm 2007), cái tên Minh đô thi vựng mới là tên đúng của sách này. Sách gồm 78 tờ (156 trang), mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng khoảng 20 chữ, viết chân phương dễ đọc, có phê điểm bằng mực son, thỉnh thoảng có chú thích (cước chú, hoặc chú trên trán sách) về tiểu sử tác giả hoặc lai lịch, nội dung các tác phẩm. Sách không có dấu hiệu kiêng húy, không ghi niên đại, tên người sao chép, địa điểm sao chép, xuất xứ văn bản,v.vCăn cứ vào tình hình đó, theo suy đoán của chúng tôi, sách này sớm nhất cũng chỉ xuất hiện từ cuối thế kỉ XIX trở về sau.

Đặc biệt, giữa văn bản Minh đô thi vựng (NXD) (tờ 50a) có ghi: Minh đô thi vựng quyển chi tứ 明 都 詩 彙卷之四(Minh đô thi vựng quyển IV). Sau đó là dòng ghi tổng số bài chép. Đây là một thông tin cực kì quan trọng. Bởi vì nó cung cấp cho ta cơ cấu và lai lịch của sách. Từ thông tin trên có thể suy ra, phía trước chính là quyển III. Như vậy, bản NXD bao gồm 2 quyển III và IV (dĩ nhiên là không trọn vẹn do bị rách đầu rách cuối). Vậy đây không phải là một công trình trọn vẹn mà chỉ là một phần (quyển III, IV) trong một bộ sách gồm nhiều quyển. Một phần quyển III chép thơ từ Nguyễn Ức đến Đoàn Nguyễn Tuấn, tổng cộng 31 tác giả với 164 bài thơ. Quyển IV chép 154 bài thơ của 27 tác giả, từ Phạm Mại đến Phạm Nguyễn Du, Cộng lại chúng ta có 318 bài thơ của 57 tác giả. Tuy nhiên, ở quyển IV có hiện tượng đáng chú ý là: người viết chép thơ từ Phạm Mại (cuối Trần) đến Phạm Nguyễn Du (cuối Lê) (theo trình tự thời gian từ cổ > kim), rồi đột ngột trở lại chép thơ của Nguyễn Nhân Bị, Nguyễn Ích Tốn, Trần Sùng Dĩnh, là các tác giả đầu đời Lê (Hồng Đức). Điều này cho phép chúng ta suy đoán rằng, quyển IV kết thúc ở tác giả Phạm Nguyễn Du, và các tác giả còn lại thuộc 1 quyển khác. Sau cùng là một tập giấy mới được đóng gộp vào ghi chép lộn xộn, trong đó có cả thơ của Hồ Chủ tịch (!). Đây là phần không dính dáng gì đến Minh đô thi vựng mà được chép rất muộn về sau.

So sánh với 3 bản Minh đô thi vựng hiện lưu giữ ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi nhận thấy bản NXD khá giống với bản A.2424, từ cước chú: “Hà Thanh, Bùi gia Liên Khê cư sĩ Cơ Phủ biên tập” (tờ 50a), thống kê “chấn vựng nhất bách bát thập thủ” 宸彙一百八十首(tập hợp 180 bài) đến trật tự ghi chép các tác giả, số bài thơ của từng tác giả (tuy có đôi chỗ xuất nhập, lẫn lộn) [xem Phụ lục 3]. Tất nhiên, so với bản A.2424, ta cũng thấy hiện tượng bản này rách một số tờ ở giữa sách, khiến cho trình tự chép bị đứt quãng, thiếu hụt (chẳng hạn như trường hợp chép thơ Đặng Minh Khiêm - Đàm Thận Huy) [xem Phụ lục 2]. Số tác giả và số bài thơ của bản NXD cũng không đầy đủ, phong phú bằng bản A.2424. Cuối quyển IV của bản NXD (từ tác giả Nguyễn Nhân Bị > Trần Hoằng) thực ra lại gần giống với phần giữa quyển Hạ của bản A.2424 [Xem Phụ lục 3]. Từ đây, có thể suy đoán ba khả năng: bản NXD chép lại bản A.2424, hoặc ngược lại, hoặc 2 bản này có cùng một nguồn gốc (tức là cùng chép từ một nguồn khác). Dù thế nào, với bản A.2424, chúng ta đã có thêm một dị bản nhiều tương đồng để nghiên cứu so sánh.

Qua sự tương đồng giữa hai văn bản này, chúng ta có thể quay trở lại xem xét vị trí của bản Minh đô thi (A.2424). Bản này, theo như ghi chép bên trong, gồm 2 quyển Thượng và Hạ. Theo Trần Văn Giáp, bản A.2424 có thể là bản của Bùi Ngạn Cơ “nhân sách của cha mà làm gọn lại, thành 2 quyển thượng và hạ”(2). Theo chúng tôi, với những tư liệu mới tìm thấy, điều này ít có khả năng xảy ra. Bản A.2424 rất giống với bản NXD, mà bản NXD được chép là quyển III, IV, vậy A.2424 có thể cũng chỉ là dị bản của 2 quyển III, IV trong bản cổ hơn đã mất (chỉ có điều bị đổi thành quyển “Thượng” và quyển “Hạ”) chứ không phải sách toát yếu toàn bộ công trình Minh đô thi vựng. Nói khác đi, A.2424 cũng không phải công trình trọn vẹn mà chỉ là một phần của công trình lớn hơn.

Cũng theo bài viết chúng tôi đã công bố, số quyển của Minh đô thi vựng nhiều khả năng là 8 quyển (tương đương với 8 vựng), trong đó bản VHv.2392 đóng góp cho chúng ta quyển VII, VIII (đúng như ghi chép bên trong bản này). Từ thông tin về số quyển mà bản NXD mới cung cấp, có thể thấy bản này và bản A.2424 đóng góp cho chúng ta quyển III, IV của bộ Minh đô thi vựng. Đây là kết luận hết sức quan trọng, giúp chúng có thể hình dung quá trình truyền bản của công trình và góp phần tiến tới phục nguyên văn bản Minh đô thi vựng trong khả năng tư liệu cho phép.

Như vậy, việc phát hiện 1 dị bản Minh đô thi vựng mới (bản NXD) và bài Tự tự Minh đô thi vựng (trước đây) đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề văn bản học của công trình này. Chúng ta hoàn toàn có thể phục nguyên được văn bản Minh đô thi vựng từ những dị bản hiện còn và những tư liệu có liên quan. Nhưng đây không phải là nội dung của bài thông báo. Hi vọng rằng, chúng tôi sẽ còn trở lại các vấn đề văn bản học của Minh đô thi vựng một cách chi tiết, đầy đủ hơn trong thời gian sắp tới./.

Chú thích:

(1) Xin xem Trần Văn Giáp: Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, Nxb. KHXH, H, 1971; Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học, sử học, tập 1, Nxb. KHXH, H, 1972.

(2) Trần Văn Giáp: Lược truyện các tác gia Việt Nam, tài liệu đã dẫn, tr.117.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.1086-1113

 

Nguyễn Thanh Tùng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm