29. Tư liệu văn bia Hán Nôm tại chùa Cao Lãng thôn Cổ Tiết, xã An Vĩnh huyện Quỳnh Phụ (TBHNH 2001)
TƯ LIỆU VĂN BIA HÁN NÔM TẠI CHÙA CAO LĂNG THÔN CỔ TIẾT, XÃ AN VĨNH HUYỆN QUỲNH PHỤ
Sở Văn hoá - Thông tin Thái Bình
Từ thị xã Thái Bình theo đường 10 đi Hải Phòng đến ngã tư Kênh (km 19,5) rẽ trái theo đường liên xã khoảng 2km là đến chùa Cao Lăng. Chùa toạ lạc trên tổng diện tích là 2.880m2, tổng công trình là 60 gian. Đây là một di tích kiến trúc nghệ thuật làm theo kiểu nội công ngoại quốc, biến hình của "Tam cung cửu viện - chín nóc chín mái, mái cong đạo guột"; khuôn viên bố cục gọn đẹp, cửa chính quay hướng Tây, dù đứng ở góc nào quý khách cũng đều cảm nhận được nét cổ kính, duyên dáng, đồ sộ, hoành tráng của ngôi chùa.
Với lối kết cấu cuốn vòm và hệ thống cột tròn gia cố lực nâng bộ mái kiến trúc truyền thống, bàn tay khéo léo của các nghệ nhân đã tạo ra hệ thống hành lang xung quanh toà Phật liên hoàn rộng rãi, có sức chứa ngàn người làm cho không gian nội thất chùa Phật như được nâng cao, huyền ảo.
Vài thế kỷ đã trôi qua chùa Cao Lăng cũng đã qua 7 đời sư tổ trụ trì, nhân dân địa phương đã nhiều lần góp tiền trùng tu sửa chữa, tôn tạo chùa ngày thêm lộng lẫy, đến nay Bảo tháp các sư rổ vẫn được bảo lưu gìn giữ.
Tượng pháp chùa Cao Lăng có niên đại không sớm (đầu thế kỷ 19), song khá đầy đủ và được bài trí đúng, đẹp; tư thế các pho tượng hài hoà, đường nét chạm trổ hoà trong sắc màu sơn son thiếp vàng rực rỡ. Đặc biệt trong chùa còn bảo lưu được một số lượng lớn tư liệu Hán Nôm gồm 10 bia đá (dựng sau Tam bảo và hàng lang), hai cây hương dựng trước cửa chùa và một bia tháp. Các tư liệu này có niên đại từ Mạc Quảng Hoà năm thứ 3 (1543) đến Bảo Đại năm thứ 10 (1935); nội dung ngoài việc ung cấp tư liệu nghiên cứu về lịch sử gần 400 năm của ngôi chùa còn cung cấp các thông tin về các mặt của xã hội phong kiến Việt Nam. Chúng tôi giới thiệu sơ lược nội dung:
1. Linh Ứng tự cung chung bi:
Bia một mặt kích thước 65 x 88cm, trán trang trí mặt nguyệt, riềm trang trí dây leo; gồm 26 dòng, dòng 34 chữ. Niên đại Quảng Hoà năm thứ 3 (1543).
Nội dung: Chùa Lưng Ứng thôn Cổ Tiết là ngôi chùa cổ xưa chưa có chuông, nay thiện nam tín nữ đóng góp tiền và đồng để đúc chuông (có danh sách kèm theo).
2. Cột hương: Cao Lăng hưng công:
Cột hương 4 mặt khổ 28,5 x 115cm. Không có trán, diềm chạm mây gồm 6 dòng, dòng 53 chữ. Niên đại Vĩnh Thịnh 15 (1719).
Nội dung: Ca ngợi đạo Phật và cảnh chùa Cao Lăng cùng họ tên những người công đức dựng cột hương.
3. Cao Lăng tự bi ký:
Bia 3 mặt khổ 61,5 x 133cm và 40 x 158cm, trán trang trí mặt rồng, phượng; diềm để trơn; gồm 16 dòng, dòng 48 chữ. Niên đại Gia Long 10 (1811).
Nội dung: Trong xã có 3 ngôi chùa, chùa Cao Lăng, chùa Linh Ứng và chùa Kim Cương nay đều bị đổ nát. Hương trưởng Trịnh Công Sênh, Cai độ Trịnh Công Tuần cùng toàn dân đứng ra sửa lại chùa Cao Lăng làm nơi thờ Phật (có danh sách những người đứng ra xây dựng).
4. Bản hậu vị sự:
Bia 1 mặt khổ 70 x 113cm, không có trán, diềm để trơn; gồm 25 dòng, dòng 48 chữ. Niên đại Tự Đức 4 (1851).
Nội dung: Chùa trải qua nhiều năm tháng bị hư hại nay hương hào cùng toàn dân 10 giáp tu sửa lại chùa, vậy dựng bia ghi tên những vị đóng góp được thờ làm hậu Phật trong chùa. Danh sách những người được gồm: Trịnh thị, Bùi thị, Nguyễn thị, Phạm thị, Dương thị...
5. Phụng hậu vị sự:
Bia 1 mặt, khổ 68 x 116cm; không có trán, diềm để trơn; gồm 24 dòng, dòng 42 chữ. Niên đại Tự Đức 4 (1851).
Nội dung: 10 giáp trong xã đứng ra tu sửa chùa, dựng bia ghi lại họ tên những người đã đóng góp tiền của. Có danh sách những người đóng góp gồm các họ: Nguyễn, Dương, Bùi, Phạm.
6. Diệu Quang tháp bi ký:
Bia hai mặt, khổ 41 x 78cm, không có trán, diềm để trơn. Mặt trước gồm 14 dòng, dòng 42 chữ. Mặt sau 1 dòng, dòng 25 chữ. Niên đại Tự Đức 36 (1883).
Nội dung:
Mặt trước: vị sư trụ trì tên huý là Lương, tự Thông Thiện, là con gái họ Dương trong làng đã có nhiều công lao xây dựng và tu sửa chùa, nay sư viên tịch chùa xây tháp và dựng bia tưởng niệm.
Mặt sau: ghi tên hiệu sư... Nam mô Diệu Quang tháp tự hành ma ha sa di ni tự phổ thiện thiền sư nhục thân Bồ Tát.
7. Cao Lăng tự tân bi:
Bia một mặt, khổ 54 x 48cm, không có trán diềm để trơn; gồm 18 dòng, dòng 53 chữ. Niên đại Thành Thái 18 (1906).
Nội dung: Vào niên hiệu Gia Long, hương trưởng Trịnh Công Sênh, Cai đội Trịnh Bát Tuần cùng toàn dân làng dựng chùa Cao Lăng, chùa qua nhiều lần tu sửa nay ông Giám hội anh hào của tỉnh thụy là Cung Pháp đứng ra cùng dân làng tu sửa lại chùa (có danh sách những người đóng góp và số tiền đóng góp).
8. Cao Lăng tự hậu tự bi:
Bia 1 mặt, khổ 42 x 40cm, không có trán, diềm để trơn. Niên đại Thành Thái 18 (1906).
Nội dung: Năm Nhâm Dần làng trùng tu lại chùa nên chọn bầu những người sau làm họ Phật, có danh sách kèm theo.
9. Bi kí liệt vị hậu linh liệt hậu:
Bia 1 mặt, khổ 48 x 42cm, không có trán, diềm để trơn, gồm 11 dòng, dòng 25 chữ. Niên đại Thành Thái 19 (1907).
Nội dung: Toàn dân đứng ra sửa chùa, kinh phí quá lớn có ông họ Trần và vợ là Trần Thị Châm đóng góp 30 quan tiền, nên làng hầu là hậu Phật, kèm theo danh sách của những người đóng góp khác.
10. Cao Lăng tự tân bi:
Bia 1 mặt, khổ 54 x 78cm, không có trán, diềm để trơn. Niên đại Bảo Đại 10 (1935) gồm 16 dòng, dòng 38 chữ.
Nội dung: Chùa Cao Lăng được xây dựng từ lâu và được tu sửa nhiều lần, nhưng nay đã bị hư nát. Năm Bảo Đại thứ 3 (1928) dân làng cử Chánh tổng Trịnh Tri Tân đứng ra cùng dân làng tu sửa lại chùa, nhưng giữa chừng chánh tổng qua đời làng lại cử Phó tổng đứng ra thay. Nay công việc đã hoàn tất nên dựng bia ghi lại.
11. Cột hương: Thiên Ứng thạch đài
Cột hương 2 mặt, khổ 28,5 x 115cm, trán trang trí mây và cá chép hoá rồng, diềm hoa văn mây nước; gồm 6 dòng, dòng 24 chữ. Không ghi niên đại.
Nội dung: ghi danh sách những người công đức.
12. Bản tự hậu thần bi ký:
Bia 1 mặt, khổ 32 x 52cm; không có trán, diềm trang trí hoa cúc, 7 dòng, dòng 19 chữ, bia không niên đại.
Nội dung: Danh sách những người được thờ làm hậu thần gồm họ Nguyễn, Bùi, Dương, Phạm... (bia mang từ nơi khác đến).
13. Cao Lăng tự hậu bi:
Bia 1 mặt, khổ 50 x 80cm; không có trán, diềm để trơn; 6 dòng, dòng 32 chữ. Niên đại Đinh Sửu (?).
Nội dung: Dân làng tu sửa lại chùa dựng bia, ghi lại những người đã đóng góp tiền của tên hiệu và số tiền đã đóng góp của từng người.
Qua các tư liệu văn bia cho phép kết luận:
Trước thời Nguyễn làng Cổ Tiết có 3 ngôi chùa Cao Lăng, Minh Ứng và Kim Cương (sau mới bị đổ nát).
Chùa Cao Lăng được xây dựng từ trước năm 1543. Quy mô chùa hiện nay là kết quả của các đợt trùng tư lớn vào thời Nguyễn sau này.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr249-254.