VI | EN
29 . Thể thức biên soạn một niên biểu lịch sử (TBHNH 1998)
TBHNH 1998

THỂ THỨC BIÊN SOẠN MỘT NIÊN BIỂU LỊCH SỬ

LÊ THÀNH LÂN

Viện Công nghệ Thông tin

Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 năm 1986, chúng tôi có viết bài Vài ý kiến về việc biên soạn niên biểu Việt Nam để nêu những nhận xét ban đầu của chúng tôi về các niên biểu lịch sử Việt Nam hiện có và sơ bộ đề xuất một vài ý kiến. Sau đó chúng tôi đã triển khai khảo cứu và xây dựng niên biểu cho mọt vài triều đại như Niên biểu nhà Mạc (Tạp chí Hán – Nôm, số 1 năm 1997) và Niên biểu nhà Nguyễn (trong sách Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, năm 1998). Nay, chúng tôi thấy cần phải hoàn tất một niên biểu lịch sử Việt Nam cũng như một niên biểu lịch sử Trung Quốc trong sự đối chiếu với nhau. Niên biểu Trung Quốc được xây dựng, với mục đích để nghiên cứu lịch sử Việt Nam, nên chúng tôi chỉ xây dựng niên biểu cho chính triều và một vài triều đồng thời mà có liên quan nhiều đến lịch sử Việt Nam, bởi nếu xây dựng chỉ riêng một niên biểu Trung Quốc cho đầy đủ phải thành một cuốn sách rất dầy. Chúng tôi xin đề xuất một thể thức chung dùng để biên soạn 2 niên biểu này sao cho được nhất quán, chính xác, gọn gàng, dễ tra cứu, nhiều thông tin để xin ý kiến các quý vị.

1. Trong mỗi nước, có lúc có nhiều lực lượng chính trị, nhiều chính quyền (triều đại) chống đối nhau, cùng tồn tại trong một thời gian dài. Người làm niên biểu phải xác định một triều đại là chính, các triều đại khác là phụ. Có hai cách nhìn: một là xem cặp từ chính – phụ theo nghĩa chính và nguy (đôi khi được gọi là nhuận). Cách thứ hai là xem chính triều là triều nắm phần quan trọng về kinh tế, văn hóa, quản lý nhiều đất đai của đất nước, hoặc lấy thời điểm họ chiếm được thủ đô làm thời điểm chuyển từ một triều đaij phụ (mà chúng tôi gọi là triều đại đồng thời) thành một triều đại chính. Chúng tôi đã lựa chọn cách thứ hai này. Làm như thế cũng không phải là dễ, có thể, có chỗ tất phải có sự châm chước.

Đối với niên biểu Trung Quốc: thời Tam Quốc, chúng tôi chọn là Nguy là chính triều, nhà Thục và nhà Ngô là các triều đồng thời: Chúng tôi coi rằng khi Thanh Thuận Trị vào Bắc Kinh vào tháng 10 năm Giáp Thân (1644), thì triều Thanh trở thành chính triều và triều Minh trở thành triều đồng thời. Thực ra một nhà Minh được gọi là chính triều đã mất cùng với vua Sùng Trinh từ tháng 3 năm Giáp Thân. Còn nhà Nam Minh được coi là triều đồng thời với nhà Thanh thì bắt đầu từ 11 tháng 5 năm Giáp Thân. Cũng có những cuốn niên biểu do người Trung Quốc soạn làm như chúng tôi, cũng có cuốn lại coi triều Minh là chính triều cho đến khi nhà Nam Minh cáo chung và năm 1664.

Đối với niên biểu Việt Nam thì vấn đề nhà Mạc là nổi cộm nhất. Thường thì các nhà làm niên biểu chỉ viết niên biểu cho nhà Mạc từ 1527 đến 1533, còn những năm sau, từ 1534 đến 1677 được ghi là thế phả như họ Nguyễn và họ Trịnh. Có lẽ như vậy không thật chỉnh, bởi thật sự nhà Mạc là một vương triều và có đặt niên hiệu ít nhất cũng phải xây dựng thành một niên biểu mà xem là chính hay là phụ. Với cách đặt vấn đề như đã nêu ở trên, chúng tôi coi nhà Mạc là chính triều từ năm 1527 cho đến năm 1593, khi họ để mất kinh đô Thăng Long và lên cát cứ ở Cao Bằng. Nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc (1778 – 1793) được xem là triều đồng thời; nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ (1788-1801) được xem là chính triều. Nhà Nguyễn, kể từ khi ký hiệp ước Giáp Thân (1884 – Patenotre), thừa nhận sự bảo hộ của Pháp: thì vai trò của họ trở nên thứ yếu, chúng tôi sắp xếp vào phần “triều đồng thời”; phần “chính triều” dành cho “thời thực dân nửa phong kiến”, mà nội dung chủ yếu là nêu các cuộc khởi nghĩa, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng. Tuy nhiên nếu cứ cứng nhắc lấy mốc thời gian là năm 1884, thì các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của đồng bào Lục tỉnh trước đó không được liệt kê ra.

2. Cần xây dựng một hệ thống các niên hiệu chính liên tục, nối tiếp nhau, không để một ngày nào không thuộc một niên hiệu với một niên thứ xác định. Điều này đòi hỏi:

- Chúng tôi cố gắng hết mức để có thể ghi được cả ngày cải nguyên. Điều này chỉ làm được tương đối đầy đủ đối với niên biểu Việt Nam. Đối với niên biểu Trung Quốc, nhiều chỗ, chúng tôi chỉ ghi được tháng cải nguyên, vì chúng tôi chỉ có các niên biểu mà người Trung Quốc xây dựng chính xác tới mức đó, không có điều kiện để khảo cứu qua các bộ sử đồ sộ của họ.

- Chúng tôi cũng ghi rõ ngày lên ngôi của các vị vua chúa.

Thường thì khi lên ngôi, các vị vua không cải nguyên ngay mà còn dùng tiếp niên hiệu của vua cha (hay nhà vua trước mình). Trong trường hợp đó một niên hiệu ứng với 2 hoặc nhiều vị vua, chẳng hạn năm Tự Đức thứ 36 là năm Quý Mùi (1833) trải 4 đời vua, lần lượt: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc. Có làm chi tiết như thế ra mới thấy rõ trong lịch sử không tồn tại 2 niên hiệu Dục Đức và Hiệp Hòa; 2 danh từ đó chỉ có thể xem là tên của 2 vị vua Nguyễn Phúc Ưng Chân và Nguyễn Phúc Thăng. Chỗ này, trước đây, nhiều nhà làm niên biểu thường nhầm lẫn. Có trường hợp khá phức tạp như năm Ất Dậu (1885): đầu năm là năm Hàm Nghi. Ngày 23 tháng 5, Phúc Minh (vua Hàm Nghi) mới lên ngôi, nhưng vẫn dùng niên hiệu Hàm Nghi, định năm sau là năm Bính Tuất (1886) mới là năm Đồng Khánh thứ nhất. Trong khi đó vua Hàm Nghi ở trên chiến khu vẫn còn ban ra các chiếu chỉ. Để phân biệt chiếu chỉ của mình, ngày 1 tháng 10, Phúc Biện dùng niên hiệu Đồng Khánh Ất Dậu, mà vẫn giữ quyết định trước đây là lấy năm sau là năm Bính Tuất làm năm Đồng Khánh nguyên niên.

Ta còn thấy có những năm mang nhiều niên hiệu, chẳng hạn ở Trung Quốc nhà Đông Hán, vào năm Kỉ Tị (0189) trải 3 vua với 4 niên hiệu: đầu năm là năm Trung Bình thứ 6 của vua Hiếu Linh Đế; từ 13 tháng 4 năm Quang Hi, rồi từ tháng 8 là năm Chiêu Ninh của Thiếu Đế; cuối cùng là Hiếu Hiến Đế từ tháng 9 là năm Vĩnh Hán, từ tháng Chạp gọi trở lại niên hiệu Trung Bình Lục niên như ở đầu năm. Nhà Tây Tấn, vào năm Giáp Tí (0304), lúc đầu là năm Vĩnh An, tháng 7 cải thành năm Kiến Vũ, tháng Một (11) lại gọi trở lại là năm Vĩnh An.

Có những vị vua không đặt niên hiệu riêng cho mình mà dùng luôn niên hiệu của vua cha cho đến hết thời của mình, hoặc sau vài năm mới cải nguyên, như ở Việt Nam, Đinh Phế Đế dùng niên hiệu Thái bình của Đinh Tiên Hoàng liền 2 năm; ở Trung Quốc, Đường Ai Đế dùng niên hiệu Thiên Hựu của Đường Chiêu Tông liền 4 năm, Tấn Xuất Đế dùng niên hiệu Thiên Phúc của Tấn Cao Tổ trong 3 năm, rồi sau mới cải nguyên thành Khai Vận…

- Chúng tôi chỉ ghi ngày cải nguyên để biết ngày hôm đó bắt đầu một niên hiệu mới; ta hiểu niên hiệu cũ có hiệu lực đến ngày hôm trước của ngày đó.

3. Để cho niên biểu được phong phú mà vẫn không quá rườm rà, chúng tôi liệt kê cả ngày sinh hoặc chí ít là năm sinh, ngày mất, ngày nhường ngôi, ngày thoái vị, ngày phục vị, ngày mất của các vị vua chúa và tính tuổi thọ của họ.

4. Họ Trịnh, họ Nguyễn thật sự nắm quyền cai trị đất nước ở thế kỷ XVI đến XVIII, chúng tôi xây dựng cho họ các thế phả. Chúng tôi cố gắng liệt kê các tước hiệu của họ và xem chúng tương tự như các niên hiệu của các vị vua để làm mốc ghi niên đại. Họ Trịnh thường thăng dần theo thứ bậc với các tước hiệu: Hầu, Quận công, Quốc công, Vương hai chữ, Vương một chữ. Họ Nguyễn thường thăng dần theo thứ bậc với các tước hiệu: Hầu, Quận công, Quốc công, Vương (lần đầu tiên vào năm 1744); ngoài ra họ còn được Nguyễn Phúc Khoát truy tôn Vương hiệu vào năm 1744Nguyễn Ánh truy tôn Đế hiệu vào năm 1806. Các niên biểu hiện có thường theo cách nhìn riêng của các dòng họ này mà loại bỏ Trịnh Cối và Nguyễn Phúc Dương ra khỏi thế phả của dòng họ; chúng tôi đưa 2 vị này vào thế phả của 2 họ cho đúng với thực tế lịch sử.

5. Chính triều của Việt Nam được đối chiếu với chính triều của Trung Quốc và ngược lại.

6. Các triều đồng thời và các thế phả được đối chiếu với chính triều. Đối với các thế phả, ngoài việc đối chiếu với chính triều, có lúc còn đối chiếu thêm với triều Lê là triều mà họ tôn phò.

7. Niên thứ của các niên hiệu và các triều vua được đối chiếu đều ghi dưới dạng một phân số, mà tử số là niên thứ tương đương, mẫu số là niên thứ cuối cùng của niên hiệu hoặc triều vua đó. Ví dụ:

Việc cải nguyên Đại Hòa của Lê Nhân Tông vào ngày mồng 1 tháng Giêng năm Quý Hợi (1443) ứng với năm Chính Thống 8/14 của vua Minh Anh Tông t 9/15. Minh Anh Tông làm vua 2 lần, lần đầu gọi là “thượng”, được ghi bằng “t” trong 15 năm - ở đây mẫu số là 15; lần sau gọi là “hạ”, được ghi bằng chữ “h” trong 8 năm. Minh Anh Tông được dùng 2 niên hiệu: năm đầu dùng tiếp niên hiệu Tuyên Đức của Tuyên Tông, từ năm thứ hai mới dùng niên hiệu Chính Thống của bản thân mình; nên Tuyên Thống chỉ có 14 năm - ở đây mẫu số là 14. Niên hiệu Đại Hòa được dùng trong 11 năm; Đại Hòa năm thứ 7 mà trước ngày 6-9 sẽ ứng với Chính Thống 14/14 của vua Minh Anh Tông 15/15; Đại Hòa thứ 7 mà từ ngày 6 – 9 về sau vẫn ứng với Chính Thống 14, nhưng đã là của vua Minh Đại Tông; Đại Hòa thứ 8 vượt quá các mẫu số trên nên đã ứng với một niên hiệu khác mà ta phải tìm trong niên biểu Trung Quốc, cụ thể đó là Cảnh Thái 1/8 của vua Minh Đại Tông 2/9. Cách ghi này khiến khi đối chiếu ta không bị nhầm mà vượt khung.

8. Các bảng đều thống nhất gồm 9 cột:

Cột đầu: Thứ tự.

Hai cột sau là nhà vua hoặc nhà chúa, trong đó:

Cột 2: Tên, miếu hiệu (ứng với năm mất, hoặc năm được truy tôn miếu hiệu này).

Cột 3: Số năm trị vì và tuổi thọ - được ghi trong dấu ứng với năm mất.

Hai cột tiếp theo để ghi về niên hiệu hoặc tước hiệu được dùng, trong đó:

Cột 4: Niên hiệu, miếu hiệu và việc sinh hoặc mất - để trong dấu ngoặc.

Cột 5: Số năm dùng niên hiệu hoặc tước hiệu đó.

Bốn cột cuối để đối chiếu, trong đó:

Cột 6: Đối chiếu với lịch âm (chi tiết tới ngày).

Cột 7: Đối chiếu thô vhỉ với năm lịch dương.

Cột 8: Đối chiếu với niên hiệu chính triều.

Cột 9: Đối chiếu với triều vua chính triều.

9. Tên các vị vua chúa và niên hiệu đều được ghii bằng cả chữ Hán phồn thể.

10. Một điều chúng tôi muốn lưu ý là: xuất phát từ một chi tiết được nêu trong Đại Việt thông sử, chúng tôi đã dùng 60 văn bia, kết hợp với 22 khoa thi trong Đăng khoa lục cùng với một vài đồ gốm có minh văn và một quả ấn có lạc khoản mà thông tin chúng cung cấp hoàn toàn thống nhất với nhau, để lập nên một niên biểu chính xác cho nhà Mạc. Qua đó chúng tôi đã đính chính lại được 8 niên hiệu của nhà MạcĐại Việt sử ký toàn thư đã chép sai. Điều này chúng tôi đã nêu trong nhiều bài viết, đặc biệt là bài Niên biểu nhà Mạc.

Niên biểu mỗi nước đều gồm 3 chương:

Chương 1: Các thời kỳ lịch sử, các triều đại nhờ các bảng có cả không gian lẫn thời gian, vừa mang tính đồng đại vừa mang tính lịch đại.

Chương 2: Các niên biểu được xây dựng theo thể thức đã trình bày ở trên.

Chương 3: Các niên hiệu xếp theo vần chữ cái của âm Hán Việt đi kèm với chữ Hán.

Trên đây chúng tôi trình bày thể thức xây dựng Niên biểu lịch sử Việt Nam và Trung Quốc trong sự đối chiếu với nhau mà chúng tôi dự định làm để đưa vào cuốn Lịch và niên biểu lịch sử hai mươi thế kỷ (0001-2010) sẽ xuất bản giữa năm nay. Rất mong được các vị đóng góp cho chúng tôi những ý kiến quý báu để cuốn sách khi ra mắt độc giả sẽ tránh bớt được những sai sót.

Hà Nội, ngày 1 tháng 2 năm 1999

Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.248-255)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm