36 . Qua thực tế điền dã, bước đầu giới thiệu một số loại tư liệu Hán Nôm hiện còn ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình (TBHNH 1998)
QUA THỰC TẾ ĐIỀN DÃ, BƯỚC ĐẦU GIỚI THIỆU MỘT SỐ LOẠI TƯ LIỆU HÁN NÔM HIỆN CÒN Ở HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
PHẠM THỊ NẾT
Phân viện Hà Nội - Học viện CTQG Hồ Chí Minh
I. Mấy nét về vị trí địa lý huyện Tiền Hải
Trên bản đồ tỉnh Thái Bình, huyện Tiền Hải nằm ở phía đông nam tỉnh, có 3 mặt giáp sông, biển (Sông Trà Lý ở phía bắc, sông Hồng ở phía nam, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp huyện Kiến Xương).
Theo thống kê năm 1998, Tiền Hải có diện tích tự nhiên là 22.592 ha với 203.300 người, sinh sống trong 34 xã và 1 thị trấn. Chiều dài bờ biển từ cửa Ba Lạt đến cửa Trà Lý 22 km. Tiền Hải có khu nghỉ mát và thắng cảnh Đồng Châu, có mỏ dầu khí đang khai thác phục vụ cho các ngành nông – công nghiệp trong tỉnh. Tiền Hải là huyện có Tiềm năng kinh tế phát triền dồi dào, đa dạng: nông- lâm – ngư nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp.
Cách đây 170 năm (vào năm Minh Mệnh thứ 9 – 1828) huyện Tiền Hải được thành lập.
Diện tích khi mới lập huệyn theo ghi chép trong sách Đại Nam thực lục chính biên: Ruộng đất có 18.970 mẫu ( ~ 6829ha), số đinh là 2.350 người, chia làm 7 tổng, 14 lý, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp. Đất đai huyện Tiền Hải không ngừng mở rộng là nhờ công sức khẩn hoang lấn biển của các thế thệ cư dân ở đây.
Tỉnh Thái Bình được thành lập năm Thành Thái thứ 2 (1890), trước năm 1890, Tiền Hải thuộc tỉnh Nam Định.
Có một điểm đáng lưu ý khi xem xét văn hóa truyền thống ở Tiền Hải là: Vào năm Thành Thái thứ 3 (1891), ngoài 7 tổng được lập ra năm 1828, Tiền Hải được nhận thêm 2 tổng nứa – đó là tổng Đại Hoàng (thuộc huyện Chân Định, phủ Kiến Xương) và tổng Đông Thành (thuộc huyện Giao Thuỷ, phủ Xuân Trường), tỉnh Nam Định. Năm Thành Thái thứ 6 (1894) cắt tổng Tân Bồi (gồm 1 lý, 4 ấp, 3 trại, 1 giáp) của huyện Tiền Hải (nằm phía bên kia sông Trà Lý), sáp nhập vào huyện Thanh Quan, phủ Thái Ninh. Như vậy, đến năm 1894, Tiền Hải có 8 tổng. Cho tới năm 1964, Tiền Hải lại được nhận thêm một số xã nữa cắt từ huyện Kiến Xương sang như: xã Vũ Lăng, An Ninh, Phương Công, Vân Trường v.v…
Do vậy, huyện Tiền Hải ngày nay không chỉ có vùng đất được hình thành từ năm 1828 gắn với tên tuổi của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ mà còn những phần đất được mở rộng về sau. Và với nhiều làng xã đã được hình thành từ sớm (khoảng thế kỷ 16 – 17) thuộc hai huyện Giao Thủy và Chân Định cắt sang (Những làng xã này đều nằm ở phía tây và phía nam của huyện Tiền Hải. Đây cũng chính là những “làng cựu” (theo cách gọi của người Tiền Hải) có vai trò to lớn giúp các “làng tân” (làng mới lập) tiến hành khần hoang, ổn định và phát triển. Điều này giúp bạn đọc hiểu được vì sao ở Tiền Hải lại tìm thấy những di văn Hán Nôm ở thế kỷ 17, 18.
II. Tiền Hải có nhiều di tích lịch sử - văn hóa và tư liệu Hán Nôm
Theo thống kê của Phòng Văn hóa huyện Tiền Hải và tài liệu điền dã của chúng tôi, hiện nay, Tiền Hải có 80 di tích lịch sử - văn hóa, trong số đó, có 37 ngôi đình, 16 ngôi chùa, 10 từ đường, 13 ngôi đền, 2 ngôi miếu, 1 lăng. Có 34 di tích được Nhà nước và tỉnh Thái Bình xếp hạng (12 di tích quốc gia). Xã có nhiều di tích lịch sử - văn hóa là: xã An Ninh (1 chùa, 5 từ đường), xã Đông Quý (3 đình, 1 chùa); xã Nam Thắng (1 chùa, 2 đình, 1 đền) v.v…
Trong các di tích lịch sử văn hóa này hiện còn lưu giữ được mảng di văn viết bằng chữ Hán, chữ Nôm với khối lượng không nhỏ, bao gồm: văn bia, thần tích, thần phả, sắc phong câu đối, đại tự, chuông, địa bạ, gia phả v.v… Có nhiều văn bản mang niên hiệu khá sớm. Đó là bia ghi về việc trùng tu ngôi chùa Viên Quang, của làng Vũ Lăng (xã Vũ Lăng) mang niên hiệu Khánh Đức nguyên niên (1649); sắc phong ở miếu Đông (miếu Mắt Rồng) làng Vũ Lăng niên hiệu Cảnh Hưng 44 (1783) v.v…
Số TT | Làng (xã) | Tên bia | Địa điểm đặt bia hiện tại | Năm lập bia | Ghi chú |
Đình | Chùa | Đền | Làng |
1 | Tiểu Hoàng (Tây Sơn) | Đinh Vũ bi ký | | | x | | Tự Đức 14 (1861) | Chuyển từ đình Tiểu Hoàng ra đến Mẫu |
2 | Tiểu Hoàng (Tây Sơn) | Tiền Hải kỹ niệm Nguyễn Công Trứ bia ký | | | | x | Bảo Đại 14 (1938) | |
3 | Vũ Lang (Vũ Lăng) | Viên Quang tự hưng công tân tạo thiên đài thạch trụ ký | | x | | | Vĩnh Thịnh 6 (1710) | |
4 | Vũ Lăng (Vũ Lăng) | Viên Quang tự trùng tu bi ký | | x | | | Khánh Đức nguyên niên (1649) | |
5 | Vũ Lăng (Vũ Lăng) | Viên Quang tự trùng tu bi ký | | x | | | Tự Đức 23 (1870) | Trùng tu lần thứ 3 |
6 | Thanh Giám (Đông Lâm) | Trung tự liệt vị Tòng tự liệt vị Phụ hưởng liệt vị | x | | | | Tự Đức 31 (1878) | Đặt ở bên phải đình |
7 | Thanh Giám (Đông Lâm) | Trung tự liệt vị Tòng tự liệt vị Phụ hưởng liệt vị | x | | | | Tự Đức 31 (1878) | Đặt ở bên trái đình |
8 | Vân Hải (Đông Phong) | Minh Công truy tự bi ký | x | | | | Duy Tân 3 (1909) | |
9 | Đức Cơ (Đông Cơ) | Đức Cơ bi ký | x | | | | Bảo Đại 15 (1940) | |
10 | Bắc Trạch (Bắc Hải) | Duy Tân Quý Sửu Hồng lưu chí | x | | | | Duy Tân Quý Sửu (1913) | |
11 | Hướng Tân (Nam Hà) | Hướng Tân xã tự miếu bi ký | | x | | | Không rõ | Đặt ở bên trái đình Hướng Tân sau chuyển về chùa |
12 | Hướng Tân (Nam Hà) | Mậu Thân bi ký | | x | | | Duy Tân thứ 2 (1908) | Còn 1 bia bị gạch xếp lấp đi chưa khảo sát |
13 | Hướng Tân (Nam Hà) | Hướng Tân xã tế đình bi ký | | x | | | Duy Tân thứ 2 (1908) | |
14 | Hướng Tân (Nam Hà) | Đắc Phật bi ký | | x | | | Tự Đức 18 (1865) | |
15 | Hướng Tân (Nam Hà) | Hướng Tân xã tự miếu bi ký | | x | | | Không rõ | Đặt ở bên phải đình Hướng Tây sau chuyển về chùa |
16 | Đông Quách (Nam Hà) | Đông Quách xã bi ký | | x | | | Khải Định nguyên niên (1916) | Đặt ở góc hè đình, bị đục 1 chữ ở tên bia |
Qua 3 đợt điền dã dài ngày tại huyện Tiền Hải vào tháng 10-1997; tháng 3-1998 và tháng 6-1998, chúng tôi đã trực tiếp đọc 16 văn bia, 24 cuốn gia phả, 2 chúc thư, trên 50 sắc phong, 2 cuốn thần tích, 3 cuốn địa bạ, hàng trăm câu đối và một số bài văn tế Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ và các vị tiên công lập làng ấp, trại, giáp.
Riêng về mảng văn bia: xem xét cụ thể 16 tấm bia (xem bảng thống kê) chúng tôi thấy tấm bia có niên đại sớm nhất nằm ở vùng đất cũ phía tây huyện. Đó là bia ghi về việc trùng tu ngôi chùa Viên Quang của làng Vũ Lăng, niên hiệu Khánh Đức nguyên niên (1649). Bia dựng muộn nhất là bia của làng Đức Cơ, tổng Tân Phong (thuộc xã Đông Cơ ngày nay) mang niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1940).
Mặc dù số lượng bia khảo sát chưa nhiều, và thường gặp bia có niên đại sau, muộn, nhưng đây lại là những tấm bia quý phản ánh những vấn đề được xem là cốt lõi của làng xã Việt Nam thế kỷ 18-19 nói chung và khu vực này nói riêng. Đó là việc tu sửa, xây dựng các công trình công cộng của làng, của tổng, như đắp đê, xây cống, làm đường, làm đình, dựng đền chùa, nhà thờ v.v… Có bia ghi về việc các chức dịhc trong làng tự đóng góp tu sửa đền chùa như bia Trùng tu chùa Viên Quang năm Tự Đức 23 (1870); có bia ghi về việc làng bán các chức tước để sửa chùa (Viên Quang tự trùng tu bi ký, Khánh Đức nguyên niên – 1649). Nhiều bia ghi về việc phân chia ruộng đất sau khai hoang, chống thiên tai, chống giặc biển, ghi nhận công lao của các vị tiên công (nguyên mộ), thứ một, tòng mộ đến lập làng, ấp từ buổi đầu. Đức Cơ bi ký cho biết tình hình phân chia ruộng đất năm 1828 – 1929 ở Tiền Hải như sau: “Từ đầu cho phép các vị nguyên mộ, tòng mộ mỗi người được cấp 1 mẫu thổ cư và 9 sào thổ ương làm thành tư điền quản nghiệp để thưởng công lao”.
Trước đây một số tác giả khi viết về chế độ ruộng đất ở Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải sau khi thành lập huyện (nửa đầu thế kỷ 19) đã cho rằng: ở Tiền Hải là chế độ công điền và ở Kim Sơn là chế độ tư điền quân cấp. Quan niệm trên chưa phản ánh được tính phong phú đa dạng và phức tạp của tình hình ruộng đất trong thực tế. Qua tài liệu văn bia kết hợp với các việc nghiên cứu địa bạ và gia phả của nhiều họ tộc trong huyện thì thấy ở Tiền Hải, ngay từ ngày đầu chế độ tư hữu đã xuất hiện song song với chế độ ruộng công. Tùy điều kiện cụ thể của từng lý, ấp, trại, giáp mà sau khẩn hoang mỗi đinh được nhận khoảng 8 – 10 mẫu ruộng công và 2 mẫu ruộng tư hoặc hơn, nhưng chia đều, không phân biệt nguyên mộ hay tòng mộ.
Tinh thần đấu tranh bền bỉ chống thiên tai, giặc biển, xây dựng làng ấp, phát triển sản xuất của nhân dân Tiền Hải được Đức Cơ bi ký ghi lại như sau: “Đến năm Minh Mệnh 13 công việc thành, dân xã còn phải nhiều phen bị nạn lụt, gió bão, nước biển tràn vào. Các vị chiêu mộ trước đây nhiều lần phải bỏ đi xiêu tán, về sau lạp thành 3 giáp, có một giáp tên là Vụ Đức nhượng lại cho quan Hàn lâm tu soạn tên là Bản, quê ở xã Đông Trung, huyện Trực Định, nay là phủ Kiến Xương để cùng hợp sức với ông nguyên mộ trước tiếp tục khai khẩn dựng làng mới”. Đoạn khác lại ghi: “Năm Quý Mùi (1883) lúc ông Nguyễn Công Thình ra làm lý trưởng, bọn giặc biển thường vào cướp phá… Ông Phan Vàng cùng người trong tổng đuổi đánh thu được 1 súng dài, 1 súng ngắn nộp lên quan. Lý trưởng được ban thưởng, ông Phan Vàng được ban khen 4 chữ “Phấn dũng hướng tiền”.
Tấm bia Hồng lưu chí ở làng Bắc Trạch ghi lại cuộc liên minh hợp tác của ba làng Bắc Trạch, Quân Trạch, Phương Trạch đắp đê chống lụt năm Quý Sửu (1913).
Bia trong đình Thanh Giám ghi rõ tên của hơn 50 vị nguyên mộ, tòng mộ, thứ mộ có công lập lý Tham Giám. Đình Vũ bi ký ở Tiểu Hoàng cho biết: Năm Tân Mão (1831) lập từ thờ phụng Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ; năm Ất Mùi (1835) lập đình. Đây là hai nơi thờ Nguyễn Công Trứ được xây dựng sớm nhất trên đất Tiền Hải. Riêng Tiền Hải kỷ niệm Nguyễn Công Trứ bia ký đã ghi nhận sự thay đổi lớn lao ở vùng đất này sau một thể kỷ: “Nhà cửa san sát, nhân vật phồn thịnh, làng xóm thanh bình, cư dân đông đúc, dâu gai trồng khắp nội đồng. Giáp, trại, ấp, lý, đường xá, cầu cừ phảng phất như phép tỉnh điền thời cổ.
Sổ đinh năm mới mộ chỉ có 2.300 suất, nay tăng lên 22.600 suất.
Sổ ruộng khi mới khẩn chỉ có 18.900 mẫu nay tăng lên 36.000 mẫu. Hơn 10 vạn dân rải khắp khu vực 8 tổng, 79 xã”.
Sau một thế kỷ, làng xã Tiền Hải đã thực sự làm một đơn vị kinh tế, một đơn vị xã hội, một đơn vị sinh hoạt văn hóa cộng đồng và tôn giáo tín ngưỡng như bất kỳ làng Việt truyền thống nào ở đồng bằng Bắc Bộ. Làng nào cũng có hương ước, tục lệ. Tìm hiểu các văn bản bia hậu có thể hình dung được tình hình đời sống kinh tế, tín ngưỡng, tập quán sinh hoạt của cư dân nơi đây ở những thời điểm khác nhau mà văn bia phản ánh.
Văn bia ở Tiền Hải còn đề cập tới những vấn đề khác nữa của làng xã như việc học, vai trò của nguyên mộ v.v…
Nhờ mảng tài liệu Hán – Nôm, chúng tôi đã làm sáng tỏ ghi chép của sử sách về những đơn vị lý, ấp, trại, giáp ở Tiền Hải.
Ở vùng đất cũ, làng xã hình thành từ sớm, thì trại, giáp thường nằm trong đơn vị làng, xã. Ở Tiền Hải, lý, ấp, trại, giáp lúc đầu là những đơn vị khẩn hoang trong đó giáp là đơn vị nhỏ nhất. Khi đặt huyện, trại, giáp không nằm trong lý, ấp mà đứng độc lập (tương đương cấp xã). Trại, giáp có lý trưởng và mộc triện. Các con dấu của các xã sau này khi nhận thực việc sao chép địa bạ, tục lệ của Trường Viễn đông bác cổ vẫn còn in rõ chữ Trại, giáp trên đó.
Qua sắc phong và các tài liệu khác chúng tôi thấy, các lý, ấp, trại, giáp vẫn giữ nguyên tên gọi, đến năm 1890 khi thành lập tỉnh Thái Bình trong các văn bản lúc đó mới thấy ghi là xã. Ví dụ: Tam Đồng giáp gọi là Tam Đồng xã, Thanh Giám lý gọi là Thanh Giám xã v.v…
Tư liệu gia phả phản ánh thành phần xuất thân, địa vị xã hội của các nguyên mộ (người đứng đầu các lý, ấp, trại, giáp sau khi thành lập huyện), đồng thời phản ánh quá trình lập làng ấp, tinh thần vượt khó, chịu đựng gian khổ của những người đi khẩn hoang. Gia phả họ Trần ở làng Kinh Xuyên (Đông Xuyên) cho biết trận bão 13 tháng 8 năm Tân Tỵ (1881) có 11 người chết. Gia phả họ Phạm ở làng Đức Cơ (bản chữ Hán, soạn năm Tự Đức 31 (Mậu Dần – 1878) do trưởng tộc Phạm Húc giữ, ghi: Gốc tổ làng Doãn Trung (Giao Thuỷ) cuối đời Lê, do đói kém dời đến ở làng Tiểu Hoàng (huyện Chân Định), sau có 1 chi về lập ấp Đức Cơ, tổng Tân Phong (nay thuộc xã Đông Cơ). Gia phả họ Tạ, họ Lê ở làng Diêm Điền (Tây Giang) cho biết họ Tạ, họ Lê đến đay nay đã 12 – 13 đời. Làng Diêm Trì, tổng Tân Phong (nay thuộc xã Tây Phong) là do cụ Mền Thước (Thần Thước) vốn là Tiên chỉ của làng Diêm Điền xuống tổ chức khai phá, được làm Trưởng mộ v.v…
Tư liệu địa bạ rất hiếm, qua 3 đợt khảo sát, chúng tôi chỉ bắt gặp 3 quyển. Nhờ tập địa bạ tổng Tân Bồi hiện được lưu giữ trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm (ký hiệu AG a6/22) kết hợp với tài liệu thực địa chúng tôi phác họa tình hình phân phối và sử dụng ruộng đất sau khai hoang ở Tiền Hải đầu thế kỷ 19. Cuốn “Điền bộ bạ” của xã Thanh Giám (vốn là Thanh Giám lý), còn 38 trang, cuối có triện mộc của lý trưởng, lập năm Thành Thái 13 (1901) cho thấy, ở giai đoạn sau, khi các làng xã tự đứng ra tổ chức khẩn hoang mở rộng đất đai thì việc phân phối ruộng đất sau khẩn hoang hoàn toàn khác với thời kỳ đầu (nhà nước trực tiếp chỉ đạo, chu cấp tiền và phương tiện khẩn hoang) ở chỗ, khẩu phần phân không đều. Tổng số 96 mẫu; chia 153 phần cho 122 suất đinh, mỗi phần 6 sào 2 khấu (mỗi khấu 36m vuông), có 4 người được nhận 3 phần, 23 người nhận 2 phần và 95 người nhận 1 phần. Như vậy, người nào bỏ vốn nhiều thì được nhận phần hơn.
Qua tài liệu địa bạ lập năm Minh Mệnh 13 (1832), chúng tôi thấy những quy định mới nhằm cải tổ bộ máy hành chính dưới triều vua Minh Mệnh (1820-1840) đã được triển khai xuống tận từng lý, ấp, trại, giáp ở Tiền Hải. Đó là việc thực hiện những qui định trong việc lựa chọn bầu lý trưởng, số lượng lý trưởng, phó lý trưởng trong từng lý, ấp, trại, giáp ở Tiền Hải - một huyện vừa mới được thành lập.
Mảng tư liệu Hán Nôm ở Tiền Hải quả thực là một nguồn tài liệu quý giá để nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống lý, ấp, trại, giáp ở Tiền Hải cũng như nghiên cứu mọi khía cạnh đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của cư dân vùng đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng này.
Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.288-297)