VI | EN
34.Tìm hiểu về kịch bản Tuồng lưu trữ tại Viện Cổ học (Huế) năm 1925 (TBHNH 2004)
TBHNH 2004

TÌM HIỂU VỀ KỊCH BẢN TUỒNG LƯU TRỮ

TẠI VIỆN CỔ HỌC (HUẾ) NĂM 1925

NGUYỄN TÔ LAN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Viện Cổ học được thành lập tại thành phố Huế năm 1922 dưới thời vua Khải Định. Tiếc rằng, hiện nay chúng tôi chưa tìm được nhiều tài liệu trực tiếp nói về cơ cấu, phương thức hoạt động cũng như quá trình hoạt động của nó nhưng qua một số thông tin gián tiếp trong văn bản Hán Nôm mang tên Cổ học viện thư tịch thủ sách A.2601/1-11 hiện được lưu trữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm chúng ta có thể biết được một số thông tin về thư viện của Viện này.

Theo những ghi chép về niên đại thì bản Cổ học viện thư tịch thủ sách A.2601/1-11 là biên bản kiểm kê sách tàng trữ tại Viện Cổ học được biên soạn năm Khải Định 9-10 (1924 – 1925). Trong đó bản A.2601/11 là bản sao không đầy đủ của bản mang kí hiệu A.2601/10, vì vậy chúng tôi chỉ coi bản A.2601/11 là tài liệu có tính chất tham khảo, bổ sung. Căn cứ vào nội dung của A.2601/1-10 chúng ta biết được sau hai năm thành lập (1924), số sách có tại Viện đã là 2828 bộ, trong đó có 262 bộ thuộc Tân thư, 47 bộ thuộc Kinh bộ, 430 bộ thuộc Sử bộ, 6550 thuộc Tử bộ, 562 thuộc Tập bộ và đặc biệt là 601 bộ thuộc kho Quốc thư (đây là những sách của Việt Nam, trong đó có một số lượng đáng kể sách Nôm)(1).

Căn cứ vào phần miêu thuật lai lịch của các sách trong A. 2601/1-10 cho thấy, các sách này phần lớn vốn được lưu trữ tại Tân thư viện (Tân thư viện được thành lập năm 1909 là thư viện của Quốc tử giám, sách ở đây được kiểm kê và chép trong Tân thư viện thủ sách A.1024 và A.2645/1-3, kí hiệu thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm) Một phần khác do bộ Lễ hoặc bộ Học chuyển giao, phần còn lại Viện Cổ học mua được hoặc sai người đi sao chép văn bản tại các thư viện khác ở Huế. Như vậy, ngoài việc tập hợp thư tịch từ các cơ quan lưu trữ và thư viện lớn khác, một trong những hoạt động của Viện Cổ học mà chúng ta biết được là lưu trữ, sưu tầm và nhân bản các thư tịch Hán Nôm có hệ thống về chất lượng và số lượng.

Khi Viện Cổ học được thành lập (1922) cũng là lúc nghệ thuật tuồng tại Việt Nam đạt đến thời kì hưng thịnh của nó mà đặc biệt là trên đất Huế. Có gốc gác vùng Thanh Nghệ, tuồng (hát bộ, hát bội) được xem là hành trang văn hóa Đàng Ngoài mà Đào Duy Từ đã mang vào xứ Đàng Trong khi theo về dưới cờ chúa Nguyễn năm 1627. Nghệ thuật tuồng Huế trải qua ba thế kỉ phát triển trong lòng văn hóa Phú Xuân, đặc biệt đã đạt được những thành tựu chói lọi dưới triều đại của các chúa Nguyễn vốn là những Mạnh Thường Quân đầy quyền lực cho sân khấu tuồng. Tham gia sáng tác tuồng là những nhà văn hóa lỗi lạc của dân tộc tiêu biểu như Đào Tấn.

Nhưng không phải ngay từ khi xuất hiện ở xứ Đàng Trong, tuồng đã có kịch bản đi kèm. Cho đến trước nửa đầu thế kỉ XVIII diễn viên diễn tuồng thường diễn không có kịch bản, việc tạo lời thoại khá tự do và thoải mái. Từ cuối thế kỉ XVIII trở đi, cùng với sự phát triển của văn học Nôm, tuồng được giới nho sĩ triều Nguyễn ham thích và bắt đầu quan tâm đến việc ghi chép lại kịch bản. Sau khi đất nước thống nhất, nhà Nguyễn đề cao tuồng bởi nội dung tôn quân, đề cao đạo hiếu của nó. Đây là cơ sở để hình thành kho tuồng bản ở Huế. Và đến những năm đầu thế kỉ XX, kho tuồng bản này đã được đi vào thời kì ổn định về số vở và số lượng các vở. Một số kịch bản tuồng đã được thu thập, lưu trữ và nhân bản ở các thư viện nhà nước trong các thư viện này không thư viện nào có chức năng chuyên biệt để lưu trữ kịch bản tuồng nói riêng hay các thư tịch về nghệ thuật nói chung. Khảo sát thư mục sách tàng trữ ở các thư viện nhà nước được thành lập trước Viện Cổ học là thư viện Quốc sử quán (1821), Tàng thư lâu (1825), Nội các (1826), Tụ Khuê (1852), Tân thư viện (1909) chúng tôi thấy Tân thư viện có lưu trữ một bộ Vạn bửu trình tường với 27 bản chép tay và đặc biệt riêng Riêng Viện Cổ học có một phần lưu trữ tuồng bản trong kho Quốc thư, mang tên khoa Diễn truyện. Khoa Diễn truyện là khoa thu thập các kịch bản sân khấu mà không đặt chung vào kho Quốc âm (sách chữ Nôm). Tuy Viện Cổ học đã ngừng hoạt động từ ngay những thập kỉ đầu thế kỉ XX, thư tịch lưu trữ tại đây hiện lưu lạc về đâu thật khó biết rõ nhưng qua những ghi chép trong khoa Diễn truyện, kho Quốc thư, Cổ học viện thư tịch thủ sách chúng ta có thể phục dựng được một cách khá chi tiết về thực tế lưu trữ lúc bấy giờ(2).

Cổ học viện thư tịch thủ sách A. 2061/10 là tập thứ hai của kho Quốc thư, phần khoa Diễn truyện gồm 09 tờ, mỗi tờ 02 trang. Mỗi tên sách trong bản ghi chép này được miêu thuật với 08 yếu tố: Tên sách, số bộ (đủ hoặc thiếu), nội dung sách, người biên soạn, số quyển nguyên có, số quyển hiện đóng, kí hiệu sách, khắc in hoặc sao chép cùng với lai lịch đóng sách, cách đóng. Tuy vậy, trong phần này tùy theo từng tên sách mà một số thông tin bị chép nhầm vị trí nhưng qua cách ghi chép và nội dung ghi chép có thể trả chúng về đúng vị trí.

Thông qua thống kê thư tịch Hán Nôm từ kho này chúng tôi có được tổng cộng 53 tên sách. Trong đó Viện Cổ học mua 03 bộ (03 quyển), bộ Học chuyển giao là 47 bộ (82 quyển), vốn của Tân thư viện 03 bộ (07 quyển). Sách nguyên có là 125 quyển, sách đóng tại thời điểm đó(3)80 quyển. Sách hiện đóng là 25 bản, trong đó có bộ là 14 bản, đóng theo cách thông thường là 11 bản. Ngoài ra, còn có tên sách Di tình được phụ chép trong Tống Nhạc Phi diễn truyện nên số tên sách thực tế là 54. Trong 54 tên sách trên chỉ có sách Vạn bửu trình tường được khắc in còn 53 sách còn lại đều chép tay.

Trong 54 tên sách này có 02 tên sách chúng tôi cho rằng có lẽ không phải là kịch bản tuồng. Một là tên sách Cổ truyện diễn hí. Theo như miêu thuật trong phần nội dung đây là danh mục các “hí truyện” (hí truyện ở đây có thể hiểu là truyện cười, trò vui hoặc có thể là trò diễn hí như tuồng chèo) và đây là sách vốn được lưu giữ tại Tân thư viện. Trong khi đó theo Tân thư viện thủ sách (kí hiệu A.1024, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm), trang 229a thì tại Tân thư viện chỉ lưu trữ sách Cổ truyện diễn nghĩa mục lục, 01 bộ, 04 bản(4). Điều này gợi ý rằng có lẽ hai tên sách này có cùng một nội dung, cho phép chúng ta đoán định sách này không phải là kịch bản tuồng mà chỉ là danh mục những kịch bản tuồng diễn ra từ các tích cổ.

Hai là tên sách Vạn bửu trình tường truyện kí. Tên sách này chưa được nhắc đến trong các tài liệu khác. Thông thường, chúng ta vẫn biết tới pho Vạn bửu trình tường hay còn có tên là Vạn bửu trình tường diễn truyện. Ở đây lại xuất hiện Vạn bửu trình tường truyện kí có nội dung tương tự như Vạn bửu trình tường diễn truyện nhưng trong các phần miêu thuật nội dung lại không được chú thích là “diễn thành tuồng quốc âm” như các tên sách còn lại. Có khả năng đây là cốt truyện của kịch bản tuồng Vạn bửu trình tường. Dựa trên cốt truyện này, các nhà soạn tuồng triều Nguyễn mới phân ra thành các lớp, cảnh, vai diễn v.v… và sáng tác ra kịch bản tuồng. Hoặc có lẽ do vở Vạn bửu trình tường quá dài nên nội dung được tóm tắt lại để tiện cho vua hoặc những người quan tâm đọc nội dung của vở. Vì không có cứ liệu nào khác về hai tên sách này nên chúng tôi mạo muội nêu ra giả thiết như trên, mong được tiếp tục tìm hiểu thêm. Như vậy, theo chúng tôi tại thời điểm kiểm kê năm Khải Định 10 (1925) Viện Cổ học có 52 kịch bản tuồng và 02 văn bản Nôm liên quan tới tuồng.

Trong số 52 kịch bản tuồng này, các vở: Châu lí ngọc diễn truyện, Di tình, Đào Phi Phụng diễn truyện, Đinh Lưu Tú diễn truyện, Gia ngẫu diễn truyện, Giác oan diễn truyện, Giác sanh duyên diễn truyện, Hàm hòa diễn truyện, Hỏa hầu tinh diễn truyện, Lí Phụng Đình diễn truyện, Lôi phong tháp diễn truyện, Long phụng kì duyên diễn truyện, Mã Long Mã Phụng diễn truyện, Mã Long Mã Phụng tân trò, Ngũ hổ bình Tây diễn truyện, Ngự Văn Quân diễn truyện, Ô Thước diễn truyện, Sơn Hậu diễn ca, Sơn Hậu diễn truyện, Tam quốc diễn ca, Tam quốc diễn truyện, Tống Nhạc Phi diễn truyện, Trần Bồ diễn truyện, Trung hiếu thần tiên diễn truyện, Trúng sự trúng thuyết diễn truyện, Vạn bửu trình tường diễn truyện hiện vẫn còn dưới nhiều hình thức (trọn vẹn hay không trọn vẹn, đủ bộ hay khuyết thiếu, đủ trang hay không, nguyên bản hay bản chụp v.v…) tại các nơi lưu trữ trong và ngoài nước (của công hoặc tư nhân). Những thông tin về các vở này tại Viện Cổ học đầu thế kỉ XX là thông tin quí bổ sung cho những văn bản hiện còn như: tổng số vở còn tại thời điểm đó, hình thức văn bản, quá trình truyền bản v.v…

Ngoài 26 tên vở trên, các vở còn lại và những thông tin về chúng kèm theo là những tư liệu quí, cần được khai thác và đánh giá đúng mức. Các vở này có thể chia thành hai loại. Loại 1 là các vở hiện nay tuy vẫn còn được biết tên thông qua các tư liệu khác nhưng trên thực tế văn bản đã không còn thì qua Cổ học viện thư tịch thủ sách chúng ta biết được về số bộ, số bản và những nội dung cơ bản của chúng. Đó là các bộ: Học lâm diễn truyện, Tam nữ đồ vương diễn truyện. Loại 2 là các vở hiện không có tên trong các nghiên cứu về tuồng bản hiện nay mà chúng tôi được biết, đây là thông tin bổ sung rất đáng quí cho kho tàng kịch bản tuồng Việt Nam. Đây cũng là những cơ sở để trong tương lai có thể tìm thấy chúng trong dân gian, giúp ích cho công tác nghiên cứu văn bản học. Đó là: Cốc đế diễn truyện, Đa thọ diễn truyện, Đại hùng diễn truyện, Đông lai tây bích diễn truyện, Dương Chấn Tử diễn truyện, Dương liễu hội diễn truyện, Hán Cao tổ diễn truyện, Hoa tiên diễn truyện, Hoàn long giải hổ diễn truyện, Hội sinh bửu diễn truyện, Kỳ sinh diễn truyện, Nô nhân báo nghĩa diễn truyện, Phong nguyệt khúc diễn truyện, Tiểu Sơn Hậu diễn truyện, Thạch Sanh diễn truyện, Thiên tống kì duyên diễn truyện, Thuý Kiều diễn truyện, Tống thiếu quân diễn truyện, Từ thắng diễn truyện, Tứ trí diễn truyện, Võ Lượng diễn truyện.

Có một điều dễ nhận thấy là phần lớn các vở tuồng được lưu trữ tại Viện Cổ học là tuồng thầy - tức dòng tuồng chính thống, tuồng cung đình, đặc biệt trong đó riêng bộ Vạn bửu trình tường với số lượng 12 quyển lại còn được khắc in cho thấy sự trọng thị của triều Nguyễn với tuồng cung đình - tuồng có nội dung phù hợp với tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến,

Theo dõi qua hai phần sách nguyên có và sách hiện đóng thấy rằng ngay tại thời điểm triều Nguyễn vẫn còn trị vì, tình trạng mất mát, thất lạc thư tịch đã diễn ra, mặc dù đây là cơ quan lưu trữ của nhà nước. Nguyên có 125 quyển mà chỉ còn 80 nquyển tức là đã mất 1/3 số sách. Đó là còn chưa kể đến trong 80 quyển đó có một số quyển là do Viện Cổ học mua hoặc mới sao lại.

Tóm lại, thông qua bản Cổ học viện thư tịch thủ sách chúng ta có thể tìm hiểu được tình hình lưu trữ kịch bản tuồng tại Viện Cổ học trong năm 1925. Tuy số lượng 52 kịch bản tuồng với 80 bản sách so với toàn bộ số sách được lưu trữ tại Viện này là không nhiều nhưng có thể nói đây là tài liệu nếu không phải đầu tiên thì là tài liệu có hệ thống đầu tiên ghi chép về kịch bản tuồng tại một trung tâm lưu trữ ở Huế và các thư viện cổ(5) trong cả nước. Cố nhiên, chúng ta chưa có đủ cứ liệu để xác định số kịch bản tuồng có tại thành phố Huế trong thời gian đó nói riêng, trong lịch sử nói chung nhưng so với số kịch bản tuồng còn lại tới ngày nay thì đây là một tài liệu có giá trị. Tài liệu này cung cấp thông tin về số lượng các hồi, vài nét nội dung, quá trình truyền bản cho 26 kịch bản tuồng hiện còn, giúp cho những nhà nghiên cứu văn bản tuồng có cứ liệu chính xác trong nghiên cứu. Hơn nữa, nó chứng minh sự tồn tại của 02 kịch bản tuồng mà đến nay chúng ta mới chỉ biết tên thông qua các tài liệu khác. Đáng quí hơn, qua đây, chúng ta biết được về 24 kịch bản tuồng chưa được biết tới trong bất kì tài liệu nào từ trước đến nay. Thông tin về những kịch bản này một mặt bổ sung cho kho kịch bản tuồng nước nhà, làm phong phú thêm kho di sản ấy. Mặt khác, là cơ sở để tiếp tục sưu tầm chúng trong dân gian, góp phần bảo tồn và phát duy di sản nghệ thuật quí giá của dân tộc.

Chú thích:

(1) Thống kê theo Cổ học viện thư tịch thủ sách A.2601/1-11, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(2) Tức năm 1925, năm thực hiện bản ghi chép này.

(3) Thời điểm mà sách nguyên có là 125 quyển.

(4) Bản cũng giống như quyển.

(5) Chữ cổ ở đây được quan niệm là những thư viện thành lập và hoạt động dưới sự chỉ đạo của các triều đại phong kiến (từ 1945 trở về trước)./.

Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.289-295)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm