16. Bia chợ Bến (Bàn Khê) Hòa Bình (TBHNH 1996)
BIA CHỢ BẾN (BÀN KHÊ) HÒA BÌNH
Phạm Đức Huân
Cục Bảo tồn Bảo tàng
Đầu tháng 7 năm 1996, nhân một chuyến đi khảo sát đền Trung Bảo, xã Cao Đường, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, tôi được đồng chí Nguyễn Minh Nghĩa người dân tộc Mường, Bí thư Đảng bộ xã Cao Đường, dẫn cho xem một tấm bia 4 mặt, nằm dài trong bụi cỏ. Bia cao 142 cm, rộng 60cm. Chóp bia cao 32cm (không kể phần núm, vì núm bị gẫy mất) đế bia bị văng đi chưa tìm thấy. Văn bia viết bằng chữ Hán, Mặt bia thứ nhất gồm 5 chữ đề bia “Bàn Khê thị bi ký” Bài ký bia chợ Bàn Khê (tức chợ Bến) cùng 257 chữ Hán. Mặt thứ 2: 153 chữ. Mặt thứ 3: 68 chữ. Mặt thứ 4 không có chữ. Có xen một số chữ Nôm ghi địa danh. Phần chóp bia phía mặt 1, khắc rồng cách điệu chầu mặt trời, riềm bia khắc hoa lá cách điệu. Bề mặt bia có nhiều sứt mẻ do bom, do con người quăng quật. Nhưng may mắn văn bia chỉ mất 1 chữ. Năm 1948 giặc Pháp ném bom chợ Bến, đình chợ bị cháy trụi, bia bị vùi lấp; gần đây nhân san đất mở rộng chợ người ta đã phát hiện ra tấm bia này.
Văn bia ca ngợi vẻ đẹp của núi rừng khe suối và chợ. Giữa chợ có đình quy mô to đẹp. từ đỉnh có thể nhìn ngắm vẻ đẹp của Cống Khê và người đến thưởng ngoạn cảnh đẹp nơi này. Người và núi rừng gặp nhau như có ước hẹn. Cuộc vui chơi bè bạn ở chốn ơn lâm ai nỡ phụ. Văn bia nói đến một vài khoán ước như chọn nam nữ xứng đáng cho vào đội ca múa. Thuế chợ hàng năm dùng để mua sắm lễ vật cúng thần. Khi đình cần tu sửa thì 3 giáp cùng góp công của. Văn bia còn ghi rõ thứ vị trước sau của các bản trong xã. Tất cả đã thể hiện ước mong xây dựng một vùng quê có tập tục tốt đẹp, trật tự, yêu quý con người, yêu quý thiên nhiên.
Phó bảng Dương Công Bình soạn văn bia đã ghi lại cho chúng ta, cho đời sau cảnh đẹp núi rừng, hình ảnh chợ Bến nằm giữa vùng thiên nhiên tươi đẹp, dân cư thuần hậu, giữa chợ có đình.
Với người Mường thì đây là một bia duy nhất do những người Mường Động chủ trương tạo dựng. Với tỉnh Hòa bình thì bia này là một trong số 9 bia đã biết. Từ bia này có thể thấy đôi nét sinh hoạt văn hóa của vùng xuôi đã bén vào đời sống của các dân tộc ở vùng chợ Bến Hòa Bình từ rất sớm. Vì thế có thể nói Bia “Bàn Khê thị bi ký” là một bia quý hiếm. Nguyên văn phần phiên âm tấm bia này như sau:
(Mặt 1)
BÀN KHÊ THỊ BI KÝ
Cao Đăng Bàn Khê thị sơn lâm chi nhất thắng tích dã. Cổ hiệu Cao Đường, nguyên lệ Quốc Oai Mỹ Lương, kim thuộc Chương Đức, kỳ tục hiệu Chợ Bến. Kỳ địa đa sơn khê thạch giản chi sở bàn nhiễu, nhân lã danh yên. Long Lĩnh sơn dương kỳ tiền, Các Quan sơn liệt kỳ tả, Xã nhân hương thân Nguyễn Văn Bản, Nguyễn Văn Tỵ, tịnh Trần Đăng Lộc, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Đình Suất, Đặng Quốc Thao, Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Lịch, lý trưởng Nguyễn Văn Thông, hương trưởng Trần Văn Kiều, đồng xã đẳng vu thử vi thị yên. Thị trung hữu đình, quy chế hoằng xưởng, bằng thử tứ vọng khả dĩ tận đắc giang sơn chi mĩ, bằng thử tứ vọng khả dĩ tận đắc giang sơn chi mĩ. Mỗ thời thiết trướng vu Chương Đức Cống Khê, nhất nhị đồng quan vãng lại phủ thắng, huống trù tích chi mộng, quá sơn đáo hải, phi thị ngẫu nhiên diệc tri. Phù! Sơn lâm bằng hữu chi lạc, tạo hóa cái manh bất khinh dư nhân giả hĩ. Nhân thư sổ ngữ lã vô phụ thử sơn chi tao. Chí như tư thị chi lợi trạch cập nhân thị nhân truyền phi bi năng tất ký dã.
(Mặt 2)
Tây Bình tử nhị bộ giản thủ tam giáp nam nữ xứng giả sung chi.
Nhất điều: Đệ niên thị thuế, quân vi xuân thu nhị kỳ, mỗi kỳ nhị thập quán. Viên chức hội tại đình thu thủ sung biện sự @(1) thần lễ phẩm.
Nhất điều: bản xã thị sở hữu nội cung ngoại đình, lưỡng lang lưỡng các các tòa, như hữu tu bổ, tam giáp đồng thụ.
Nhất điều thứ vị tiên hậu: Tiên Hội - Chu Để - Phú La - Cao Đường - Thị Hiền - Phương Viên - Phượng Sô - Vệ - An - Trung Báo - Quy Củ - Thái Hòa - Nghĩa Kết - Văn Kệ - An Mỹ - Đồng Thành - Thủy Hợp - Ấm Trì - Đồng Đăng - Quyền Thị - Bồng Lai - Quý Thịnh.
Nhất các điều thủy chi dĩ lễ nhượng, chung chi dĩ kính ái, ngã hương thế thế tôn thủ chi vu dĩ thành lương thiện chi phong, vu dĩ đệ hòa bình chi phúc. Thị ký.
(Mặt 3)
Phong thủy sư Nguyễn Tất Đạt quán Thanh Oai Bảo Đà.
Hoàng Triều Thiệu Trị vạn vạn niên chi ngũ.
Mậu Tuất khoa Phó bảng Hoài Đức phủ, Từ Liêm La Nội Dư Hành Dương Công Bình ký.
Nhị Khoa Tu tài Hoài An huyện Hòa Xá xã Hương Sơn Chương Khanh Nghiêm thị thư.
Thạch công An Sơn huyện Long Châu xã Nguyễn Đình Lệ cung thuyên.
DỊCH NGHĨA:
(Mặt 1)
BÀI KÝ TRÊN BIA CHỢ BÀN KHÊ
Chợ Bàn Khê Cao Đăng là một thắng tích ở chốn sơn lâm. Xưa gọi là Cao Đường, nguyên thuộc Mỹ Lương, Quốc Oai, nay thuộc huyện Chương Đức, tục gọi là Chợ Bến. Đất ấy nhiều núi khe đá suối vây quanh, cho nên mới có tên gọi như vậy. Phía trước mặt có núi Long Lĩnh chặn lại, bên trái có núi Các Quan trải ra. Vì vậy, các chức sắc trong xã là Nguyễn Văn Bản, Nguyễn Văn Ty, Trần Đăng Lộc, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Đình Suất, Đặng Quốc Thao, Nguyễn Văn Nghiêm, Nguyễn Văn Lịch, lý trưởng Nguyễn Văn Thông, hương trưởng(2) Trần Văn Kiều cùng các bậc trong xã lập chợ ở đây. Giữa chợ có đình, quy mô rộng rãi. Từ đây, nhìn ra bốn phía, có thể thấy hết được vẻ đẹp của sông núi.
Ta thỉnh thoảng dựng lều ở Cống Khê Chương Đức cùng một vài người trẻ tuổi lại qua vui chơi ngắm cảnh. Lẽ nào giấc mộng qua non đến bể của người trước lại là chuyện ngẫu nhiên mà được biết. Ôi! cuộc vui bè bạn ở chốn sơn lâm mà tạo hóa đã giành cho, ta không thể xem nhẹ. Nhân viết mấy lời để không phụ sự tao ngộ chốn núi rừng. Còn nguồn lợi của chợ này cùng với sự lưu truyền của người ở chợ, thì phải có bia mới có thể ghi lại đầy đủ được.
(Mặt 2)
Hai bên nam nữ đội múa ca, chọn các nam nữ xứng đáng ở ba giáp để bổ sung.
Điều 1 - Thuế chợ hàng năm chia đều cho 2 kỳ xuân thu, mỗi kỳ 20 quan. Quan viên họp tại đình thu nhận để sung vào việc mua lễ phẩm cúng tôn thần.
Điều 2 - Đình chợ bản xã có các tòa: nội cung, ngoại đình, hai bên hành lang, hai gác. Các tòa ấy nếu có phải trùng tu, thì bổ đều cho ba giáp cùng chịu.
Điều 3 - Thứ vị trước sau: Tiên Hội - Chư Để- Phú La - Cao Đường - Thị Hiền - Phương Viên - Phượng Sô - Vệ An - Trung Báo - Quy Củ - Thái Hòa - Nghĩa Kết - Văn Thiên - An Mỹ - Đồng Thành - Thủy Hợp - Ấm Trì - Đồng Đăng - Quyền Thị - Bồng Lai - Quý Thịnh.
Điều 4 - Tất cả các điều trên, đầu tiên thì là lễ nhượng, sau thì tỏ lòng tôn kính. Hương ta đời đời giữ lấy để trở thành phong tục lương thiện, để rồi sau được hưởng phúc hòa bình. Vậy nay làm bài ký.
(Mặt 3)
Thầy địa lý Nguyễn Tất Đạt quê Bảo Đà, Thanh Oai.
Niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 5 (1845)
Phó bảng khoa Mậu Tuất là Dương Công Bình, hiệu Dư Hành người làng La Nội, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức soạn bài ký văn bia.
Tú tài hai khoa là Nghiêm Chương Khanh, hiệu Hương Sơn người làng Hòa Xá, huyện Hoài An viết chữ.
Thợ đá Nguyễn Đình Lệ, người xã Long Châu, huyện An Sơn kính cẩn khắc.
Chú thích:
1. Chữ bị mất này, chúng tôi phỏng đoán có thể là chữ “tôn” (@) chăng?
2. Hương trưởng, ở vùng cư trú của người Mường có nghĩa như Trưởng bản, có khi quản một bản, có khi quản 2, 3 bản, tùy theo số dân mỗi bản nhiều hay ít.
Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.155-160)