DẤU ẤN ĐẮC LỘ VÀ KÝ ỨC HÀ NỘI
Nếu
năm 1627 đánh dấu sự hiện diện của Alexandre de Rhodes – Đắc Lộ tại Thăng Long,
thì những thế kỷ sau đó lại mở ra một lịch sử khác: lịch sử tiếp nhận, tưởng niệm
và đánh giá nhân vật này trong ký ức Hà Nội. Theo các tư liệu về hoạt động
truyền giáo tại Đàng Ngoài, khi đến Thăng Long, Đắc Lộ được một thương nhân cho
mượn nhà làm nơi ở, tiếp khách và giảng đạo; ông được yết kiến Chúa Trịnh Tráng
và tiến hành hoạt động truyền giáo tại kinh thành cùng vùng phụ cận. Những trải
nghiệm ở Đàng Ngoài có ý nghĩa đặc biệt đối với quá trình truyền giáo cũng như
việc học tập, ghi chép và sử dụng tiếng Việt của ông. Chính Thăng Long vì thế
không chỉ là một địa điểm trong hành trình truyền giáo của Đắc Lộ, mà còn trở
thành một địa danh quan trọng trong ký ức về ông.
Tuy
nhiên, phải đến đầu thế kỷ XX, tên tuổi Đắc Lộ mới thực sự để lại những dấu
tích vật chất rõ rệt trong không gian đô thị Hà Nội. Đáng chú ý nhất là nhà bia
tưởng niệm được khánh thành chiều ngày 29 tháng 5 năm 1941, tại khu vực bên đền
Bà Kiệu, đối diện đền Ngọc Sơn. Công trình được xây dựng theo kiểu phương đình
bốn mái, bên trong đặt một tấm bia đá cao khoảng 1,70 m, rộng 1,10 m, dày 0,20
m. Nội dung bia được khắc bằng ba thứ chữ/ngôn ngữ: Quốc ngữ, Hán và Pháp; ghi
lại hành trình truyền giáo của Đắc Lộ và nhấn mạnh vai trò của ông trong quá
trình ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La-tinh.[1] Nhà bia này do kiến trúc sư
Joseph Lagisquet thiết kế; lễ khánh thành có sự hiện diện của Toàn quyền Jean
Decoux cùng nhiều quan chức Pháp và nhân sĩ Việt Nam.
Khung cảnh xung quanh nhà bia tưởng niệm Alexandre De Rhodes, ảnh chụp năm 1953
Bia tưởng niệm
Điều
đáng chú ý là lịch sử của nhà bia thực ra bắt đầu từ trước đó khá lâu. Ý tưởng
dựng một công trình tưởng niệm Đắc Lộ được trung tá Auguste Bonifacy khởi xướng
từ khoảng năm 1927. Một hội đồng được thành lập để vận động quyên góp trên phạm
vi Đông Dương. Sau nhiều năm đình trệ, đến năm 1940, việc xây dựng được khởi
động trở lại dưới sự điều phối của Bernard de Feyssal và chỉ hơn một năm sau
công trình được hoàn thành. Như vậy, nhà bia năm 1941 là kết quả của một quá
trình vận động kéo dài hơn một thập niên, phản ánh sự quan tâm của một bộ phận
giới trí thức, chính quyền thuộc địa và những người quan tâm đến lịch sử ngôn
ngữ Việt Nam đối với di sản Đắc Lộ.[2]
Sự
kiện khánh thành cũng cho thấy cách Đắc Lộ được nhìn nhận ở Hà Nội vào thời
điểm ấy. Tại buổi lễ, bên cạnh các đại diện chính quyền thuộc địa còn có những
nhân sĩ Việt Nam như Ngô Tử Hạ và Nguyễn Văn Tố. Nguyễn Văn Tố, với tư cách
người đứng đầu Hội Truyền bá Quốc ngữ, đã phát biểu về vai trò của Đắc Lộ đối
với lịch sử chữ Quốc ngữ. Báo chí đương thời ghi nhận khá đầy đủ các bài diễn
thuyết và lễ khánh thành; riêng Trung hòa nhật báo, số 2547, ngày
7-6-1941, và chuyên san Indochine, số 41, ngày 16-12-1941, đều dành sự
chú ý đáng kể cho sự kiện này.[3]
Chỉ
vài tháng sau, ngày 10 tháng 9 năm 1941, chính quyền thuộc địa lại đưa tên
Alexandre de Rhodes vào bản đồ đô thị Hà Nội. Theo nghị định của Toàn quyền
Đông Dương, phố số 219 được đổi tên thành phố Alexandre de Rhodes. Con phố này
về sau trải qua những lần đổi tên và hiện mang tên Đặng Trần Côn.[4] Như vậy,
trong năm 1941, ký ức về Đắc Lộ đồng thời hiện diện ở hai dạng thức rất khác
nhau: một công trình tưởng niệm bên Hồ Hoàn Kiếm và một tên phố trên bản đồ hành
chính của Hà Nội.
Nhưng
ký ức đô thị không phải là một dòng chảy liên tục. Sau những biến động chính
trị – xã hội giữa thế kỷ XX, nhà bia không còn tồn tại tại vị trí cũ. Công
trình bị dỡ bỏ; tấm bia đá cũng trải qua một số phận khá đặc biệt. Theo các tư liệu
được công bố, đến năm 1987, tấm bia được một cán bộ bảo tàng đã nghỉ hưu phát
hiện trong tình trạng lưu lạc, sau đó được đưa về bảo quản và cuối cùng trở
thành đối tượng được nghiên cứu trở lại.[5] Hiện nay, vị trí nhà bia cũ bên đền
Bà Kiệu là nơi đặt Tượng đài “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Một
bước ngoặt đáng chú ý diễn ra ngày 22 tháng 12 năm 1995, khi tại Hà Nội tổ chức
hội thảo khoa học nhân 335 năm ngày mất của Alexandre de Rhodes. Hội thảo do
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia phối hợp với Bộ Văn hóa – Thông
tin tổ chức, thu hút sự tham gia của các nhà sử học, ngôn ngữ học và nghiên cứu
văn hóa. Đây là một dấu mốc quan trọng trong quá trình nhìn nhận lại Đắc Lộ từ
phương diện lịch sử và khoa học. Một số nội dung của hội thảo được công bố trên
Xưa & Nay, số 23, tháng 1-1996.[6]
Đáng
chú ý, trong bối cảnh ấy, vấn đề phục hồi tấm bia tưởng niệm cũng được đặt ra.
Các đề xuất khi đó hướng tới việc đưa tấm bia vào khuôn viên Thư viện Quốc gia
ở Hà Nội; đồng thời vấn đề khôi phục tên phố Alexandre de Rhodes tại Thành phố
Hồ Chí Minh cũng được đề cập. Tuy nhiên, những dự định đối với tấm bia ở Hà Nội
về sau không được thực hiện đúng như phương án ban đầu. Điều này cho thấy ký ức
về Đắc Lộ trong xã hội Việt Nam hiện đại không phải là một ký ức đơn tuyến, mà
luôn gắn với những cách đánh giá, diễn giải và tranh luận khác nhau.[7]
Nhìn
từ chiều dài lịch sử, có thể thấy dấu ấn Đắc Lộ tại Hà Nội đã nhiều lần thay
đổi hình thức: từ một nhân vật từng trực tiếp hiện diện tại Thăng Long năm
1627, đến một nhân vật được tưởng niệm bằng bia đá năm 1941; từ tên một con phố
trên bản đồ Hà Nội đến một đối tượng được giới nghiên cứu xem xét lại tại hội
thảo khoa học năm 1995. Đến năm 2027, khi Hà Nội hướng tới kỷ niệm 400 năm ngày
Đắc Lộ đến Thăng Long, lịch sử ấy lại được mở ra trong một hoàn cảnh mới.
Vì
thế, nhân kỷ niệm 400 năm không chỉ nên được nhìn như dịp hồi cố một sự kiện
của năm 1627. Nó còn là cơ hội nghiên cứu lịch sử của chính ký ức về Đắc Lộ
ở Hà Nội: người Hà Nội từng tưởng niệm ông như thế nào, những thiết chế nào
đã góp phần tạo dựng hình ảnh ấy, vì sao hình ảnh ấy có lúc được đề cao, có lúc
bị lãng quên, và bằng cách nào tên tuổi Đắc Lộ trở lại trong đời sống học thuật
đương đại. Từ ngôi nhà nơi ông từng cư trú và giảng đạo ở Thăng Long, đến nhà
bia bên Hồ Hoàn Kiếm năm 1941, phố Alexandre de Rhodes trên bản đồ Hà Nội, hội
thảo khoa học năm 1995 và hội thảo kỷ niệm 400 năm năm 2027, có thể nhận thấy
Đắc Lộ đã nhiều lần “trở lại” trong không gian văn hóa của Thăng Long – Hà Nội.
Chính
lịch sử tiếp nhận và tái diễn giải ấy cũng là một bộ phận đáng được nghiên cứu
khi đánh giá vị trí của Đắc Lộ trong lịch sử giao lưu văn hóa, tôn giáo và ngôn
ngữ Việt Nam.
Chú thích
[1]
Đỗ Hoàng Anh, “Nhà bia Alexandre De Rhodes và những câu chuyện ít được biết
đến”, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, 26-9-2021; xem thêm Bảo tàng
Lịch sử Quốc gia, “Chuyện về tấm bia Alexandre de Rhodes”, 15-7-2010.
[2]
Đỗ Hoàng Anh, tài liệu đã dẫn. Hồ sơ lưu trữ cho biết sáng kiến ban đầu thuộc
về trung tá Auguste Bonifacy; đến năm 1940 Bernard de Feyssal được giao thúc
đẩy việc hoàn thành công trình.
[3]
Trung hòa nhật báo, số 2547, 7-6-1941; Indochine, số 41,
16-12-1941. Xem thêm Nguyễn Hữu Sơn, “Tiếp nhận cha Alexandre De Rhodes ở Việt
Nam nửa đầu thế kỷ XX”.
[4]
Nghị định ngày 10-9-1941 của Toàn quyền Đông Dương về việc đổi tên một số phố
và quảng trường Hà Nội; phố số 219 được đặt tên Alexandre de Rhodes.
[5]
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Chuyện về tấm bia Alexandre de Rhodes”,
15-7-2010.
[6]
Hội thảo khoa học kỷ niệm 335 năm ngày mất Alexandre de Rhodes, Hà Nội,
22-12-1995; một số nội dung được công bố trên Xưa & Nay, số 23,
tháng 1-1996.
[7]
Về những đề xuất sau hội thảo năm 1995 liên quan đến tấm bia và việc nhìn nhận
lại đóng góp của Alexandre de Rhodes, xem các tư liệu tổng thuật về hội thảo và
quá trình phục hồi tấm bia.