12. Mấy nét thơ qua Mạn hứng thi tập của Phương đình Nguyễn Văn Siêu (TBHN 2008)
MẤY NÉT THƠ QUA MẠN HỨNG THI TẬP CỦA
PHƯƠNG ĐÌNH NGUYỄN VĂN SIÊU
PHẠM ĐỨC DUẬT
Quận Thanh Xuân Hà Nội
Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) là một trong những cây bút lớn để lại nhiều tập thi văn và bộ Phương Đình dư địa chí cùng nhiều câu đối, văn bia nổi tiếng của nước ta ở thế kỷ XIX. Chỉ tính riêng về thơ, ông có bốn tập thơ lớn: Phương Đình vạn lý tập, Phương Đình anh ngôn tập, Phương Đình lưu lãm tập, Phương Đình mạn hứng tập. Riêng tập thứ tư này đã có 325 bài.
Ông người làng Lủ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, nay thuộc nội thành Hà Nội, cho nên nhiều cảnh vật, con người, phong tục, nhiều biến cố về lịch sử, thiên tai,... được phản ảnh trong thơ không chỉ riêng về Hà Nội mà còn ở mấy tỉnh xung quanh.
Trong Phương Đình văn loại, Bài ký Hồ Gươm, đoạn đầu ông viết: "Tôi lúc nhỏ đã nghe nói đến Hồ Gươm, nhưng chưa được đến chơi. Trước kia, người ta xây trại lính ở đây, trừ một lối phía trái bên hồ. Lúc ấy lối này quanh co, cỏ mọc rậm rạp, ít có người qua lại: nay lối đó đã thành đường đi hẳn hoi. Nay tôi thỉnh thoảng đến đây chơi, thấy dăm ba thuyền chải bơi trong sương mù. Trong hồ đầy các loại chim nước, kể đến hàng trăm con, kết bày bốn phía. Chim lúc tụ lúc tản ra, tựa như biết tránh người. Cũng có lúc tôi qua đây vào lúc hoàng hôn, nghe tiếng chuông đánh trên gác, dưới chân có sóng nhỏ của hồ hòa theo. Đi chưa đầy mươi bước, dần dần cảm thấy hơi lạnh thấm vào người. Cũng có ngày tôi thừa hứng mà qua đây, thuê riêng một chiếc thuyền con, bơi thuyền một lúc, bỏ thuyền lên núi trong hồ, thấy nhà gianh, cạnh có miếu lợp lá. Ngó bốn phía, thấy nửa phần là những trai thanh gái lịch, nhộn nhịp ra vào. Thế mà trong hồ, cảnh lại tĩnh mịch. Cảnh như vậy, chẳng phải là một kỳ quan vũ trụ đó sao? ... " (Trần Lê Sáng dịch Phương Đình văn loại Hà Nội - văn vật, Nxb. Văn học, H. 2001).
Thế mà chỉ ít năm sau, Hồ Hoàn Kiếm, Đền Ngọc Sơn đã trở thành một thắng cảnh qua bài thơ Ngọc Sơn Văn Xương miếu tiền trấn ba đình thành thị chư sinh (玉山文昌朝前鎮波亭成示諸生) ông viết trong Mạn hứng thi tập:
水色山光拱帝星
斯文砥柱鎮波亭
靈金未必為龍去
阿閣須知有鳳停
筆硯奇觀爭造化
鼓鐘神韻入青冥
無窮川詠雲飛意
樂與童冠學一經
Linh kim vị tất vi long khứ
A các tu tri hữu phượng đình,
Bút nghiễn kỳ quan tranh tạo hóa,
Cổ chung thần vận nhập thanh minh.
Vô cùng xuyên vịnh vân phi ý,
Lạc dữ đồng quan học nhất kinh).
Giải nghĩa:
Đầu đề bài thơ noid, tác giả đứng trước miếu Văn Xương ở đền Ngọc Sơn, xem các học trò hoàn thành việc trấn giữ sóng đình. Ánh sáng của núi, sắc mầu của nước vây quanh chầu vào ngôi sao nghiệp đế vương. Nền lễ nhạc được cốt đá trấn giữ ở nơi đình có sóng này. Cung điện anh linh chưa hẳn rồng đã bay đi. Đài các vững vàng, nên biết đã có phượng đậu (nguyên chú: đầu đình xây dựng hình con phượng). Nghiên bút kỳ lạ này như tranh chấp với sáng tạo của hóa công (nguyên chú: bờ phía đông của hồ, lối vào tháp có một cái nghiên, lối vào miếu có một đài bút). Tiếng trống tiếng chuông là âm vận thần diệu đi vào nơi thinh không sâu kín. Ý tưởng ấy như mây bay bơi trên mặt sông đến vô tận. Vui vẻ được cùng đứa trẻ đội mũ học một quyển kinh. Xin dịch thành thơ như sau:
Sắc nướcquang non quyện đế kinh,
Cung thiêng chưa hẳn rồng bay mất,
Các vững còn đây phượng giãi hình.
Nghiên bút kỳ quan đua tạo hóa,
Trống chuông linh diệu nhập vân trình.
Mây bay mặt nước sông vô tận,
Vui với trẻ nhà học quyển kinh.
Vào một ngày xuân năm Quí Hợi (1863), ông Chế đài Hoàng Trung Thừa, cùng ông Phiên viện Lê Bang Bá đến dự lễ kỷ niệm mười hai năm trùng tu danh thắng đền Ngọc Sơn ở hồ Hoàn Kiếm (癸亥春旦制臺黃中丞藩院黎邦伯為劍湖玉山會紀勝Quí Hợi xuân đán chế đài Hoàng Trung Thừa, phiên viện Lê Bang Bá vi Kiếm Hồ Ngọc Sơn hội kỷ thắng).
方壺蓬島也如何
春日湖山勝覽多
觀大人來環水郭
為吾民禱對陽和
解郊斥候無兵馬
不厭沿洄有酒歌
大地山河名棟宇
神光縹緲擁流波
(Phương hồ Bồng đảo dã như hà,
Xuân nhật hồ sơn thắng lãm đa.
Quan đại nhân lai hoàn thủy quách,
Vi ngô dân đảo đối dương hòa.
Giải giao xích hậu vô binh mã,
Bất yếm duyên hồi hữu tửu ca.
Đại địa sơn hà danh đống vũ,
Thần quang phiêu diếu ủng lưu ba).
Dịch nghĩa:
Mở đầu bài thơ, tác giả đã đặt câu hỏi: chẳng biết nơi Bồng Lai tiên ở có bình rượu vuông kia như thế nào? Còn ngày xuân ở đền Ngọc Sơn, hồ Hoàn Kiếm này thực là một thắng cảnh. Nhìn những bậc có danh vọng đến nơi có lớp thành nước bao quanh. Nơi cầu phúc của dân ta được sánh với cảnh dương khí hòa hợp. Biết được tình hình địch giải tỏa từ ngoài thành thì chẳng cần binh mã nữa. Mặc cho dòng nước xuôi ngược mà không chán nản, vì có bầu rượu lời ca. Non sông đất nước từng có những bậc danh tài làm rường cột. Tinh thần sáng suốt cao xa họp lại ở nơi sóng nước chẩy này.
Dịch thơ:
Bồng lai bầu rượu thú chăng là,
Hồ núi ngày xuân đẹp tựa hoa.
Danh vọng đại nhân vui thủy sắc,
Phúc cầu dân chúng thỏa dương hòa.
Mạnh hèn rõ thế nhàn binh mã,
Xuôi ngược mặc dòng sẵn tửu ca.
Đất nước nổi danh bao kiệt tướng,
Tinh thần tỏa rạng sóng bao la.
Rồi một ngày đầu mùa đông, tác giả đến thăm đền Ngọc Sơn, được mời xem hoa cúc, lại được nghe ca hát trong thuyền ngoạn cảnh hồ. (冬初玉山譜邀賞菊復於舟中玩湖景Đông sơ Ngọc Sơn phổ yêu thưởng cúc, phục ư ca chu trung ngoạn hồ cảnh).
人強為歡我亦歡
三邊賊勢尚漫漫
黃花開遍知秋老
青草先零感歲寒
獨坐前山歌無集
孤吟短艇水雲寬
不知劍氣今何若
風勢玲龍蘸日闌
(Nhân cường vi hoan ngã diệc hoan,
Tam biên tặc thế thượng man man.
Hoàng hoa khai biến tri thu lão,
Thanh thảo tiên linh cảm tuế hàn.
Độc tọa tiền sơn ca vô tập,
Cô ngâm đoản đĩnh thủy vân khoan.
Bất tri kiếm khí kim hà nhược,
Phong thế linh long trám nhật lan).
Đây là bài thơ đầy tâm trạng của tác giả trước tình hình hai đầu đất nước đều có giặc.
Giải nghĩa:
Người ta phải cố gắng mới tổ chức được cuộc vui, ta cũng vui.
Mấy miền biên cương thế giặc vẫn còn dàn trải.
Khi hoa cúc vàng nở khắp, biết đã cuối mùa thu rồi,
Cỏ xanh chớm khô héo thì cảm nhận đã đến mùa đông. Một mình ngồi trước núi hát nên không có sách vở gì,
Một mình ngâm nga trong chiếc thuyền nhỏ thong thả trên mặt nước mây.
Không biết thanh kiếm ngày xưa bây giờ ở nơi nào,
Theo thế gió, vật quí xuống nước ngày một láng đi theo sóng.
Dịch thơ:
Người dựng cuộc vui ta cũng vui,
Biên cương thế giặc vẫn chưa lui.
Cúc vàng nở rộ chừng thu cuối,
Cỏ biếc kô tàn đến lạnh rồi.
Trước núi hát nghêu bài chẳng định,
Trong thuyền ngâm vịnh nước mây trôi.
Chỗ xưa thanh kiếm chìm đâu thấy,
Vật quí lan xa sóng dập vùi.
Ông Bùi Huy Côn còn có tên là Bùi Huy Chương, người phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Ông thi hương khoa Quí Mão, Thiệu Trị thứ 3 (1843) tại trường Hà Nội. Tại đền Ngọc Sơn hồ Hoàn Kiếm, tác giả đã tiễn ông vào kinh nhận trách nhiệm được triều đình giao phó (於劍湖玉山送翰林裴子輝琨之京Ư kiếm Hồ Ngọc Sơn tống Hàn lâm Bùi Tử Huy Côn chi kinh).
久受君家行義風
後生末契更誰同
玉山豈得終藏豹
翰苑欣看正漸鴻
遇嶺浮雲連海白
懷人收水一湖空
宦遊若問方亭者
為道衰頹一老翁
(Cửu thụ quân gia hành nghĩa phong,
Hậu sinh mạt khế cánh thùy hồng.
Ngọc Sơn khởi đắc chung tàng báo,
Hàn uyển hân khan chính tiệm hồng.
Quá lĩnh phù vân liên hải bạch,
Hoài nhân thu thủy nhất hồ không.
Hoạn du nhược vấn Phương Đình giả,
Vi đạo suy đồi nhất lão ông).
Giải nghĩa:
Từ lâu gia đình ông giữ được phong thái làm việc nghĩa
Người sinh sau, ý chí hợp với mình có mấy ai.
Ngọc Sơn há phải nơi cuối cùng để nhất con báo,
Chốn rừng bút vui mừng được thấy rõ gần chim hồng.
Mây bay qua núi nối liền với màu trắng của biển,
Mặt nước hồ thu gợi nhớ làm thành một không gian với mặt hồ.
Việc đi làm quan, nếu có hỏi đến Phương Đình này,
Thì chỉ là một ông lão làm suy đồi đạo lý mà thôi.
Dịch thơ:
Nề nếp gia môn giữ nghĩa phong,
Hậu sinh ý hợp mấy qi đồng.
Ngọc Sơn há phải nơi tàng báo,
Rừng bút vui nhìn chốn chính hồng.
Mây nổi qua non liền biển trắng,
Nước thu nhớ bạn nối hồ trông.
Làm quan nếu hỏi Phương Đình ý.
Sợ đạo suy đồi tại lão ông.
Một buổi sáng, tác giả cùng bạn đồng nghiệp đi chơi thuyền ở Hồ Tây (同人泛舟遊西湖Đồng nhân phiếm chu du Tây Hồ).
清晨一騎到西湖
立待匾舟迫岸呼
雲影天光渾往昔
金樽檀夜共斯須
已無得句酬佳景
何可楊清作濁夫
浪得空中高眼望
重城旗影拂雲膚
(Thanh thần nhất kỵ đáo Tây Hồ,
Lập đãi biên chu bách ngạn hô.
Vân ảnh thiên quang hồn vãng tích,
Kim tôn đàn dạ cộng tư tu.
Dĩ vô đắc cú thù giai cảnh,
Hà khả dương thanh tác trọc phu.
Lãng đắc không trung cao nhãn vọng,
Trùng thành kỳ ảnh phất vân phu).
Giải nghĩa:
Buổi sáng trong lành cưỡi ngựa đến Hồ Tây.
Đứng đợi gọi một chiếc thuyền con đang đè sóng đến bờ.
Trời quang bóng mây lẫn vào nước đục đi qua đêm,
Hương bạch đàn trong đêm và chén vàng hòa cúng lúc ấy.
Đã không có được câu thơ đáp lại cùng cảnh đẹp.
Làm sao bật lên sự trong sạch, khỏi thành kẻ đàn ông vô dụng.
Con sống được không gian làm cao tầm nhìn của mắt,
Bóng cờ bay trên lớp thành trì chẳng phải lớp áo ngoài của mây đâu.
Dịch thơ:
Ban mai cưỡi ngựa đến Tây Hồ,
Chờ chiếc thuyền con vượt sóng xô.
Mặt nước in mây còn đục bến,
Hương đàn quyện chén vẫn trong mơ.
Đã không thi họa chung hồn đẹp,
Sao có thanh danh, tựa kẻ nhu.
Làn sóng ngoài khơi tầm viễn vọng,
Bóng cờ lớp át mây mù.
Rồi lại một ngày, tác giả đi theo hai viện chế Đài cùng Phiên Niết (hai viện của cơ quan Tổng đốc và Án sát) lên góc phía tây trong thành xem núi và Tân Đình mà suy xét, viết bài thơ (陪制臺並藩臬二院登城中西隅春山新亭宴作Bồi chế đài tịnh Phiên Niết nhị viện đăng thành trung tây ngung khán sơn Tân Đình án tác).
孤山卓出古城西
看盡關河四面低
龍肚千年餘氣色
新亭一簇自雲霓
四郊會見風塵靜
重九無為戰伐凄
此日登臨容易得
千秋韻事即堪題
(Cô sơn trác xuất cô thành tê (tây)
Khán tận qu an hà tứ diện đê.
Long Đỗ thiên nhiên dư khí sắc,
Tân Đình nhất thốc tự vân nghê.
Tứ giao hội kiến phong trần tĩnh,
Trùng cửu vô vi chiến phạt thế.
Thử nhật đăng lâm dung dị đắc,
Thiên thu vận sự tức kham đề).
Giải nghĩa:
Một ngọn núi cao hiện lên ở phía tây thành cổ,
Nhìn suốt về nơi cửa ải và sông, bốn mặt đều thấp.
Nơi thờ thần Long Đỗ nghìn năm còn đầy khí sắc,
Một quần thể Tân Đình nổi lên trên nền mây mống.
Bốn phía ngoại thành gặp nhau thành nơi yên ổn ở vùng gió bụi,
Nơi chín bậc bệ rồng có giáo hóa, không cần đánh dẹp mà yên.
Đến ngày ấy lên cao mà nhìn xuống quả dễ dàng làm được,
Ngàn năm việc vận dụng vẫn làm thơ ắt được liền.
Dịch thơ:
Núi cao chót vót phía tây thành,
Bốn mặt quan hà đẹp tựa tranh.
Long Đỗ nghìn năm đầy khí sắc,
Tâm Đình một khoảnh rộng cao thanh.
Cửa tùng giáo hóa thay đao kiếm,
Tứ trấn giao hòa đẹp nghĩa tình.
Ngày ấy lên cao vui đắc ý,
Nghìn thu dùng vận bút đề nhanh.
Ông Nguyễn Văn Lý (1795-1838) có tên hiệu là Chí Đình, người phường Đông Tác huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Ông thi Hương khoa Ất Dậu, Minh Mạng thứ 6 (1825), tại trường Thăng Long, đậu Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn, Minh Mạng thứ 13 (1832), năm 38 tuổi. Làm Hàn Lâm Biên tu, thuyên bổ Tri phủ Thuận An, thăng Án sát Phú Yên.
Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, một hôm cùng ông Nguyễn Chí Đình lên đài phía đông La Thành quan sát nước to trên sông, có lòng hoài cảm, bèn dựa theo nguyên văn bài thơ của Chí Đình mà viết bài thơ tám câu Đường luật (同阮志 亭登羅城東門臺觀河漲有感依志亭原韻 - Đồng Nguyễn Chí Đình đăng La Thanh đông môn đài quan hà trướng hữu cảm y Chí Đình nguyên vận).
羅城不與顧城同
擬賦宣房匏子宮
山勢獼天來直北
河流自古半歸東
登臨携手存三益
水潦傷心豈四窮
天源還與水源通
La Thành bất dữ cố thành đồng,
Nghĩ phú tuyên phòng bào tử cung.
Sơn thế di thiên lai trực bắc,
Hà lưu tự cổ bám qui đông.
Đăng lâm huề thủ tồn tam ích,
Thủy lạo thương tâm khởi tứ cùng.
Dục ẩm doanh hư tiêu tức xứ,
Thiên nguyên hoàn dữ thủy nguyên thông.
Giải nghĩa:
La Thành bây giờ chẳng giống như La Thành ngày xưa,
Đắn đo làm bài phú như ngôi nhà chia từng phòng trong quả bầu.
Thế núi đầy trời từ phía bắc thẳng đến,
Dòng sông chẩy từ xưa, một nửa xuôi về phía đông.
Lên cao nhìn xuống như tay ôm được ba điều ích (sách Luận ngữ có câu: Ích giả tam hữu: hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn". Ích lợi là có được ba người bạn với ba đức tính: thẳng thắn, tin cậy, biết nghe).
Thương tâm cảnh nước lớn mở đầu cho bốn lẽ khốn cùng (tứ cùng: đói, rét, không nhà ở, ốm đau).
Muốn uống hết cả sự đầy vơi như ở nơi lúc tiêu đi lúc nở ra. Ngọn nguồn của trời trở về thông với ngọn nguồn của nước.
Dịch thơ:
La Thành chẳng giống lúc ban đầu,
Bài phú nghĩ suy giống quả bầu.
Thẳng bắc đầy vơi toàn thế núi,
Về đông tự cổ nửa dòng sâu.
Lên cao tay nắm ba điều ích,
Nhìn lụt lòng đau bốn nỗi sầu.
Mong sự đầy vơi tiêu tan hết,
Chân trời nguồn nước sáng tươi mầu.
Năm Giáp Dần (1854), các lộ giặc dã nổi lên, Hà Nội bị hại rất nhiều. Năm nay bị lụt lớn ở các tỉnh, ngưỡng mong bề trên có phương cách nào trừ được nạn sâu keo. Từ mùa đông đến nay sâu bệnh hai lần, lúa mùa hè thất bát đã khó trông mong mà các tỉnh cũng nhất loạt thóc cao gạo kém. Nhân nghĩ việc không may, chưa có phương kế nào tiêu trừ được vận hạn, buồn bực (tác giả) làm bài thơ này (甲寅諸路匪起河內受害最甚今 年大水亦甚於鄰省仰蒙恩軫出格蠲赦奈自冬來薔兩來年夏禾已難有望而諸省米粒亦一律勝貴因念不幸有方何此厄運未消慨然有作 -Giáp Dần chư lộ phỉ khởi, Hà Nội thụ hại tối thậm. Kim niên đại thủy diệc thậm ư lân tỉnh. Ngưỡng mông ân chẩn xuất cách quyên xá nại. Tự động lai tường lưỡng lai niên hạ hòa dĩ nan hữu vọng nhị chư tỉnh mễ lạp diệc nhất luật thắng quí. Nhân niệm bất hạnh hữu phương hà thử ách vận vị tiêu khái nhiên hữu tác).
兵前水後歲相交
地是秦中舊樂郊
潦盡却逢冬不雨
饑來還恐盜如毛
不知何處堪移粟
曾見齊民已賣刀
天地豈無傾否日
詔書頻下使君勞
(Binh tiền thủy hậu tuế tương giao,
Địa thị Tần Trung cựu lạc giao.
Lạo tận khước phùng đông bất vũ,
Cơ lai hoàn khủng đạo như mao.
Bất tri hà xứ kham di túc,
Tằng kiếm tề dân dĩ mại đao.
Thiên địa khởi vô khuynh phủ nhật,
Chiếu thư tần hạ sứ quân lao).
Giải nghĩa:
Trước thì loạn lạc sau thì nước lũ, quanh năm kế tiếp nhau, đất này giống như ở Tần Trung xưa yên vui có đàn tế trời (Trần Trung là địa danh, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Bạch Cư Di đời Đường có bài thơ đề là Tần Trung ngâm).
Hết lụt lội lại gặp suốt mùa đông không có mưa,
Nạn đói đến, trộm cướp khủng khiếp trở lại khắp nơi.
Không biết có nơi nào chịu được nạn thóc cao gạo kém,
Từng thấy người dân nghèo đã phải bán cả liềm hái.
Trời đất há chẳng có ngày không nghiêng ngả,
Chiếu thu luôn gửi xuống khiến nhà vua phải vất vả.
Dịch thơ:
Nước ngập, binh đao mãi chẳng cùng,
Đất này nghi lễ giống Tần Trung.
Lụt vừa qua khỏi, đông càng hạn,
Đói đến liền ngay, trộm vẫy vùng.
Thóc gạo hiếm khan đâu chịu được,
Hái liềm cầm bán cảnh lao lung.
Đất trời nghiêng ngả khôn lường trước,
Vất vả nhà vua chẳng ngại ngùng.
Hãy điểm đến một bài thơ khác, khi tác giả đi đường qua Bắc Ninh, Hải Dương, thấy sự việc xúc cảm làm bài thơ thể ngũ ngôn cổmười sáu vần (路過北寧海陽即事有感五古十六韻 Lộ quá Bắc Ninh, Hải Dương tức sự hữu cảm ngũ cổ thập lục vân).
哀哉北圻民
及茲戊午春
東西亙轉徙
饑殍無涯津
傾倉散斗芍
待哺彌日旬
米粒爭到手
僵仆死填珍
皇恩蓋無極
天運更誰因
河定二年水
饑饉宜薦臻
東北只一早
胡為各酸辛
不有凶荒苦
安如極濟仁
衛農思遠計
行水責堤臣
疏鑿兼修築
嗣日又併辰
公家出有限
私家費無坻
天德功尤重
北寧民轉貧
帝本難其事
天亦哀有人
若能東殺水
敢擬壑於鄰
回看推移勢
一步一逡巡
(Ai tai Bắc Kỳ dân,
Cập tư Mậu Ngọ xuân.
Đông tây cắng chuyển tỉ,
Cơ biễu vô nhai tân.
Khuynh thương tản đẩu thược,
Đãi bô di nhật tuần.
Mễ lạp tranh đáo thủ,
Cương phó tứ điền chấn.
Hoàng ân cái vô cực,
Thiên vận cánh thùy nhân.
Hà, Định nhị niên thủy,
Cơ cận nghi tiến trăn.
Đông bắc chỉ nhất tảo,
Hồ vi các toan tân.
Bất hữu hung hoang khổ,
An tri cực tế nhân.
Vệ nông tư viễn kế,
Hành thủy trách đê thần.
Sơ tạc kiêm tu trúc,
Tự nhật hựu tính thì.
Công gia xuất hữu hạn,
Tư gia phí vô để.
Thiên đức công vưu trọng,
Bắc Ninh dân chuyển bần.
Đế bản nan kỳ sự,
Thiên diệc ai hữu nhân.
Nhược năng đông sát thủy,
Cẩm nghĩ hác ư lân.
Hồi khán suy di thế,
Nhất bộ nhất thoan tuần).
Giải nghĩa:
Thương cảm thay dân Bắc kỳ!
Gặp xuân Mậu Ngọ (1858) này.
Khắp nơi đều chuyển dời,
Người chết đói không biết đâu bờ bến.
Dốc kho thóc tính từng thung đấu,
Dân đợi bố thí ngày càng nhiều.
Gạo tấm tranh tay nhau đón,
Người chết cứng đờ, có vật quí nào lấp đầy được.
Ân đức nhà vua che chở không cùng,
Vận trời ư, càng hỏi vì sao?
Hà Nội, Nam Định hai năm liền nước lớn,
Dân đói kém cần đến manh chiếu.
Miền Đông Bắc chỉ một lần tai hạn,
Làm sao các nơi đều chua cay.
Không có mất mùa khổ sở,
Làm sao biết được đức nhân cứu giúp.
Muốn bảo vệ nhà nông phải nghĩ kế xa.
Phòng bão lụt là trách nhiệm của bề tôi trông giữ đê.
Khi mới đắp đê đã phải nghĩ ngay tời việc tu sửa.
Ngày mới ngày lại để thì giờ đua tranh chống cự nhau.
Của công xuất ra thì có hạn,
Của riêng hao tốn, không lấy đâu mà dốc ra.
Ân đức của trời, công lao càng nặng,
Dân tỉnh Bắc Ninh trở thành nghèo.
Cái gốc của nhà vua là khó lường được việc xẩy đến,
Trời cũng thương cảm cho con người.
Nếu diệt được nạn nước lụt từ phía đông
Thì dám sẵn sàng làm hồ chứa ngay bên cạnh.
Ngoảnh nhìn lại, suy ra thấy cái thế có thể làm được,
Nhưng rồi, một bước một dùng dằng vì trong lòng còn thắc mắc.
Dịch thơ:
Thương thay dân Bắc Kỳ,
Gặp xuân này Mậu Ngọ.
Khắp nơi muốn chuyển đi,
Chết đói không bờ bến.
Thưng đấu tính chi ly,
Dân ngồi chờ bố thí.
Gạo tấm đua tay xin,
Của nào hơn người chết.
Ân đức chẳng đủ vin,
Vận trời ư, hãy hỏi.
Hà, Định lụt liên miên,
Dân đói cần manh chiếu.
Đông Bắc họa khắp miền,
Chua cay tràn khắp chốn.
Ví không lại mất mùa,
Thấy sao ơn cung đốn.
Vệ nông cần kế xa,
Bề tôi người trách nhiệm.
Cách phòng bị đề ra.
Ngày nối ngày tranh chấp.
Của công có hạn mà,
Của riêng ai người dốc.
Công lao ơn của trời,
Bắc Ninh dân túng thiếu.
Nhà vua thật khó lường,
Trời cao cũng thương cảm.
Trừ lụt muốn tìm phương,
Làm hồ phòng bất trắc.
Nghĩ xong ngoảnh lại nhìn,
Bước đi, lòng thắc mắc.
Mới chỉ điểm đến chưa đầy một chục bài trong hàng nghìn bài thơ của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu trong bốn thi tập nói trên mà tình và cảnh người Hà Nội giữa thế kỷ XIX đã thể hiện một cách đậm đà sắc thái của Thăng Long nơi kinh đô cũ. Tính hiện thực qua ngòi bút nhà thơ Phương Đình làm cho người đọc ngày nay cảm nhận thật rõ ràng sâu sắc một xã hội Việt Nam mà tiêu biểu ở nơi kinh đô cũ đầy biến động: loạn lạc, lụt lội, đói rét, bệnh tật, ... là những tai họa thường niên làm nền cho một xu hướng chính trị bế tắc. Đó là một trong những nguyên nhân để thù trong giặc ngoài hoành hành áp chế vua tôi nhà Nguyễn ngày càng bất lực dẫn xã hội Việt Nam đến họa xâm lăng khó phương khắc phục.
Nhân chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, chúng tôi trích dịch thi phẩm một danh nhân nổi tiếng của Hà Nội để góp phần nhỏ bé làm sáng rõ thêm truyền thống văn hóa tiêu biểu văn vật nghìn năm của đất nước ta./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.149-168