VI | EN
35. E. Nodermann và việc phiên chuyển Truyện Kiều sang quốc ngữ
tb07

Edmond Nordemann VÀ VIỆC PHIÊN CHUYỂN TRUYỆN KIỀU

SANG QUỐC NGỮ

 

TRƯƠNG ĐỨC HÙNG

Quỹ Dịch thuật Phan Chu Trinh

 

Khoảng mười năm trở lại đây nổi lên xu hướng đi tìm một văn bản Truyện Kiều “có thể là nguyên lời của Nguyễn Du”. Các nhà nghiên cứu, biên khảo đã giới thiệu với độc giả một loạt bản Kiều Nôm cổ và từ đó, nêu ra nhiều vấn đề lý thú về văn bản Truyện Kiều. Những kết quả rút ra từ đó hết sức hữu ích để nhìn lại những gì mà các nhà biên khảo Truyện Kiều đã làm được trong suốt hơn một thế kỷ vừa qua. Những kinh nghiệm rút ra từ đó, theo chúng tôi, sẽ ít nhiều có ích cho việc khôi phục một văn bản Truyện Kiều gần với nguyên tác.

Xuất phát từ quan niệm ấy, trong bài viết này, chúng tôi trình bày một số nhận xét ban đầu về một bản Kiều quốc ngữ thế kỷ XIX - bản Kim Vân Kiều tân truyện của Edmond Nordemann.

Edmond Nordemann là trưởng giáo (hiệu trưởng) trường Quốc học Huế (directeur du collège Quốc học à Huế). Nhận thấy trong Truyện Kiều “đủ cả người trung, người nghĩa, kẻ gian, kẻ nịnh, giọng cứng, giọng mềm, điệu vui, điệu oán, đặt lời nhẹ mà ý sâu, dùng chữ xa mà nghĩa rộng, từ đầu đến cuối không câu nào non, vần nào ép, thật là tài tình tao nhã… nước Nam vẫn lấy làm hay nhất” nên ông “mới in trước, rồi sau sẽ in những truyện Nôm kia”.

Bản Kiều quốc ngữ của ông được xuất bản lần đầu tại Huế năm 1897, lần thứ hai và thứ ba ở Huế và Hà Nội cùng trong năm 1900 và in lần thứ tư tại Hà Nội năm 1911.

Bản Kiều của E. Nordemann ít được các nhà nghiên cứu, biên khảo chú ý tới. Vào khoảng những năm 1960, khi tập hợp, khảo sát các văn bản Truyện Kiều, nhóm nghiên cứu của Viện Văn học có đề cập đến bản Kiều này. Tuy nhiên, về một điểm rất quan trọng cho việc phiên chuyển sang quốc ngữ là văn bản nguồn, Nguyễn Văn Hoàn chỉ viết: “Bản Kiều quốc ngữ Noóc-đờ-man cũng không ghi rõ là đã dựa theo bản Kiều Nôm nào”(1).

Vào những năm 1890, kho cơ sở dữ liệu của Truyện Kiều không chỉ là các bản Nôm nữa, nó đã được bổ sung bằng các bản Kiều quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký (1875) và Abel des Michels (1884). Vì thế, chắc Nordemann không đơn thuần chỉ làm việc trên các bản chữ Nôm.

Bản Kim Vân Kiều tân truyện của Nordemann gồm có 3254 câu. Theo khảo sát của chúng tôi, Nordemann không sử dụng các bản Kiều Nôm chép tay ở Huế thời đó. Một bản như vậy, do Đào Nguyên Phổ mang ra Hà Nội, đã được Kiều Oánh Mậu gọi là bản kinh rồi sử dụng để hiệu đính và cho khắc in Đoạn trường tân thanh vào năm 1902. Các câu chữ “độc hữu” (chữ của GS. Nguyễn Tài Cẩn) của bản kinh không xuất hiện trong bản Nordemann. Nhưng khi đối chiếu với các bản phường thì tình hình khác hẳn, bản Nordemann có nhiều câu chữ chỉ có trong các bản phường. Bảng đối chiếu sơ bộ một số câu chữ trong bản Nordemann với các bản: Liễu Văn đường (LVĐ 1866, LVĐ 1871), Quan Văn đường (QVĐ 1879), Thịnh Mỹ đường (TMĐ 1879), Nguyễn Hữu Lập (NHL 1870), Duy Minh Thị (DMT 1872) có thể làm rõ hơn cho điều đó.

114. Bóng chiều đã ngả, dặm hoè còn xa

124. Dấu giày từng bước in rêu rành rành

127. Hữu tình ta lại gặp ta

157. Nước non cách mấy buồng điều

594.Dẫu rằng đá cũng nát gan lọ người

872. Vương ông bày tiệc tiễn hành đưa theo

1004. Lựa lời khuyên giải mơn man gỡ dần

1069. Sốt gan riêng giận trời già

 

Bản

LVĐ

1866

LVĐ

1871

QVĐ 1879

TMĐ 1879

Nordemann

NHL 1870

DMT 1872

Câu

114

124

127

157

594

872

1004

1069

hòe

Dấu giày

gặp

//////

người

mở

//////

//////

hòe

Dấu giày

gặp

điều

người

mở

Gieo

Nổi gan

hòe

Dấu giày

gặp

điều

người

mở

Gieo

Nổi gan

về

Dấu giày

gặp

điều

rằng

bày

Lựa

Sốt gan

hòe

Dấu giày

gặp

điều

rằng

bày

Lựa

Sốt gan

về

Dấu hài

biết

đào

người

gánh

Kiếm

Nổi gan

về

Vết giày

biết

thêu

người

gánh

Gieo

Nổi gan

Thống kê câu chữ như trên cho ta thấy Nordemann có lẽ đã sử dụng bản Thịnh Mỹ đường 1879, hoặc một bản rất gần với bản này, làm văn bản cơ sở cho việc phiên chuyển Truyện Kiều sang quốc ngữ. Ông cũng đã tham khảo ít nhất là một trong ba bản LVĐ 1866, LVĐ 1871, QVĐ 1879 để có chữ “dặm hòe” trong câu 114.

Việc so sánh, đối chiếu cũng cho thấy Nordemann cũng tham khảo bản quốc ngữ Poèm Kim Vân Kiều truyện của Trương Vĩnh Ký. Trong 60 trường hợp trùng nhau ở hai bản này, ta thấy có nhiều chữ “độc hữu” của bản Trương Vĩnh Ký cũng xuất hiện trong bản Nordemann:

575. Hàn huyên chưa kịp tả đề

611. Tính bài trọn đó luồn đây

1120.Gió cây lọt lá, trăng ngàn ngậm sương

2058. Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nặng sương

Là một học giả phương Tây, có lẽ Nordemann đã sớm nhận ra sự bất cập của các bản Kiều Nôm vốn có khá nhiều khác biệt về câu chữ. Hẳn ông đã phải thu thập, khảo sát những văn bản Kiều hiện có để đi tới lựa chọn trên. Cũng vì thế mà cuốn Kim Vân Kiều tân truyện của ông khác với các bản Kiều quốc ngữ thế kỷ XIX của Trương Vĩnh Ký và Des Michels. Dung diện của nó khá giống với các bản Kiều trong thế kỷ XX. Theo nhận xét của chúng tôi, Nordemann mới chính là người mở đầu cho lề lối biên soạn Truyện Kiều theo phương pháp hiệu đính trong suốt thế kỷ XX chứ không phải là Kiều Oánh Mậu với bản Đoạn trường tân thanh (1902). Mấy năm sau, ngoài việc “theo bản kinh và tham chước các bản tư gia”, có thể Kiều Oánh Mậu còn tham khảo cả bản Nordemann (theo cách hiểu của Đào Thái Tôn về điều 6 bài Lệ ngôn: “Chữ Nôm nước ta… có khi một chữ mà đọc thành ba bốn âm, phân vân mỗi người một thuyết, chưa biết cân nhắc, chọn lựa vào đâu cho nhất trí. Nay nhân theo chữ quốc ngữ mà soạn thành một bản khắc để cho được nhất trí”) để biên soạn cuốn Đoạn trường tân thanh (1902). Một số chữ được cho là “độc hữu” của bản Kiều Oánh Mậu như “Đầy” (Đầy thềm hoa rụng biết người ở đâu), “sỗ sàng” (Ghế trên ngồi tót sỗ sàng), mấy (Trời làm cực chi mấy trời) thực ra đã xuất hiện ở bản Nordemann.

Nordemann cũng là người rất chú trọng tới việc hiệu đính câu chữ Truyện Kiều. Các bản Kiều mà ông tham khảo đều có khá nhiều chữ “bất thành tự” do kỵ húy, chép sai, in lầm. Bản quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký cũng bảo lưu nhiều sai sót thuộc loại ấy. Có thể thấy Nordemann đã xử lý hầu hết những trường hợp này. Tuy nhiên, vẫn có thể bắt gặp đây đó một vài câu chữ còn bị bỏ sót như:

2663.Vậy nên những tính thong dong

2830.Lâm Tri mấy độ đi về dặm khơi

Các bản Kiều thế kỷ XIX đều chép câu 2830 như trên và chỉ đến Kiều Oánh Mậu, nó mới được đính ngoa thành Lâm Thanh. Đính ngoa đúng, vì gia đình Kiều vẫn đi tìm Kiều chỉ biết đi tìm theo cái địa chỉ sai do Mã Giám Sinh để lại (Hỏi quê: “Rằng huyện Lâm Thanh cũng gần”). Nguyên truyện của Thanh Tâm Tài Nhân viết: “mướn người lính trạm tới Lâm Thanh dò tin tức”.

Trong những nghiên cứu gần đây, PGS.TS. Đào Thái Tôn chú ý đến việc phát sinh của những chữ mới, coi đó là một trong những yếu tố hàng đầu làm sai lạc nguyên tác Truyện Kiều. Đối chiếu với “phần còn lại của cụ Nguyễn Du” do GS. Nguyễn Tài Cẩn lập ra sau khi đã khảo sát 9 bản Kiều thế kỷ XIX(2), chúng tôi thống kê được 43 chữ mới trong bản Kiều quốc ngữ của Nordemann. Xin được dẫn ra một số thí dụ sau:

160. Gặp tuần thả lá, thỏa lòng tìm hoa

228. Dưỡng sinh đôi đức, tóc tơ chưa đền

238. Chưa xong điều nghĩ đã dào tình thương

357. Sẵn tay mở quạt hoa quỳ

395. Rũ xiêm vuốt áo chững chàng

1930. Ngày phô thủ tự đêm nhồi tâm hương

Vậy có chăng việc Nordemann cũng theo một thông lệ trong truyền thống văn học trung đại của nước ta mà “nhuận sắc” Truyện Kiều? Hoặc giả, ông tiếp thu sự nhuận sắc của một bản Kiều Nôm cổ nào đó nay đã thất lạc? Song bất luận là vì nguyên do gì, kết quả hiển nhiên vẫn chỉ có một: đến Nordemann, câu chữ Truyện Kiều lại bị xô lệch thêm một chút nữa.

Bản Kiều quốc ngữ của Normann chưa được các nhà biên khảo chú ý đúng mức, song thiết nghĩ, nó đáng được tìm hiểu cặn kẽ hơn nữa. Thứ nhất, nó được biên soạn bởi một học giả người Pháp có quan điểm và phương pháp xử lý văn bản rất khác với các nhà biên khảo thời bấy giờ. Thứ hai, là một bản Kiều thế kỷ XIX, nó không có những câu chữ đã bị sửa chữa như các bản Kiều của thế kỷ XX.

Sau này, trong bản in lần thứ tư năm 1911, Nordemann đã có những hiệu chỉnh đáng kể về câu chữ Truyện Kiều. Việc so sánh, đối chiếu các bản Kiều này có thể cho ta biết thêm về sự thay đổi quan niệm của ông do tác động của những văn bản đầu thế kỷ XX, như bản Kiều Oánh Mậu, bản Chu Mạnh Trinh… Song có lẽ, đó lại là đề tài của một bài viết khác.

Chú thích:

(1) Cho tới trước 1965, ngoại trừ Phạm Kim Chi cho biết đã dựa vào “bổn chánh Kim Túy tình từ”, các nhà biên khảo không đưa ra danh mục các bản Kiều đã được dùng cho việc hiệu đính Truyện Kiều.

(2) Xem thêm Nguyễn Tài Cẩn: Tư liệu Truyện Kiều - Từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu, Nxb. Văn học và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Hà Nội, 2004./.

Trương Đức Hùng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm